1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƢƠNG
TRẦN VĂN KIỆM HÀNH VI NGUY CƠ LÂY NHIỄM HIV
VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP DỰ PHÒNG
TRÊN NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TÚY
TẠI QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Dịch tễ học
Mã số: 62.72.01.17
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC HÀ NỘI - 2014
2
CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƢỢC HOÀN THÀNH
: Thuốc kháng Retrovirus (Anti Retrovirus)
BCS
: Bao cao su
BKT
: Bơm kim tiêm
BTBC
: Bạn tình bất chợt
CSHQ
: Chỉ số hiệu quả
CTV
: Cộng tác viên
ĐĐV
: Đồng đẳng viên
HIV
: Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người
(Human Immuno deficiency Virus)
LTQĐTD
: Lây truyền qua đường tình dục
NCMT
: Nghiện chích ma tuý
PNMD
: Phụ nữ mại dâm
QHTD
: Quan hệ tình dục
OR
:Tỷ suất chênh (Odds Ratio)
SL
: Số lượng
STIs
: Nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục
Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Thùy Dương, Phan Trọng Lân, Nguyễn
Hoàng Long, Nguyễn Thanh Long (2014), “Hiệu quả can thiệp dự
phòng lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tại tỉnh
Quảng Nam”, Tạp chí Y học dự phòng, tập XXIV, số 4(153), tr. 106-
111.
5
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đại dịch HIV/AIDS được phát hiện năm 1981 tại Mỹ, đến
nay đã thực sự trở thành hiểm họa toàn cầu. Theo Tổ chức Liên hiệp
quốc về Phòng chống AIDS (UNAIDS), đến cuối năm 2012 trên thế
giới có 35,3 triệu người nhiễm HIV còn sống và hàng năm có
khoảng 2 triệu người tử vong do AIDS. HIV/AIDS tập trung chủ
yếu ở các nước đang phát triển và ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế,
chính trị, xã hội của nhiều Quốc gia. Ở nước ta, tính đến cuối năm
2013, số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 216.254 người,
trong đó có 66.533 bệnh nhân AIDS và 68.977 người đã tử vong do
AIDS. Hiện nay, do chưa có thuốc điều trị và vắc xin phòng bệnh đặc
hiệu nên các nước trên thế giới đang tập trung triển khai các hoạt
động dự phòng lây nhiễm mang tính chiến lược nhằm hạn chế sự lây
lan HIV ra cộng đồng. Một trong những nguyên nhân lan truyền
HIV/AIDS chủ yếu tại Quảng Nam là nhóm NCMT (chiếm trên 65%
các trường hợp nhiễm được phát hiện hàng năm); họ có hành vi nguy
1.1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS
Ở Việt Nam người nhiễm HIV/AIDS đầu tiên được phát hiện
vào tháng 12/1990 tại TP Hồ Chí Minh. Tính đến cuối năm 2013, số
các trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống ở nước ta là 216.254
người, trong đó có 66.533 người chuyển sang giai đoạn AIDS và
68.977 người đã tử vong do AIDS. Kết quả giám sát trọng điểm năm
2013 cho thấy, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT là 10,3%, cao hơn
nhiều các đối tượng nguy cơ khác như phụ nữ mại dâm (PNMD)
2,6%. Hình thái lây nhiễm HIV ở Việt Nam vẫn chủ yếu lây truyền
qua đường TCMT. Trong số các trường hợp nhiễm HIV được phát
hiện tại Quảng Nam đa số là người NCMT (chiếm gần 70%), trong đó
số thanh thiếu niên thiếu việc làm dẫn đến các tệ nạn xã hội như
NCMT ngày càng nhiều, tình trạng số người NCMT nhiễm HIV/AIDS
gia tăng khó kiểm soát và đang có nguy cơ bùng nổ dịch HIV/AIDS
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
1.2. Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở ngƣời nghiện chích ma túy
Hành vi dùng chung bơm tiêm trong khi TCMT đang là
phương thức lây nhiễm HIV chủ yếu tại nhiều nước trong khu vực và
trên thế giới. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT trên toàn cầu là 5
7
- 10%. Tuy nhiên tại một số khu vực ở các nước Châu Âu và Châu
Á, tỷ lệ này trên 50%. Hình thái, qui mô TCMT tại Việt Nam rất khác
nhau từ thành thị đến nông thôn. Trong vòng 15 năm trở lại đây, hành
vi dùng chung BKT khi tiêm chích là hành vi phổ biến ở nhóm quần
thể NCMT, tỷ lệ dùng chung BKT trong 6 tháng qua ở người NCMT
là 14 - 50%. Các nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, trong số những
người NCMT có 87% đối tượng dùng chung BKT, trong đó thường
xuyên dùng chung BKT là 40%. Việc làm sạch BKT khi chích chung
rất tùy tiện và không đảm bảo tiệt khuẩn cũng là yếu tố nguy cơ làm
Đây là chương trình được đánh giá có hiệu quả cao trong dự
phòng lây nhiễm HIV hiện nay. Do Methadone sử dụng bằng đường
uống nên những người tham gia chương trình này sẽ giảm hoặc không
còn TCMT, giảm nguy cơ lây nhiễm HIV.
