Báo cáo " Nhận diện đặc điểm pháp lí cơ bản của tranh chấp về chống bán phá giá trong khuôn khổ WTO " - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi
38 tạp chí luật học số 8/2011
Ths. Nguyễn Thị Thu Hiền *
rong khuụn kh WTO, tranh chp v
chng bỏn phỏ giỏ l mt trong nhng
loi tranh chp ph bin v phc tp nht,
ũi hi cỏc bờn tranh chp, c bit l cỏc
thnh viờn ang phỏt trin, trong ú cú Vit
Nam,
(1)
phi tỡm hiu v nm vng phỏp lut
ca WTO v gii quyt tranh chp núi chung
v nhng c thự trong lnh vc gii quyt
tranh chp v chng bỏn phỏ giỏ núi riờng
m trc ht, cn phi nhn din v nm rừ
nhng c im phỏp lớ c bn ca loi tranh
chp ny. ú l nhng c im v tớnh cht,
v ch th, v phm vi cỏc vn tranh chp
v phỏp lut ỏp dng trong gii quyt tranh
chp v chng bỏn phỏ giỏ ti WTO. Di
gúc lớ lun cng nh thc tin, vic nm
vng nhng c im phỏp lớ c bn ca cỏc
tranh chp v chng bỏn phỏ giỏ trong khuụn

thng mi (GATT 1994) v Hip nh v
chng bỏn phỏ giỏ (ADA).
Trc ht, tranh chp v chng bỏn phỏ
giỏ ti WTO l tranh chp gia cỏc thnh
viờn WTO, bi vy, v bn cht, nú l loi
tranh chp quc t, l s bt ng v mt
quy phm phỏp lut hoc s kin no ú
gia cỏc ch th nht nh trong quan h
quc t.
(4)
C th, i vi tranh chp v
chng bỏn phỏ giỏ trong khuụn kh WTO,
ú l s bt ng gia cỏc thnh viờn WTO
v chớnh sỏch hoc phỏp lut khụng phự hp
ca mt thnh viờn hoc liờn quan ti quyt
T
* Ging viờn Khoa phỏp lut quc t
Trng i hc Lut H Ni nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 39
định về áp dụng các biện pháp chống bán phá
giá được ban hành làm ảnh hưởng tới các
quyền và lợi ích của những thành viên khác
theo các hiệp định của WTO. Không những
thế, tranh chấp về chống bán phá giá là những
tranh chấp trong lĩnh vực chống bán phá giá
và là một trong những loại tranh chấp có thể
được giải quyết tại WTO.

quyết tranh chấp tiếp theo của giải quyết
tranh chấp trong nước về bán phá giá giữa
các doanh nghiệp được nâng lên thành tranh
chấp giữa các chính phủ.
Tranh chấp về bán phá giá, về bản chất,
là tranh chấp thương mại giữa các doanh
nghiệp xuất khẩu sản phẩm bán phá giá với
các doanh nghiệp nội địa sản xuất các sản
phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu về
việc sản phẩm nhập khẩu có dấu hiệu bán
phá giá. Để bảo vệ quyền lợi của mình,
doanh nghiệp hoặc nhóm các doanh nghiệp
có đủ điều kiện để được coi là đại diện cho
ngành sản xuất trong nước theo pháp luật về
chống bán phá giá của nước nhập khẩu có
thể đứng đơn kiện và yêu cầu cơ quan có
thẩm quyền của quốc gia mình tiến hành các
thủ tục điều tra và áp thuế chống bán phá giá
đối với hàng nhập khẩu có bán phá giá. Trên
cơ sở yêu cầu đó, cơ quan có thẩm quyền
của chính phủ nước nhập khẩu sẽ tiến hành
các thủ tục điều tra và giải quyết tranh chấp
về bán phá giá, xem xét và quyết định việc
liệu có áp dụng các biện pháp chống bán phá
giá đối với sản phẩm nhập khẩu hay không.
Theo quy định của WTO, chính phủ các
nước thành viên có thể tiến hành các hành
động để chống lại hàng nhập khẩu bán phá
giá với những điều kiện nhất định. Như vậy,
các thành viên WTO, bằng công cụ pháp luật

