Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê vào thị trường EU của tổng cty cà phê việt Nam - Pdf 25

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước
Việt Nam. Chủ trương này được khẳng định trong văn kiện đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII và trong nghị quyết 01NQ/TW của Bộ Chính trị với mục tiêu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH –
HĐH) hướng về xuất khẩu. Để thực hiện chủ trương của Đảng cùng với việc đẩy
mạnh tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và giúp Việt Nam bắt
kịp được với tiến trình toàn cầu hoá và hội nhập, chúng ta cần phải tăng cường
mở rộng thị trường xuất khẩu.
Hiện nay EU đã và đang là đối tác quan trọng, một thị trường lớn có khả
năng tiêu thụ nhiều hàng hoá, sản phẩm của Việt Nam. Các mặt hàng xuất khẩu
chủ lực của Việt Nam cũng chính là những mặt hàng mà thị trường này có nhu
cầu nhập khẩu hàng năm với khối lượng như giầy dép, thuỷ hải sản, cà phê…
Trong đó mặt hàng cà phê là một trong những mặt hàng nông sản quan trọng
nhất được bán rộng rãi trên thị trường EU. Khả năng xuất khẩu cà phê của Việt
Nam vượt xa hai loại đồ uống là chè và ca cao. Vì vậy đẩy mạnh xuất khẩu hàng
hoá nói chung và đẩy mạnh xuất khẩu cà phê nói riêng vào thị trường EU là một
việc làm cấp thiết đối với nước ta hiện nay. Tuy nhiên để làm được điều này
Việt Nam cần tập trung nghiên cứu tìm cách giải quyết các vướng mắc, cản trở
hoạt động xuất khẩu sang EU và tìm ra các giải pháp căn bản để đẩy mạnh xuất
khẩu cà phê.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc xuất khẩu cà phê vào thị trường
EU trong thời gian thực tập tại Tổng Công ty cà phê Việt Nam được sự giúp đỡ
nhiệt tình của ban lãnh đạo Công ty đặc biệt là phòng kinh doanh tổng hợp cùng
với sự hướng dẫn tận tình của thầy cô giáo tôi xin chọn đề tài: "Một số giải
pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê vào thị trường EU của Tổng Công ty cà phê
Việt Nam" làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mục đích nghiên cứu: Trên góc độ lý thuyết luận văn phân tích vai trò

nhanh chóng lan ra Trung Cận Đông.
Đến đầu thế kỉ XVI cà phê bắt đầu xuất hiện ở châu Âu và lan dần sang
Châu Á, châu Đại Dương. Năm 1857 cây cà phê được các nhà truyền đạo công
giáo đưa vào trồng ở Việt Nam, trước hết được trồng ở một số nhà thờ ở Hà
Nam, Quảng Bình... Sau đó được trồng ở đồn điền vùng Trung Du Bắc Bộ và
Bắc Trung Bộ. Từ đó diện tích cà phê ngày càng được mở rộng.
Từ năm 1994- nay cây cà phê Việt Nam, đặc biệt là cà phê vối phát triển
rất nhanh và đạt kết quả trên nhiều mặt. Hiện nay cà phê là mặt hàng nông sản
xuất khẩu đứng thứ 2 ở nước ta. Có thể nói trong ngành nông nghiệp hiện nay,
cà phê chỉ đứng sau lúa gạo và có chỗ đứng vững chắc trở thành ngành sản xuất
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
1.2. Chủng loại cà phê ở Việt Nam
Như chúng ta đã biết trên thế giới có hơn 70 loại cà phê khác nhau nhưng
người ta chủ yếu gieo trồng 2 nhóm cà phê chính là cà phê vối (Robusta), cà phê
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chè (Arabica) nhờ vào ưu điểm về năng xuất và chất lượng ngoài ra còn dựa vào
đặc điểm thích nghi của từng loại cây.