1.3.5. Chương trình tư vấn, xét nghiệm tự nguyện
Chương trình tư vấn, xét nghiệm tự nguyện (TVXNTN) là
điểm khởi đầu quan trọng cho các dịch vụ chăm sóc và dự phòng
HIV/AIDS. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, chương trình này là một
bộ phận quan trọng trong chương trình phòng chống HIV/AIDS đóng
vai trò vừa dự phòng, vừa chăm sóc cho người nhiễm HIV/AIDS.
CHƢƠNG 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng điều tra cắt ngang: Nam giới từ 18 tuổi trở lên, có tiêm
chích ma tuý trong vòng một tháng qua tính từ thời điểm điều tra,
đang sống tại cộng đồng và đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu can thiệp: Người nghiện chích ma túy từ 18
tuổi trở lên đang sống tại gia đình hoặc tại cộng đồng; tự nguyện
tham gia nghiên cứu.
- Không chọn những đối tượng sau vào nghiên cứu: Những người
dưới 18 tuổi hoặc nữ giới; đang ở các trại giam, trại tạm giam, Trung
tâm Giáo dục - Lao động xã hội; những người không đủ minh mẫn.
9
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu: Năm huyện/thành phố được chọn làm
địa bàn nghiên cứu: Tam Kỳ, Phú Ninh, Thăng Bình, Quế Sơn và
Phước Sơn.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2011 đến tháng 3/2014
ngẫu nhiên (bốc thăm) các xã để tiến hành nghiên cứu.
- Thiết kế nghiên cứu can thiệp
* Trình tự can thiệp cộng đồng: Trước tiên xây dựng kế hoạch can
thiệp dự phòng lây nhiễm; sau đó lựa chọn địa điểm và tiến hành can
thiệp cộng đồng. Cuối cùng giám sát và đánh giá lại sau can thiệp.
10
*Cỡ mẫu: Áp dụng công thức so sánh tỷ lệ % hai nhóm can thiệp:
Trong đó: n cỡ mẫu tối thiểu; α = 5% thì Z
(1-α)
= 1,96; (1 – β)
là lực mẫu, (1 – β) = 90%, Z
(1-β)
= 1,28; P
1
là tỷ lệ người NCMT sử
dụng chung BKT trong vòng 6 tháng qua, tỷ lệ này trước can thiệp là
P
1
= 33,5%; P
2
tỷ lệ người NCMT dùng chung BKT mà nghiên cứu
mong muốn đạt được sau 2 năm can thiệp (giảm 10%),
P
2
=23,5%;
P
= (P
1
lệ (%) người được tuyên truyền về tiêm chích an toàn; tỷ lệ (%)
người được tuyên truyền về tình dục an toàn; tỷ lệ (%) được nhận
BKT sạch; tỷ lệ (%) được nhận BCS.
2.2.7. Các vật liệu nghiên cứu
Xét nghiệm HIV được thực hiện tại Trung tâm Phòng, chống
HIV/AIDS Quảng Nam và Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh, theo
phương cách III với các sinh phẩm được Bộ Y tế cho phép lưu hành
tại Việt Nam Determine, Genscreen HIV -1/2 version2, Vironostika
Uniform II.
2.3. Xử lý số liệu: Các số liệu được nhập, phân tích và xử lý bằng
phần mềm Epi Data, STATA và Excel.
2.5. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được sự đồng ý của Chính quyền địa phương. Đối tượng
được thông báo trước và hoàn toàn tự nguyện tham gia.
CHƢƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Tỷ lệ nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở ngƣời
nghiện chích ma tuý tại tỉnh Quảng Nam năm 2011
3.1.1. Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV
Nghiên cứu tiến hành trên 430 người NCMT tại tỉnh Quảng
Nam năm 2011. Đối tượng nghiên cứu chủ yếu dân tộc kinh (96,3%);
nhóm tuổi 20 - 29 chiếm đa số (52,8%); có học vấn trung học cơ sở
trở xuống chiếm 59,1%; đa số không có việc làm ổn định (54,4%).