về chống bán phá giá chỉ có thể phát sinh sau
khi đã có tranh chấp về bán phá giá.
Rõ ràng, tranh chấp về chống bán phá giá
là loại tranh chấp thứ phát, theo đó, việc giải
quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại
WTO là giải quyết tranh chấp tiếp theo của giải
quyết tranh chấp trong nước về bán phá giá
giữa các doanh nghiệp được nâng lên thành
tranh chấp giữa các chính phủ. Bởi vậy, khi
số lượng các tranh chấp về bán phá giá cũng
như số lượng các cuộc điều tra chống bán phá
giá được khởi xướng và các biện pháp chống
bán phá giá được áp dụng gia tăng thì có thể
dẫn đến tình trạng gia tăng các tranh chấp về
chống bán phá giá. Điều này cũng đã được
chứng minh qua thực tiễn giải quyết tranh
chấp của GATT/WTO trong hơn sáu thập kỉ
qua, bên cạnh tính ưu việt của hệ thống giải
quyết tranh chấp của WTO thì cùng với sự
gia tăng của các cuộc điều tra chống bán phá
giá được khởi xướng và các biện pháp chống
bán phá giá được áp dụng,
(6)
số lượng các vụ
tranh chấp về chống bán phá giá được đưa ra
giải quyết tại WTO cũng đã ngày càng gia
tăng một cách nhanh chóng.
(7)

2.2. Đặc điểm về chủ thể

(8)
Điều này cũng tương tự với các tổ
chức phi chính phủ khác có sự quan tâm
chung tới các vấn đề được xử lí trong hệ
thống giải quyết tranh chấp của WTO.
(9)
nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 41
Như vậy, liên quan tới đặc điểm về chủ
thể, giữa tranh chấp về chống bán phá giá và
tranh chấp về bán phá giá đã có sự khác biệt
rất cơ bản, theo đó, nếu tranh chấp về chống
bán phá giá là tranh chấp giữa các chính phủ
thì tranh chấp về bán phá giá là tranh chấp
giữa các doanh nghiệp.
2.3. Đặc điểm về phạm vi các vấn đề
tranh chấp về chống bán phá giá được giải
quyết tại DSB
Trong hệ thống giải quyết tranh chấp của
WTO, sau khi các bên tranh chấp tham vấn
không thành công, nếu nguyên đơn muốn
đưa tranh chấp về chống bán phá giá ra giải
quyết tại DSB thì phạm vi các vấn đề tranh
chấp được đưa ra giải quyết tại DSB cũng
chỉ giới hạn trong bốn loại tranh chấp về
chống bán phá giá sau đây: 1) Các tranh
chấp về thuế chống bán phá giá chính thức;

đưa vụ tranh chấp về chống bán phá giá này
ra giải quyết tại WTO thì họ sẽ phải bắt đầu
lại thủ tục khởi kiện trên cơ sở tuân thủ đầy
đủ các quy định của DSU. Để hiểu rõ hơn về
quy định này, có thể lấy ví dụ về trường hợp
của Mexico trong hai vụ kiện liên tiếp về
chống bán phá giá đối với sản phẩm xi măng
portland nhập khẩu từ nước này vào
Guatemala . Trong vụ kiện đầu tiên vào năm
1996 (vụ Guatemala – Xi măng I (DS60)),
Mexico đã khởi kiện Guatemala về cuộc điều
tra chống bán phá giá mà Guatemala tiến
hành đối với xi măng portland nhập khẩu từ
Mexico vì cho rằng Guatemala đã vi phạm
các điều 2, 3, 5 và 7.1 của ADA. Vụ việc đã
được xét xử tại Ban hội thẩm, tuy nhiên, sau
đó, báo cáo của Ban hội thẩm đã bị AB bác
bỏ vì ngay từ đầu, trong đơn yêu cầu thành
lập Ban hội thẩm của Mexico vẫn chưa xác
định được “biện pháp có vấn đề”, bởi lẽ
Mexico chỉ khởi kiện Guatemala về cuộc
điều tra chống bán phá giá mà vấn đề này lại
không nằm trong phạm vi các vấn đề tranh
chấp về chống bán phá giá được giải quyết
tại DSB. Đến năm 1999, Mexico lại tiếp tục
khởi xướng vụ kiện thứ hai (vụ Guatemala –
Xi măng II (DS156)) về việc Guatemala áp
thuế chống bán phá giá chính thức đối với
sản phẩm xi măng portland xám nhập khẩu
từ Mexico. Lần này, đơn yêu cầu thành lập

trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá
giá. Các loại nguồn của pháp luật WTO áp
dụng trong giải quyết tranh chấp về chống
bán phá giá cũng được xác định tương ứng
với các loại nguồn của pháp luật WTO nói
chung.
(13)
Đối với các tranh chấp về chống
bán phá giá, việc giải quyết tranh chấp về
nội dung trước hết sẽ căn cứ vào Hiệp định
WTO, cơ bản là Điều VI của GATT 1994 và
ADA, cùng với các loại nguồn khác như tập
quán quốc tế; các nguyên tắc pháp luật
chung; thực tiễn của WTO và các báo cáo về
giải quyết tranh chấp của Ban hội thẩm và
AB; thực tiễn của GATT 1947 và các báo
cáo về giải quyết tranh chấp của Ban hội
thẩm; các tài liệu được ban hành bởi các cơ
quan WTO; các hiệp định quốc tế khác; các
học thuyết của các học giả có uy tín. Trong
khi đó, về tố tụng, việc giải quyết tranh chấp
về chống bán phá giá sẽ tuân theo DSU cùng
với những quy tắc và thủ tục đặc biệt, bổ
sung cho DSU được ghi nhận trong ADA
(14)

và các quy tắc tố tụng khác có liên quan của
WTO. Rõ ràng, pháp luật của WTO áp dụng
trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá
giá không đồng nhất với và không chỉ bao

thức trong phần chú thích của Điều 15, theo đó, tranh
chấp về chống bán phá giá được hiểu là “những tranh
chấp phát sinh giữa các bên liên quan tới các quyền
và nghĩa vụ theo Hiệp định này”. Khái niệm mang nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 43

tính khái quát cao này, sau đó, vì nhiều lí do khác
nhau, đã không còn được nêu lại trong ADA.
(4).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật
quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 385.
(5). Theo quy định tại Điều 1.1 của DSU, các quy tắc
và thủ tục của DSU “phải được áp dụng cho những
tranh chấp được đưa ra theo các quy định về tham vấn
và giải quyết tranh chấp của những hiệp định được liệt
kê trong Phụ lục 1 của thoả thuận này”. Trong Phụ lục
1 đó của DSU có liệt kê GATT 1994 và ADA.
(6). Theo bản Báo cáo năm 2009 của WTO, trong
vòng 13 năm (1995 - 2008), đã có 2.190 biện pháp
chống bán phá giá được áp dụng và các số liệu thống
kê trong những năm gần đây cũng đã cho thấy xu
hướng tăng trở lại của các vụ điều tra chống bán phá
giá được khởi xướng bởi các thành viên của WTO.
Xem thêm tại: sh/res_e/booksp
_e/anrep_e/anrep09_e.pdf và
news_e/pres09_e/pr5 56_e.htm
(7). Tính đến hết tháng 11/2010, chỉ trong gần 16 năm
tồn tại của WTO, đã có 84 vụ tranh chấp về chống

Cả hai quy định này được áp dụng đồng thời và bổ
sung cho nhau. Điều 17.4 không đặt ra thêm bất kì
yêu cầu bổ sung nào so với Điều 6.2 và bởi vậy, một
yêu cầu đã phù hợp với Điều 6.2 của DSU thì cũng
thoả mãn các yêu cầu của Điều 17.4.
(12).Xem: Báo cáo của AB, vụ Guatemala – Xi măng
I, WT/DS60/AB/R, đoạn 69, đoạn 80 và đoạn 90;
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Tranh
chấp về chống bán phá giá trong WTO, Hà Nội, 2010,
tr. 57 - 61.
(13). Nhìn chung, việc xác định các loại nguồn của
pháp luật WTO, cơ bản được dựa trên cách xác định
nguồn luật áp dụng truyền thống của Điều 38(1) của
quy chế toà án công lí quốc tế và có tính tới cả những
đặc thù của WTO. Tuy nhiên, về số lượng, tên gọi, vị
trí, vai trò của từng loại nguồn khác của pháp luật
WTO thì vẫn có những điểm khác biệt trong những
nghiên cứu của các học giả. Xem: Peter Van Den
Bosseche (2008), The Law and Policy of the World
Trade Organization: Text, Cases and Materials, 2nd
ed., Cambridge University Press, United Kingdom, tr.
53; David Palmeter, Petros C. Mavroidis (2004),
Dispute settlement in the World Trade Organization:
Practice and procedure, 2nd ed., Cambridge:
Cambridge Univ., United Kingdom, tr. 50; và Joost
Pauwelyn, The role of Public International Law in the
WTO: How far can we go?, The American Journal of
International Law, VOL. (95):3, tr. 563 - 564.
(14). Quy định từ Điều 17.4 đến 17.7 của ADA.
(15). Theo đó, trong hệ thống giải quyết tranh chấp


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status