* Cà phê vối thích hợp với khí hậu khô ráo, nắng ấm, nhiệt độ thích hợp
nhất là 24-26
0
C, độ cao khoảng 600-2000m, mật độ từ 1200 -1500 cây/ha. Cà
phê Robusta có hình quả trứng hoặc hình tròn, quả chín có màu thẫm, vỏ cứng
và thường chín từ tháng 2. Đặc biệt cây cà phê này không ra hoa kết quả tại các
mắt của cành. Nhân hơi tròn, to ngang, vỏ lụa màu ánh lâu bạc. Loại cà phê này
được trồng nhiều nhất ở Châu Phi và Châu Á trong đó Việt Nam và Indonesia là
hai nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới.
* Cà phê Arabica ưa khí hậu mát mẻ có khả năng chịu rét, thường được
trồng ở độ cao trên dưới 200m. Arabica có nhiều tàn lá, hình trứng hoặc hình
lưỡi mác. Quả của loại cà phê chè có hình quả trứng hoặc hình tròn, có màu đỏ

này đều có ở Việt Nam. Điều này tạo cho Việt Nam lợi thế mà các nước khác
không có được.
- Lợi thế về nhân công:
Việt Nam với dân số 80 triệu người trong đó 49% là trong độ tuổi lao
động. Đây là đội ngũ lao động khá dồi dào, cung cấp cho các mọi hoạt động
trong nền kinh tế quốc dân. Sản xuất cà phê xuất khẩu là một quá trình bao gồm
nhiều công đoạn, bắt đầu từ khâu nghiên cứu chon giống, gieo trồng khâu chăm
sóc, thu mua, chế biến, bảo quản, bao gói , xuất khẩu. Quá trình này đòi hỏi một
đội ngũ lao động khá lớn. Đặc biệt ở Việt Nam thì việc ứng dụng máy móc vào
việc, sản xuất chế biến cà phê chưa nhiều vì thế lợi thế về nhân công có thể giúp
nước ta giảm rất nhiều chi phí cho sản xuất cà phê xuất khẩu từ đó có thể hạ giá
thành giúp cho Việt Nam có thể cạnh tranh được về giá so với các nước trên thế
giới.
Theo dự tính thì việc sản xuất cà phê xuất khẩu thu hút khá nhiều lao
động: 1 ha cà phê thu hút từ 120.000- 200.000 lao động. Riêng ở nước ta hiện
nay có khoảng 700.000 – 800.000 lao động sản xuất cà phê, đặc biệt vào thời
điểm chăm sóc, thu hoạch con số này lên đến hơn 1 triệu người. Như vậy với
nguồn lao động dồi dào như nước ta hiện nay có thể cung cấp một lượng lao
động khá đông đảo cho ngành cà phê.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Năng suất cà phê: Cà phê Việt Nam có năng suất khá cao: Nếu như năng
suất cà phê bình quân trên thế giới là 0.55 tạ/ ha, Châu Á là 0.77 tạ/ ha thì ở
Việt Nam đạt tới 1.2- 1.3 tấn/ ha. Từ năm 2000- 2004, năng suất bình quân đạt 2
tấn/ ha, có năm đạt 2,4 tấn/ ha. Năng suất cao này chính là do Việt Nam có
nhiều giống tốt, có các yếu tố thuận lợi về đất đai khí hậu, đặc biệt người Việt
Nam có kinh nghiệm lâu năm trong việc gieo trồng cà phê.
- Người dân Việt Nam có đức tính chịu khó cần cù, có tinh thần học hỏi
tiếp thu khoa học công nghệ để áp dụng vào trồng và chế biến cà phê xuất khẩu.
Điều này cũng là lợi thế trong việc tạo ra một nguồn hàng cho cà phê xuất khẩu.

Điều này đã thúc đẩy và khuyến khích các nước sản xuất cà phê xuất khẩu.