Bảng 3.6. Thời gian tiêm chích ma túy (n = 430)
Thời gian
Số lƣợng
Tỷ lệ (%)
< 1 năm
51
39,1
Không nhớ
12
2,8
2. Loại ma túy đã tiêm chích (n = 430)
Hêrôin
376
87,4
Thuốc phiện
42
9,8
Ma túy tổng hợp
51
11,9
Mức độ TCMT ít hơn 1 lần/ngày chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm
39,1%), nhóm chích 1 lần/ngày: 33,0%, chích 2-3 lần/ngày: 23,5%,
trên 4 lần/ngày: (1,6%). Loại ma túy chủ yếu là Hêrôin (87,4%); ma
túy tổng hợp (11,9%).
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ dùng chung BKT trong 6 tháng qua (n = 430)
Tỷ lệ người NCMT dùng chung BKT khi TCMT trong vòng 6
tháng qua là 33,5%.
Dùng chung
BKT: 33,5%
Không dùng
chung BKT:
66,5%
13
Khác
13,9%
36,1%
41,7%
8,3%
Tỷ lệ %
14 Biểu đồ 3.8. Các hình thức làm sạch BKT (n = 43)
Nước lạnh được sử dụng nhiều nhất để làm sạch BKT
(85,6%), kế đến là súc cồn (10,3%), súc nước nóng 7,2%.
Bảng 3.10. Tần suất QHTD và hành vi dùng BCS với PNMD
Nội dung
Số lƣợng
Tỷ lệ (%)
1. Số lần QHTD trong tháng qua (n = 107)
1 - 4 lần
55
51,4
5- 9 lần
29
27,1
10 lần trở lên
23
21,5
2. Hành vi sử dụng BCS trong tháng qua (n = 107)
Có
71
Súc nước
nóng
Súc cồn
Khác
85,6%
7,2%
10,3%
4,5%
Tỷ lệ %
15
Bảng 3.11. Tần suất QHTD và hành vi dùng BCS với BTBC
Nội dung
Số lƣợng
Tỷ lệ (%)
1. Số lần QHTD trong tháng qua (n = 46)
1 - 4 lần
39
84,8
5- 9 lần
3
6,5
10 lần trở lên
4
8,7
2. Hành vi sử dụng BCS trong tháng qua (n = 46)
Có
27
58,7
Không
3.2. Hiệu quả dự phòng lây nhiễm HIV ở ngƣời nghiện chích ma
tuý tại tỉnh Quảng Nam sau 2 năm can thiệp
3.2.1. Hiệu quả về tƣ vấn xét nghiệm HIV
Biểu đồ 3.13. Hiệu quả về loại hình xét nghiệm HIV
So với trước can thiệp, tỷ lệ người NCMT đi xét nghiệm HIV
tự nguyện tăng từ 74,2% lên 88,2% với p < 0,01.
Biểu đồ 3.14. Hiệu quả tư vấn trước và sau xét nghiệm HIV
Tỷ lệ được tư vấn trước xét nghiệm tăng từ 31,8% lên 63,3%
với p<0,01 và chỉ số hiệu quả (CSHQ): 99,1%. Tỷ lệ tư vấn sau xét
nghiệm cũng tăng từ 40,2% lên 75,1% với p<0,01 và CSHQ: 86,8%.
3.2.2. Hiệu quả về chăm sóc và hỗ trợ ngƣời nghiện chích ma túy
Bảng 3.24. Hiệu quả truyền thông thay đổi hành vi (n = 430)
Chỉ số
Trƣớc can
thiệp
Sau can
thiệp
CSHQ
(%)
P
SL
(%)
SL
(%)
Tiêm chích an toàn
64
Tư vấn sau xét nghiệm
31,8%
40,2%
63,3%
75,1%
Tỷ lệ %
Trước can thiệp
Sau can thiệp
17
Sau 2 năm can thiệp, tỷ lệ được nghe, nói về tiêm chích an
toàn trong vòng 6 tháng qua đã tăng từ 14,9% lên 58,6% với p<0,01
và CSHQ: 293,8%; tỷ lệ nghe, nói về tình dục an toàn cũng tăng từ
28,1% lên 72,1% với p<0,01 và CSHQ đạt 156,2%.
Biểu đồ 3.15. Tỷ lệ người NCMT nhận được BCS miễn phí
Sau can thiệp, tỷ lệ người NCMT có hoạt động tình dục trong
vòng 6 tháng qua nhận được BCS miễn phí tăng từ 19,8% lên 58,2%,
với p < 0,01 và CSHQ là 193,9%.
