1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH
VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Cạnh tranh
Tuy cạnh tranh là vấn đề phổ biến và được nghiên cứu từ rất lâu, nhưng cho
đến nay trên thế giới vẫn chưa có khái niệm thống nhất về năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp. Do vậy, để đưa ra khái niệm này một cách có căn cứ, cần điểm lại một
số lý thuyết về năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trên thế giới và trong
nước.
1.1.1 Khái niệm về lý thuyết cạnh tranh doanh nghiệp và quan niệm về
cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩa
quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia. Việc nghiên cứu hiện tượng cạnh
tranh đã từ rất sớm với các các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ
điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại.
Có thể tóm lược một số nội dung cơ bản về lý thuyết cạnh tranh trong điều
kiện kinh tế thị trường hiện nay như sau:
- Cạnh tranh là hiện tượng phổ biến mang tính tất yếu, là một quy luật cơ bản
trong nền kinh tế thị trường.
- Cạnh tranh có tính chất hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực. Cạnh
tranh là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động hiệu
quả hơn trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả vì sự sống còn và
phát triển của mình. Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có nguy cơ dẫn đến cạnh
tranh, giành giật, khống chế lẫn nhau… tạo nguy cơ gây rối loạn và thậm chí
đổ vỡ lớn. Để phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, cần duy trì
môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và kiểm soát độc quyền, xử lý
cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh.
2
- Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh chuyển từ quan điểm đối kháng sang
cạnh tranh trên cơ sở hợp tác, cạnh tranh không phải là khi nào cũng đồng
nghĩa với việc tiêu diệt lẫn nhau, triệt hạ nhau. Trên thực tế, các thủ pháp cạnh
cao hơn... để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng.
• Người tiêu dùng được hưởng những sản phẩm hay dịch vụ tốt hơn với giá
thành hợp lý.
Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong muốn
về mặt xã hội cũng như kinh tế.
• Làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, gây ra hiện
tượng độc quyền, làm phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo.
• Dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật
hay bất chấp pháp luật.
Vì lý do trên, cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các
định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước.“Bên cạnh đó, cần thay đổi tư duy cạnh
tranh từ đối đầu sang hợp tác cùng có lợi. Hãy xem Trung Quốc, khi Tập đoàn Wall
Mart vào Trung Quốc giành thị phần, các doanh nghiệp Trung Quốc đành là người
cung cấp đầu vào, tuy nhiên đến nay chiếm trên 60% sản phẩm hàng hoá của Wall
Mart ở các siêu thị trên thế giới là hàng Trung Quốc, như vậy Trung Quốc đã lợi
dụng Tập đoàn Wall Mart để "cõng" hàng hoá của Trung Quốc ra bên ngoài… Vì
vậy, bài học ở đây là Việt Nam phải vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, trong hợp tác có
cạnh tranh, trong cạnh tranh có hợp tác, đó là cách ứng xử thông minh”
1
1
TS. Nguyễn Đăng Doanh - Nguồn: Lao động
4
1.2 Năng lực cạnh tranh
1.2.1. Khái quát tiến trình phát triển lý thuyết năng lực cạnh tranh doanh
nghiệp
Cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng
đã được nghiên cứu từ rất lâu. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh và việc nghiên cứu
năng lực cạnh tranh một cách có hệ thống lại bắt đầu khá muộn và chỉ mới từ những
năm 1980 đến nay. Theo kết quả tổng hợp các công trình nghiên cứu về năng lực
định thông số tác động tới các hoạt động thực tiễn của doanh nghiệp, nhấn
mạnh tới mặt cầu của hàng hóa, dịch vụ, coi trọng yếu tố ngoài giá hơn yếu tố
giá cả. Tuy nhiên, cách tiếp cận này không chú trọng đúng mức tới lý luận về
năng lực cạnh tranh, chưa chú ý tới các yếu tố tác động năng lực cạnh tranh
như vai trò của Nhà nước hay chính sách.
- Trường phái quản lý chiến lược được coi là mô hình khá mạnh nghiên cứu về
năng lực cạnh tranh, làm rõ nguồn lực bảo đảm cho năng lực cạnh tranh.
Một số nhà nghiên cứu đã có những công trình nghiên cứu công phu về năng
lực cạnh tranh. Chẳng hạn như Momaya (2002), Ambastha và cộng sự (2005), hoặc
các tác giả người Mỹ như Henricsson và các cộng sự (2004)… đã hệ thống hóa và
phân loại các nghiên cứu và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo 3
loại: nghiên cứu năng lực cạnh tranh hoạt động, năng lực cạnh tranh dựa trên khai
thác, sử dụng tài sản và năng lực cạnh tranh theo quá trình.