- Về chi phí sản xuất cà phê xuất khẩu: chi phí sản xuất cà phê xuất khẩu
của Việt Nam thấp hơn so với các nước trồng cà phê xuất khẩu khác. Chi phí
bình quân của Việt Nam là 650- 700 USD/ tấn cà phê nhân. Nếu tính cả chi phí
chế biến thì giá thành cho một tấn cà phê xuất khẩu là 750- 800 USD. Trong khi
đó chi phí sản xuất của Ấn Độ là 1,412 triệu USD/ tấn cà phê chè, 926,9 USD/
tấn đối với cà phê vối. Chi phí sản xuất rẻ là điều kiện thuận lợi để hạ giá thành,
tăng sức cạnh tranh cho mặt hàng cà phê của Việt Nam trên thị trường thế giới.
- Việt Nam đã ra nhập ICO, sẽ tham gia tổ chức hiệp hội các nước sản
xuất cà phê (ACPC) và các tổ chức quốc tế khác có liên quan. Việt Nam đã tăng
cường hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học công nghệ và phát triển nguồn
nhân lực. Điều này có thể giúp cho Việt Nam có điều kiện để học hỏi, trao đổi
kinh nghiệm trong sản xuất, chế biến cà phê đồng thời mở rộng được giao lưu
trao đổi mặt hàng cà phê với các nước trong khu vực và thế giới.
- Về thị trường xuất khẩu cà phê: thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam
ngày càng mở rộng, một số sản phẩm cà phê chất lượng cao như cà phê Trung
Nguyên, Vinacafe, Nam Nguyên, Thu Hà,… đã có thương hiệu và đứng vững
trên thị trường khu vực và thế giới.
Về quy hoạch: Việt Nam đã xây dựng, quy hoạch nhiều vùng trồng cà phê
để xuất khẩu, cho năng suất cao, chất lượng tốt như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ
và một số tỉnh Miền Trung. Đây là một lợi thế lớn để tạo ra một nguồn hàng
phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu cà phê
2. Vị trí của ngành cà phê trong nền kinh tế quốc dân
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là
mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng thứ 2 về kim ngạch sau gạo. Chính vì thế
ngành cà phê đã có một vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân.
2.1. Vị trí của cà phê đối với ngành nông nghiệp nước ta
- Ngành cà phê góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong ngành nông

Vì thế đẩy mạnh qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các vùng nơi có cây cà
phê phát triển. Điều này góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá hiện đại
hoá trong nông nghiệp nông thôn.
- Ngành cà phê đã góp phần rất lớn vào nguồn thu ngân sách nhà nước.
Hàng năm ngành cà phê đem về cho đất nước từ 1- 1,2 tỷ USD/ năm chiếm 10%
kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Góp phần giải quyết công ăn việc làm cải thiện đời sống nhân dân:
3. Vai trò xuất khẩu cà phê trong nền kinh tế quốc dân
Hiện nay xu thế toàn cầu hoá và hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ như vũ
bão trên phạm vi toan thế giới, lôi cuốn rất nhiều nước trên thế giới tham
gia.Việt Nam cũng không thể nằm ngoài vòng xoáy này và đang nỗ lực hết sức
để có thể hoà mình vào tiên trình này một cách nhanh nhất. Hoạt động xuất nhập
khẩu sẽ là cầu nối hết sức quan trọng để đẩy nhanh tiến trình này. Chính vì vậy
mà hoạt động xuất khẩu ngày càng trở nên quan trọng trong chính sách và chiến
lược phát triển kinh tế của Việt Nam.
Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực ở nước ta. Phát
triển sản xuất cà phê xuất khẩu sẽ đóng góp vai trò lớn đối với nền kinh tế nước
ta. Ta đi xem xét vai trò của việc xuất khẩu cà phê đối với nền kinh tế Việt Nam.
3.1. Vai trò tích cực của xuất khẩu cà phê
3.1.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công
nghiệp hoá đất nước
Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất
yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta. Để thực hiện
công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải có nguồn vốn rất lớn để
nhập khẩu máy móc trang thiết bị, kĩ thuật, công nghệ tiên tiến và trình độ quản
lí của nước ngoài. Nguồn vốn để nhập khẩu có thể lâý từ: đầu tư nước ngoài,
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vay nợ thu từ hoạt động du lịch, xuất khẩu mặt hàng khác. Tuy nhiên các nguồn
vốn vay, vốn đầu tư từ nước ngoài đều phải trả bằng cách này hay cách khác.

