Đề + Đáp án thi HS giỏi Ngữ văn 9 (2012-2013) - Pdf 25

TRƯỜNG THCS CLC
DƯƠNG PHÚC TƯ
HUYỆN VĂN LÂM
ĐỀ THI KHẢO SÁT HỌC SINH GIỎI TỈNH
Năm học 2012-2013
Môn: Ngữ Văn – LỚP 9
Thời gian làm bài: 150 phú
Câu 1: (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 13 đến 15 câu) nêu cảm nhận của em sau khi đọc phần
trích sau:
"Mùa xuân của tôi - mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội - là mùa xuân có
mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo
vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng
Đẹp quá đi, mùa xuân ơi - mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt
thương mến. Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng giêng,
Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhuỵ vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh
như cuối đông, đầu giêng, nhưng trái lại, lại nức một mùi hương man mác."
(Mùa xuân của tôi - Trích: "Thương nhớ mười hai" - Vũ Bằng)
Câu 2: (3,0 điểm)
Từ truyện sau:
“ Một vị vua treo một giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất
về “ sự bình yên”. Nhiều họa sĩ đã trổ tài. Nhà vua ngắm tất cả các bức tranh nhưng
chỉ thích có hai bức và ông phải chọn lấy một.
Bức tranh thứ nhất vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ bởi vì có
những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây
trắng mịn màng. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là một bức
trang bình yên thật hoàn hảo.
Bức tranh thứ hai cũng có những ngọn núi, nhưng những ngọn núi này trần trụi
và lởm chởm đá. Ở bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút kèm theo sấm chớp.
Đổ xuống bên vách núi là dòng thác nổi bọt trắng xóa. Bức tranh này trông chẳng bình
yên chút nào.

thiên nhiên trong sáng, tràn đầy hương vị và sức sống của đất trời xứ Bắc.  (0,25 đ)
- Đoạn 1: Tác giả gợi tả những nét đẹp của thiên nhiên đất trời lúc vào xuân ở
Miền Bắc nước ta. Đó là vẻ đẹp của tiết trời mùa xuân có khí lạnh của "mưa riêu riêu,
gió lành lạnh", có âm thanh của vạn vật và cuộc sống con người: "tiếng nhạn kêu trong
đêm xanh, tiếng trống chèo, câu hát huê tình ". Không khí mùa xuân như đang tràn
ngập khắp đất trời miền Bắc.  (0,5 đ)
- Đoạn 2: Nhà văn tập trung miêu tả nét riêng của thiên nhiên, của không khí mùa
xuân sau ngày rằm tháng giêng. Đó là những phát hiện và cảm nhận vẻ đẹp đất trời vào
xuân với sự hồi sinh của vạn vật, cỏ cây trổ lộc, đơm hoa kết trái: "Đào hơi phai nhưng
nhuỵ còn phong, cỏ không mướt xanh nhưng nức mùi hương man mác ". Thiên nhiên
không sôi động, rực rỡ mà như đang cựa mình, đang tích tụ sức sống mùa xuân để tiếp
nối cuộc tuần hoàn kì diệu trong đời sống con người và cảnh vật. Vẻ đẹp mùa xuân
khiến lòng người không ghìm được xúc động phải thốt lên: "Đẹp quá đi, mùa xuân
ơi Tôi yêu mùa xuân nhất là ". Đó là tình yêu mến, say đắm "rạo rực niềm vui sáng
sủa" khi xuân về. Đó cũng là tình yêu cuộc sống, yêu con người, khát khao gắn bó với
quê hương, với thiên nhiên đất Bắc của tác giả.  (0,75 đ)
2. Nghệ thuật: (0,5 điểm)
- Giọng văn nhẹ nhàng, sâu lắng, tràn đầy cảm xúc.
- Cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh chọn lọc, tiêu biểu.
- Nghệ thuật so sánh mới lạ, độc đáo; những câu văn dài góp phần làm rõ vẻ đẹp
của mùa xuân miền Bắc, khơi dậy tình yêu thiên nhiên, lòng thương nhớ quê hương,
lòng yêu Tổ quốc của nhà văn Vũ Bằng.
B- Thang điểm:
- Điểm 2: Đáp ứng được các yêu cầu nêu trên, văn viết có cảm xúc, diễn đạt trong sáng.
- Điểm 1: Hiểu ý nhưng cảm nhận chưa sâu, diễn đạt chưa thật lưu loát.
- Điểm 0: Bài viết sai lệch cả về nội dung và hình thức.
Câu 2: (3,0 điểm)
1
I. Yêu cầu về kĩ năng:
- Trình bày dưới dạng bài văn nghị luận xã hội về một quan niệm sống. Sử dụng