Biểu đồ 3.17. Tỷ lệ người NCMT nhận được BKT sạch
Tỷ lệ người NCMT nhận được BKT sạch trong vòng 6 tháng
tăng từ 1,4% lên 32,3% với p<0,05 và CSHQ là 2.207,1%.
0%
20%
40%
60%
Trước can thiệp
Sau can thiệp
19,8%
p
SL
(%)
SL
(%)
Hiệu thuốc
392
91,2
401
93,3
2,3
0,1247
Đồng đẳng viên
58
13,5
112
26,0
93,1
<0,0001
Cộng tác viên
76
17,7
137
31,9
80,3
<0,0001
Cơ sở y tế
122
28,4
154
Tỷ lệ người NCMT dùng chung BKT trong lần tiêm chích gần đây
nhất giảm từ 5,6% trước can thiệp xuống còn 3,3% sau can thiệp,
nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, với p > 0,05.
Biểu đồ 3.23. Tỷ lệ dùng chung BKT trong tháng qua (n = 430)
Sau can thiệp, tỷ lệ người NCMT dùng chung BKT trong tháng
qua giảm từ 21,2% xuống còn 13,7%, với p<0,01 và CSHQ: 35,2%.
Biểu đồ 3.24. Tỷ lệ thay đổi hành vi dùng chung BKT
trong 6 tháng qua (n = 430)
0%
2%
4%
6%
Trước can thiệp
Sau can thiệp
5,6%
3,3%
Tỷ lệ %
0%
10%
20%
30%
Trước can thiệp
Sau can thiệp
21,2%
13,7%
Tỷ lệ %
0.0%
10.0%
71,4%
Tỷ lệ %
0.0%
20.0%
40.0%
60.0%
80.0%
100.0%
Phụ nữ mại dâm
Bạn tình bất chợt
65,4%
54,3%
87,8%
75,0%
Tỷ lệ %
Trước can thiệp
Sau can thiệp
21
BTBC cũng tăng từ 54,3% (trước can thiệp) lên 75,0% (sau can
thiệp), với p < 0,05 và CSHQ đạt 38,0%.
Biểu đồ 3.28. Tỷ lệ người NCMT thường xuyên dùng BCS
khi QHTD trong 12 tháng qua
Sau 2 năm can thiệp, tỷ lệ người NCMT thường xuyên dùng
BCS khi QHTD với PNMD trong 12 tháng qua tăng từ 65,6% lên
86,1% sau can thiệp (p<0,01 và CSHQ: 31,3%). Tỷ lệ này với BTBC
cũng tăng từ 29,2% lên 56,1% (p<0,01 và CSHQ: 92,2%).
3.2.5. Tỷ lệ nhiễm HIV ở ngƣời NCMT trƣớc và sau can thiệp
7.0%
Trước can thiệp
Sau can thiệp
6,3%
4,4%
Tỷ lệ %
22
trên địa bàn nghiên cứu. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT đã
giảm từ 6,3% (trước can thiệp) xuống còn 4,4% (sau can thiệp) với
p<0,05 và CSHQ đạt 29,6%.
CHƢƠNG 4
BÀN LUẬN
4.1. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của
ngƣời nghiện chích ma tuý tại tỉnh Quảng Nam
4.1.1. Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV
Kết quả điều tra năm 2011 cho thấy, thời gian tiêm chích ở người
NCMT trong nghiên cứu này không dài. Thời gian TCMT trên 2 năm
chiếm tỷ lệ 73,7%, dưới 2 năm chiếm tỷ lệ 26,3%. Kết quả nghiên cứu
chúng tôi thấp hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu ở các tỉnh khác với tỷ
lệ tương ứng: trên 2 năm là 82,5% ở Đồng Tháp, 94,5% ở Kiên Giang và
96,4% ở Lai Châu. Qua điều tra chúng tôi nhận thấy có nhiều thanh niên
trẻ tuổi mới sa vào nghiện ngập, họ thường không có nghề nghiệp, bị bạn
bè quyến rũ, thích đua đòi, thích tìm cảm giác lạ đã sa vào nghiện ma túy,
chúng tôi gọi là “nhóm Amateur”. Nhóm người này có nguy cơ lây
nhiễm rất cao bỡi họ không chỉ có hành vi TCMT mà còn mạnh mẽ trong
QHTD. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những người NCMT trong thời
gian đầu có ham muốn tình dục mãnh liệt do khoái cảm mà chất ma túy
gây ra. Nhưng 1,5-2 năm sau, ham muốn QHTD giảm mạnh và bị lấn át
dụng BCS khi QHTD, đây là tín hiệu tốt trong việc cải thiện hành vi
sử dụng BCS khi QHTD. Tuy nhiên, tỷ lệ thường xuyên dùng BCS
khi QHTD với PNMD và với BTBC trong 12 tháng qua còn thấp, tỷ
lệ này tương ứng là 65,5% và 29,2%. Điều này cho thấy nguy cơ lây
nhiễm HIV rất cao từ những người NCMT nhiễm HIV sang PNMD,
BTBC do QHTD không an toàn và ngược lại.