vượt quá nhu cầu tiêu thụ nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và
chậm phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng. Nếu chỉ
thụ động chờ ở sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé và tăng
trưởng chậm chạp. Sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế rất chậm chạp.
Hai là, coi thị trường và đặc biệt thị trường thế giới là hướng quan trọng
để tổ chức sản xuất. Quan điểm này xuất phát từ nhu cầu thế giới để tổ chức sản
xuất. Điều này có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy
sản xuất phát triển.
Đối với ngành cà phê thì sản xuất cà phê của Việt Nam với sản lượng lớn,
nhu cầu tiêu dùng nội địa rất hạn hẹp do Việt Nam có truyền thống trong việc
thưởng thức trà. Vì vậy trên thị trường Việt Nam sẽ xẩy ra tình trạng cung cà
phê vượt quá cầu cà phê do đó phải đẩy mạnh xuất khẩu. Tuy nhiên Việt Nam
lai không coi cà phê là sản phẩm ế thừa cần xuất khẩu mà xuất phát từ thị
trường thế giới ngày càng tiêu dùng nhiều cà phê hơn. Do đó thị trường thế giới
luôn là mục tiêu cho các doanh nghiệp sản xuất cà phê. Điều này góp phần
chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nước ta và thúc đẩy sản xuất phát triển.
Thể hiện :
- Trước hết sản xuất cà phê xuất khẩu sẽ kéo theo hàng loạt các ngành
kinh tế phát triển theo như các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp chế
tạo máy móc, thúc đẩy các ngành xây dựng cơ bản như xây dựng đường xá,
trường, trạm thu mua cà phê , … Ngoài ra còn kéo theo hàng loạt các ngành dịch
vụ phát triển theo như : dịch vụ cung cấp giống cây trồng, thuốc bảo vệ thực vật,
ngân hàng, cho thêu máy móc trang thiết bị,… Điều này góp phần làm chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng xuất khẩu.
- Xuất khẩu cà phê tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần
cho sản xuất phát triển và ổn định. Hoạt động xuất khẩu gắn với việc tìm kiếm
thị trường xuất khẩu, do đó khi xuất khẩu thành công tức là khi đó ta đã có được
một thị trường tiêu thụ rộng lớn. Điều này không những tạo cho Việt Nam có
được vị trí trong thương trường quốc tế mà còn tạo cho Việt Nam chủ động
11

12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sản xuất cà phê xuất khẩu sẽ thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và
có thu nhập cao và thường xuyên. Với một đất nước có 80 triệu dân, lực lượng
người trong tuổi lao động khá cao chiếm khoảng 50% thì việc phát triển cà phê
sẽ góp phần thu hút một đội ngũ lao động rất lớn làm giảm gánh nặng về thất
nghiệp cho đất nước. Giúp người dân ổn định đời sống giảm các tệ nạn xã hội.
Đồng thời giúp người dân có thu nhập cao đây là điều kiện để họ tiếp thu khoa
học công nghệ kỹ thuật, hoà nhập được với sự phát triển của thế giới.
3.1.4. Xuất khẩu cà phê là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh
tế đối ngoại của nước ta.
Xuất khẩu là hoạt động đổi buôn bán với nước ngoài do đó khi xuất khẩu
sẽ có điều kiện giúp cho quốc gia đó có được nhiều mối quan hệ với các nước
khác. Hiện nay ta đã xuất khẩu cà phê vào 53 quốc gia trên thế giới, điều này
giúp cho Việt Nam có được nhiều mối quan hệ hợp tác phát triển. Đây là điều
kiện quan trọng để Việt Nam có được các quan hệ hợp tác đa phương và song
phương đẩy nhanh tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam.
Bên cạnh đó, cây cà phê phát triển góp phần phục hồi môi trường sinh
thái, phủ xanh đất trống đồi trọc sau thời gian bị suy thoái nghiêm trọng do bị
tàn phá của thiên nhiên cùng sự huỷ hoại do chính bàn tay con người.