- Bố cục rõ ràng; kết cấu chặt chẽ; diễn đạt lưu loát, mạch lạc.
- Không mắc các lỗi: chính tả, dùng từ, ngữ pháp,…
II. Nội dung:
Phân tích hai bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”của Nguyễn
Khoa Điềm và “Con cò” của Chế Lan Viên trong quan hệ đối sánh để làm rõ những
khám phá nghệ thuật và cách thể hiện cảm xúc trữ tình của mỗi nhà thơ trong việc thể
hiện hình tượng người mẹ. Với đề bài này, cần đảm bảo những ý cơ bản sau:
1. Nét chung:
- Hai bài thơ cùng khắc hoạ hình tượng người mẹ mang vẻ đẹp của người phụ nữ
Việt Nam trong thời đại mới: giàu lòng yêu thương, yêu con, yêu quê hương đất nước;
có tinh thần lao động cần cù; lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng.
- Cả hai bài đều vận dụng sáng tạo chất liệu ca dao, dân ca.
2. Nét riêng:
2.1. Về nội dung:
2
- Hình ảnh thơ:
+ Bài “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”: Miêu tả bà mẹ Tà – ôi địu
con tham gia kháng chiến. Hình ảnh người mẹ hiện lên gắn với những công việc vất vả
thường ngày trong kháng chiến như giã gạo, tỉa bắp, chuyển lán, đạp rừng Tình yêu
thương con thắm thiết được thể hiện tự nhiên mà sâu sắc qua những khúc ru. Trong cả
bài thơ, tình cảm đó ngày càng phát triển, hoà quyện với tình yêu bộ đội, tình thương
dân làng và tình yêu đất nước. Đây là hình ảnh có tính sáng tạo độc đáo, chân thực cụ
thể, làm nổi bật vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ.
+ Bài “Con cò”: Dựng lên hình ảnh người mẹ với tấm lòng yêu thương con bao
la. Mẹ là tâm hồn quê hương, là bàn tay chở che ấp ủ, là điểm tựa nâng đỡ cuộc đời con.
Hình tượng người mẹ được tác giả miêu tả gắn liền với từng đoạn đường đời của mỗi
con người. Tình mẹ gửi vào cánh cò và từng câu hát ru ngọt ngào tha thiết.
- Về cảm xúc trữ tình:
+ Bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” được viết năm 1971, khi
tác giả đang tham gia chiến đấu ở chiến trường. Nhà thơ đã được chứng kiến tận mắt

- Điểm 4,0  5,0: Đáp được những yêu cầu nêu trên, luận điểm đầy đủ rõ ràng,
văn viết có cảm xúc, phân tích, chứng minh tốt, làm nổi bật được trọng tâm, diễn đạt
trong sáng, có thể còn vài sai sót nhỏ.
- Điểm 3,5  4,5: Cơ bản đáp ứng được những yêu cầu nêu trên, làm rõ được
trọng tâm song phân tích bình luận có chỗ chưa sâu, còn mắc một số lỗi dùng từ, diễn
đạt.
- Điểm 2,0  3,0: Bài làm tỏ ra hiểu đề tuy nhiên năng lực cảm thụ, phân tích
tổng hợp còn hạn chế; dẫn chứng chưa thật đầy đủ phong phú, bình luận chưa sâu,
nhưng vẫn làm rõ được các ý. Còn mắc lỗi chính tả, dùng từ, diễn đạt.
- Điểm 1,0  1,5: Bài làm thể hiện được luận điểm nhưng chưa lấy được dẫn
chứng, chỉ bàn luận chung chung, chưa làm nổi bật yêu cầu của đề. Hoặc những bài làm
chưa hình thành được luận điểm chỉ đơn thuần phân tích một vài tác phẩm liên quan
đến vấn đề nghị luận.
- Điểm 0,5: Không hiểu đề, chỉ bàn luận chung chung không đúng yêu cầu của
đề hoặc sai lạc cả nội dung và phương pháp.
{-{-{
4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status