4.1.2. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV của người nghiện chích ma tuý
Kết quả tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu năm 2011, tỷ lệ nhiễm
HIV của nhóm NCMT là 6,3%. Tỷ lệ này thấp hơn so với toàn quốc
năm 2011 (13,4%) và nhiều tỉnh ở 2 miền Nam, Bắc. Nhưng so với
các tỉnh lân cận cùng khu vực, tỷ lệ này trong nghiên cứu chúng tôi
lại cao hơn. Cụ thể, kết quả điều tra IBBS vòng II năm 2009, tỷ lệ
nhiễm HIV ở người NCMT tại Đà Nẵng là 1,0%. Nghiên cứu của
Trần Kim Phụng tại Quảng Trị năm 2010, tỷ lệ này là 3,9%. Kết quả
24
giám sát phát hiện tại Quảng Nam cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV rất cao
trong người NCMT, chiếm 65,8% tổng số các trường hợp nhiễm HIV
được phát hiện trong 5 năm trở lại đây. Nghiên cứu này cũng phản ánh
đúng thực trạng đường lây nhiễm HIV ở Việt Nam chủ yếu trong nhóm
NCMT, biểu hiện qua các số liệu về giám sát trọng điểm từ năm 1996
đến nay.
4.2. Hiệu quả dự phòng lây nhiễm HIV ở nhóm ngƣời nghiện
chích ma tuý tại tỉnh Quảng Nam
4.2.1. Hiệu quả về tƣ vấn, xét nghiệm HIV
Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau 2 năm can thiệp, tỷ lệ người
NCMT tự nguyện đi xét nghiệm HIV tăng từ 74,2% lên 88,2%, sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01. Tỷ lệ người NCMT được
tư vấn trước xét nghiệm tăng từ 31,8% lên 63,3% với p<0,01 và chỉ
số hiệu quả (CSHQ) là 99,1%. Tỷ lệ người NCMT được tư vấn đúng
viên, cộng tác viên tăng lên rõ rệt: Từ đồng đẳng viên, tỷ lệ này tăng
từ 1,4% (trước can thiệp) lên 38,4% (sau can thiệp); Từ cộng tác
viên, tỷ lệ này tăng từ 2.5% (trước can thiệp) lên 40,9% (sau can
thiệp). Hầu hết người NCMT đều biết nơi có thể nhận hoặc mua
BCS, kể cả trước và sau can thiệp. Tuy nhiên, tỷ lệ người NCMT biết
được nơi mua/nhận BCS từ đồng đẳng viên tăng từ 13,5% trước can
thiệp lên 26,0% sau can thiệp (p < 0,01 và CSHQ: 93,1%); từ cộng
tác viên, tỷ lệ này tăng từ 17,7% lên 31,9% (p < 0,01 và CSHQ:
80,3%). Như vậy, việc bố trí các dịch vụ tại xã/phường rõ ràng đã
gần gũi, thân thiện hơn đối với người NCMT. Kết quả đánh giá sau 2
năm can thiệp của Ngân hàng Phát triển Châu Á: những can thiệp đã
làm thay đổi nhận thức cộng đồng đối với người nhiễm HIV. Tỷ lệ
người nhiễm nhận được hỗ trợ của cộng đồng đã tăng rõ rệt so với
điều tra cơ bản (từ 46,7% lên 79,1%), số người nhận được BCS,
BKT trong 6 tháng qua tăng lên nhanh chóng.
4.2.4. Hiệu quả thay đổi hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của
ngƣời nghiện chích ma túy
Hành vi dùng chung BKT là chỉ số quan trọng đánh giá hiệu
quả các biện pháp can thiệp trong nhóm NCMT. Ở nghiên cứu chúng
tôi, tỷ lệ người NCMT dùng chung BKT trong 6 tháng qua đã giảm
từ 33,5% năm 2011 xuống còn 22,6% năm 2014, với p<0,01 và
CSHQ đạt 32,6%. Tương tự, tỷ lệ này trong một tháng qua giảm từ