3.2. Những vấn đề tiêu cực của xuất khẩu cà phê
Vấn đề đặt ra lớn nhất đặt ra trong xuất khẩu cà phê Việt Nam hiện nay là
tính bền vững chưa cao. Những năm gần đây, tuy sản lượng xuất khẩu tăng
nhanh nhưng giá cả không ổn định nên kim ngạch xuất khẩu tăng chậm hoặc
giảm sút. Vấn đề này có liên quan đến sản xuất, chế biến và xuất khẩu trong đó
tính tự phát trong sản xuất dẫn đến cung vượt cầu, công việc chế biến bảo quản
sau thu hoạch chưa đáp ứng được yêu cầu tăng sản lượng và nâng cao chất
lượng, thị trường xuất khẩu cà phê chưa ổn định.
3.2.1. Sản xuất cà phê thiếu quy hoạch và kế hoạch: tình trạng tự phát,
manh mún không gắn với thị trường diễn ra phổ biến dẫn hậu quả cung vượt

giai đoạn hội nhập với thị trường thế giới.
II. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG EU
1. Vài nét về quá trình phát triển Liên minh EU
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ý tưởng về một Châu Âu thống nhất đã xuất hiện từ rất sớm. Năm 1923
Bá tước người áo sáng lập ra "Phong trào liên Âu" nhằm đi tới thiết lập " Hợp
chủng quốc Châu Âu" để làm đối trọng với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Năm
1929, Ngoại trưởng Pháp đưa ra đề án thành lập: Liên minh Châu Âu nhưng đều
không thành. Mốc lịch sử đánh đấu sự hình thành EU lúc đó là bản: "Tuyên bố
Schuman" của bộ trưởng Ngoại giao Pháp vào ngày 9/5/1950 với đề nghị đặt
toàn bộ nền sản xuất than, thép của Cộng hoà liên bang Đức và Pháp dưới một
cơ quan quyền lực chung trong một tổ chức mở cửa để các nước Châu Âu khác
cùng tham gia. Do đó Hiệp ước thành lập cộng đồng than thép Châu Âu đã được
ký kết ngày 18/4/1951 . Và đây là tổ chức tiền thân của EU ngày nay. Ban đầu
liên minh Châu Âu gồm 15 quốc gia độc lập về chính trị. Năm 2004 Liên minh
Châu Âu đã trở thành khu vực kinh tế lớn thứ 2 thế giới sau Mỹ với 25 thành
viên sau khi đã kết nạp thêm 10 thành viên mới ngày 1/5/2004. Với thị trường
trên 455 triệu người, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) lên tới khoảng 10 nghìn tỷ
Euro. Hàng năm EU chiếm 20% thị phần thương mại thế giới và đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Theo số liệu thống kê của IMF, khối kinh tế này thu hút trên 53%
hàng nhập khẩu của thế giới trong đó 72,5% là hàng nông sản xuất khẩu của các
nước đang phát triển.
2. Đặc điểm của thị trường EU
Thị trường chung EU là một không gian lớn gồm 25 nước thành viên mà
ở đó hàng hoá, sức lao động, vốn và dịch vụ được lưu chuyển hoàn toàn tự do
giống như khi chúng ta ở trong một thị trường quốc gia. Thị trường chung gắn
với chính sách thương mại chung. Nó điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu và lưu
thông hàng hoá, dịch vụ trong nội khối.
2.1. Tập quán tiêu dùng và kênh phân phối

EU là theo tập đoàn và không theo tập đoàn.
Kênh phân phối theo tập đoàn có nghĩa là các nhà sản xuất và nhà nhập
khẩu của tập đoàn chỉ cung cấp hàng hoá cho hệ thống cửa hàng và siêu thị của
tập đoàn mà không cung cấp hàng cho hệ thống bán lẻ của hệ thống khác.
Kênh phân phối không theo tập đoàn thì ngược lại, các nhà sản xuất và
nhập khẩu của tập đoàn này ngoài việc cung cấp hàng hoá cho hệ thống bán lẻ
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
của tập đoàn mình còn cung cấp hàng hoá cho hệ thống bán lẻ của tập đoàn khác
và các công ty bán lẻ độc lập.
Cà phê Việt Nam tham gia thị truờng EU thường theo kênh phân phối
không theo tập đoàn. Vì các doanh nghiệp Việt Nam thường la doanh nghiệp
nhỏ và vừa chưa có đủ tiềm lực để điều chỉnh cả hệ thống các doanh nghiệp
nhập khẩu cà phê của EU.
2.2. Các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng của EU
Một đặc điểm nổi bật trên thị trường EU là quyền lợi của người tiêu dùng
rất được bảo vệ khác hẳn với thị trường các nước đang phát triển. Để đảm bảo
quyền lợi cho người tiêu dùng EU tiến hành kiểm tra các sản phẩm ngay từ nơi
sản xuất và có hệ thống báo động giữa các thành viên, đồng thời bãi bỏ việc
kiểm tra các sản phẩm ở biên giới. Hiện nay EU có 3 tổ chức định chuẩn: Uỷ
ban Châu Âu về định chuẩn, Uỷ ban Châu Âu về định chuẩn điện tử, Viện định
chuẩn viễn thông Châu Âu. Tất cả các sản phẩm chỉ có thể bán được ở thị
trường này với điều kiện phải đảm bảo tiêu chuẩn an toàn chung của EU, các
luật và định chuẩn quốc gia được sử dụng chủ yếu để cấm buôn bán sản phẩm
được sản xuất ra từ các nước có điều kiện chưa đạt mức an toàn ngang với tiêu
chuẩn EU. Để đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng EU tích cục tham gia chống
nạn hàng giả bằng cách không cho nhập khẩu những sản phẩm đánh cắp bản
quyền, ngoài ra EU còn đưa ra các chỉ thị kiểm soát từng nhóm hàng cụ thể về
chất lượng và an toàn đối với người tiêu dùng.
Đối với nhóm mặt hàng nông sản khi nhập khẩu vào thị trường EU, phải

nếu có được quan hệ tốt với thị trường truyền thống, sẽ là điều kiện thuận lợi để
thâm nhập vào thị trường mới dẽ dàng hơn.
2.3.2. Chính sách ngoại thương
Chính sách ngoại thương được xây dựng trên nguyên tắc: Không phân
biệt đối xử, minh bạch, có đi có lại và cạnh tranh công bằng. Các biện pháp
được áp dụng phổ biến trong chính sách này là thuế quan, hạn chế về số lượng,
hàng rào kỹ thuật , chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu. Hiện nay Việt Nam
chưa gia nhập WTO nên chưa được hưởng ưu đãi từ tổ chức này. Vì vậy EU vẫn
cò những quy định riêng cho Việt Nam, như quy định hạn ngạch, thuế nhập
khẩu cao nên khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt các hàng rào
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
về kỹ thuật, như độ an toàn thực phẩm, vệ sinh thực phẩm. Đó lá khó khăn mà
doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần vượt qua.
2.4. Tình hình nhập khẩu của EU trong những năm gần đây
Liên minh EU có nền ngoại thương lớn thứ hai thế giới sau Mỹ, là thị
trường xuất khẩu lớn nhất và thị trường nhập khẩu lớn thứ hai thế giới. Hàng
năm EU nhập khẩu một khối lượng từ khắp các nước trên thế giới. Kim ngạch
nhập khẩu không ngừng gia tăng: từ 622,48 tỷ USD năm 1994 lên tới 757,85 tỷ
USD năm 1997 và gần 900 tỷ USD năm 2004. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu
của EU là nông sản chiếm 11,79% trong đó có chè, cà phê, gạo,...khoáng sản
17,33%, máy móc 24,27%, thiết bị vận tải chiếm trên 8,9%, hoá chất 7,59%, các
sản phẩm chế tạo khác 27,11% trong tổng kim ngạch nhập khẩu. Năm 2004
quan hệ kinh tế Việt Nam- EU tiếp tục phát triển cả về bề rộng và chiều sâu.
Tổng kim ngạch buôn bán hai chiều đạt gần 11 tỷ USD trong đó xuất khẩu của
Việt Nam sang EU chiếm trên 4,5 tỷ USD trong đó cà phê chiếm 10% trong
tổng kim ngạch. Dự báo tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam- EU năm
2005 đạt 14 tỷ USD tăng 27% so với năm 2004. Kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam sang EU dự báo đạt 6 tỷ USD.
Riêng mặt hàng cà phê , EU nhập khẩu từ nhiều nước trên thế giới như

EU của Việt Nam đứng thứ 2 trên thế giới về cà phê vối sau Indonesia. Nếu tính
chung toàn lượng cà phê mà thị trường EU nhập khẩu thì Việt Nam chiếm
khoảng 22% thị phần của EU sau Brazin 28 % và Indonesia 25 %. Tuy nhiên
phần lớn ta xuất khẩu cà phê vối, mà hiện nay EU lại có nhu cầu lớn về cà phê
chè. Do vậy trong một vài năm tới Việt Nam cần nâng cao khả năng xuất khẩu
cà phê chè vào thị trường này. Có như vậy thì mới có khả năng giữ được thị
phần trên thị trường EU
3. Các phương thức xuất khẩu cà phê vào thị trường EU
Có nhiều phương thức mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể áp dụng để
thâm nhập vào thị trường EU như : xuất khẩu qua trung gian, xuất khẩu trực
tiếp, liên doanh, đầu tư trực tiếp.
- Xuất khẩu qua trung gian: là phương thức mà phần lớn các doanh nghiệp
xuất khẩu cà phê Việt Nam áp dụng để thâm nhập vào thị trường EU trước kia.
Khi đó thị trường EU còn rất mới mẻ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
của Việt Nam. Hiện nay phương thức xuất khẩu này không còn phổ biến đối với
tất cả các doanh nghiệp Việt Nam nữa vì các doanh nghiệp Việt Nam đã có được
quan hệ trực tiếp với từng nước, như vậy không mất thêm chi phí cho nước
trung gian.
- Xuất khẩu trực tiếp: là phương thức chính thâm nhập vào thị trường EU
của Việt Nam hiện nay. Các doanh nghiệp Việt Nam kí hợp đồng trực tiếp với
các nhà nhập khẩu EU phần lớn thông qua các văn phòng đại diện của Việt Nam
tại EU. Phương thức này hiện nay rất phổ biến do hiện nay các doanh nghiệp dễ
dàng nắm bắt thông tin về thị trường, hiểu được nhu cầu của các nước nhập
khẩu.
- Liên doanh có thể dưới hình thức sử dụng giấy phép nhãn hiệu hàng hoá.
Hình thức liên doanh này đem lại thành công cho các doanh nghiệp khi thâm
nhập vào thị trường EU vì người tiêu dùng EU có thói quen sử dụng những sản
phẩm có nhãn hiệu nổi tiếng chất lượng là yếu tố quyết định tiêu dùng đối với

các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu cà phê vào thị trường này. Đây là cơ hội
để các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam tìm kiếm thị trường lớn cho
mình.
- Thị trường EU có yêu cầu lớn, đa dạng và phong phú về mặt hàng cà
phê như chất lượng cà phê, mẫu mã cà phê, hương vị cà phê, độ an toàn của mặt
hàng cà phê...Vì thế tạo cho Việt Nam có một phương cách làm sao để sản phẩm
đáp ứng yêu cầu. Do đó nâng cao trình độ tay nghề cho người sản xuất, nâng cao
trình độ quản lý trong việc chế biến, kinh doanh xuất khẩu cà phê.
- EU là một liên minh nhiều nước có chính sách thương mại chung, có
đồng tiền thanh toán chung. Do đó hàng hoá xuất khẩu sang bất cứ quốc gia nào
cũng tuân theo chính sách chung đó. Như vậy sẽ dễ dàng thuận lợi hơn rất nhiều
so với việc xuất khẩu sang từng nước có chính sách thương mại riêng.
4.2. Những khó khăn
- EU gồm 25 thành viên, sẽ có 25 nền văn hoá khác nhau. Mặc dù là một
thị trường chung tuy nhiên mỗi quốc gia lại có một sự thưởng thức cà phê khác
nhau đòi hỏi có nhiều loại cà phê khác nhau. Làm sao dung hoà được thị trường
đó là một điều hết sức khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- EU là một thành viên trong tổ chức Thương mại thế giới có chế độ nhập
khẩu cà phê chủ yếu dựa trên nguyên tắc của tổ chức này. Hiện nay Việt Nam
chưa là thành viên của WTO do đó chưa được hưởng quy chế ưu đãi từ tổ chức
này. Đó là khó khăn lớn cho Việt Nam .
- EU là một thị trường có mức thu nhập cao lại có chính sách bảo vệ
người tiêu dùng chặt chẽ do đó đặt ra những rào cản về kỹ thuật rất lớn. Có thể
nói đây là một thị trường rất khó tính vì thế để xuất khẩu thành công vào thị
trường này doanh nghiệp xuất khẩu cà phê phải vượt qua các hàng rào về kỹ
thuật. Điều này rất khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê vì năng lực
tài chính còn nhỏ, điều kiện áp dụng khoa học kỹ thuật chưa nhiều. Hơn nữa cà
phê chủ yếu là sản xuất phân tán, chưa có mọtt định chuẩn chung trong việc

thuộc môi trường vĩ mô. Mỗi quốc gia có hệ thống chgính trị khác nhau, có nền
văn hoá khác nhau, có hệ thống pháp luật khác nhau, có chính sách kinh tế khác
nhau. Điều đó buộc bất kì một đơn vị kinh doanh quốc tế nào cũng phải nghiên
cứu thật kĩ lưỡng.
1.1. Nhân tố pháp luật
Bao gồm hệ thống các luật tác động đến hoạt động xuât khẩu. Mỗi quốc
gia có một hệ thống luật pháp khác nhau vì thế có những quy định khác nhau về
các hoạt động xuất khẩu.
Đối với xuất khẩu cà phê chịu anh hưởng các yếu tố sau:
- Các quy định về thuế, giá cả, chủng loại cà phê, khối lượng cà phê nhập
khẩu…Việt Nam hiện naychưa được hưởng ưu đãi từ tổchức WTO, nên vẫn
chịu mức thuế cao. Vì thế khó khăn cho việc giảm giá thành để cạnh tranh với
đối thủ.
- Các quy định về chế độ sử dụng lao động, tiền lương, tiền thưởng, bảo
hiểm phúc lợi…Ngành cà phê thu hút đội ngũ lao động khá lớn, bao gồm nhiều
đối tượng khác nhau. Vì vậy đòi hỏi chính sách tiền lương cũng đa dạng, thuỳ
theo từng đối tượng tham gai vào từng công đoạn của sản xuất cà phê xuất khẩu.
Với người dân trồng cà phê phải có chính sách cụ thể về giá cả, về chính sách
bảo hộ, giúp họ yên tâm hơn trong sản xuất. Với đội ngũ cán bộ tham gia công
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tác xuất khẩu cà phê thì phải có chế độ tiền lương phù hợp, ngoài ra cung cấp
các trang bị cần thiết để họ nắm bắt được thông tin thị trường thế giới.
- Các quy định về giao dịch hợp đồng xuất khẩu cà phê như: giá cà phê,
số lượng cà phê, phương tiện vận tải sử dụng trong giao dịch xuất khẩu cà phê…
Thông thường ta tính theo giá FOB tại cảng Sài Gòn khi giao hợp đồng xuất
khẩu, phương tiện chủ yếu là tàu chở contener.
- Các quy định về tự do mậu dịch hay xây dựng các hàng rào quan thuế
chặt chẽ. Việt Nam không được hưởng quy định về mậu dịch tự do vì ta không
là thành viên trong tổ chức này, hơn nưa Việt Nam chưa là thành viên của WTO.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status