Năng lực cạnh tranh hoạt động là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh tranh
chú trọng vào những chỉ tiêu cơ bản gắn với hoạt dộng kinh doanh trên thực tế như:
thị phần, năng suất lao động, giá cả, chi phí v.v… Theo những chỉ tiêu này, doanh
nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là những doanh nghiệp có các chỉ tiêu hoạt động
kinh doanh hiệu quả, chẳng hạn như năng suất lao động cao, thị phần lớn, chi phí sản
xuất thấp…
6
Năng lực cạnh tranh dựa trên tài sản là xu hướng nghiên cứu nguồn hình
thành năng lực cạnh tranh trên cơ sở sử dụng các nguồn lực như nhân lực, công nghệ,
lao động. Theo đó, các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là những doanh
nghiệp sử dụng các nguồn lực hiệu quả như nguồn nhân lực, lao động, công nghệ,
đồng thời có lợi thế hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực này.
Năng lực cạnh tranh theo quá trình là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh
tranh như các quá trình duy trì và phát triển năng lực năng lực cạnh tranh. Các quá
trình bao gồm: quản lý chiếc lược, sử dụng nguồn nhân lực, các quá trình tác nghiệp
(sản xuất, chất lượng…).
Theo thống kê trong nghiên cứu của Momaya và các cộng sự 2005 thì hướng
lực cạnh tranh doanh nghiệp. Dưới đây là một số cách quan niệm về năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp đáng chú ý.
Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng
thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện
nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các đối
thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp.
Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự
tấn công của doanh nghiệp khác. Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực cạnh
tranh của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa
và dịch vụ trên thị trường thế giới… Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế có trích dẫn
khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ điển Thuật Ngữ chính sách thương mại
(1997), theo đó, năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị
doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan niệm về năng lực cạnh tranh
như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng.
Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Theo Tổ chức
Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức
sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả
làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Theo M. Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh
8
tranh. Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và
nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh
tranh. Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh
tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu (2005) cũng có ý kiến tương tự: “Năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra
năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra
thu nhập cao và phát triển bền vững”.
Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với
doanh nghiệp như sau:
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng
cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu
hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền
vững.
Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính
tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh
nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp.
1.2.3 Các yếu tố tác động khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Cũng như bản thân doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu
tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau. Theo mô hình Kim cương của M. Porter có
thể thấy, có ít nhất 6 nhóm yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp,
điều kiện cầu (thị trường), điều kiện yếu tố (nguồn lực đầu vào), các ngành cung ứng
và liên quan (cạnh tranh ngành), các yếu tố ngẫu nhiên và yếu tố nhà nước. Tuy
nhiên, có thể chia các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
10
làm hai nhóm: các yếu tố bên trong doanh nghiệp và các yếu tố bên ngoài doanh
nghiệp.
1.2.3.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Có nhiều yếu tố bên trong doanh nghiệp tác động tới năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp. Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đang sử dụng các chỉ tiêu thuộc 5
nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp trong việc xác định năng lực cạnh tranh gồm:
năng lực quản lý (triết lý kinh doanh, sự tin tưởng vào quản lý nghiệp vụ, sự hiện
diện chuỗi giá trị), chất lượng nhân lực (mở rộng đào tạo nhân viên), năng lực
marketing (định hướng khách hàng, đổi mới mẫu mã, tăng cường tiếp thị, mở rộng
thị trường quốc tế, kiểm soát hoạt động phân phối ở nước ngoài, mở rộng mạng lưới
bán lẻ), khả năng đổi mới, năng lực nghiên cứu và phát triển (chỉ tiêu cho nghiên cứu
và phát triển).
Theo cách tiếp cận truyền thống, các yếu tố bên trong của doanh nghiệp ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh gồm: năng lực tổ chức quản lý của doanh nghiệp,
ngắn hạn và dài hạn và do đó có tác động mạnh tới việc nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp.
b. Trình độ thiết bị, công nghệ
Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Công nghệ phù hợp cho phép rút ngắn thời
gian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm,
nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh đối với sản phẩm của doanh
nghiệp. Công nghệ còn tác động đến tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, nâng cao
trình độ cơ khí hóa, tự động hóa của doanh nghiệp.
12
c. Trình độ lao động trong doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp, lao động vừa là yếu tố đầu vào vừa là lực lượng trực tiếp
sử dụng phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Lao động
còn là lực lượng tham gia tích cực vào quá trình cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quá
trình sản xuất và thậm chí góp sức vào những phát kiến và sáng chế… Do vậy, trình
độ của lực lượng lao động tác động rất lớn đến chất lượng và độ tinh xảo của sản
phẩm, ảnh hưởng lớn đến năng suất và chi phí của doanh nghiệp. Đây là một yếu tố
tác động trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Để nâng cao sức cạnh
tranh, doanh nghiệp cần chú trọng bảo đảm cả chất lượng và số lượng lao động, nâng
cao tay nghề của người lao động dưới nhiều hình thức, đầu tư kinh phí thỏa đáng,
khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình quản lý, sáng chế, cải tiến…
d. Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khả năng
huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính… trong doanh
nghiệp. Trước hết, năng lực tài chính gắn với vốn – là một yếu tố sản xuất cơ bản và
là một đầu vào của doanh nghiệp. Do đó, sử dụng vốn có hiệu quả, quay vòng vốn
nhanh… có ý nghĩa rất lớn trong việc làm giảm chi phí vốn, giảm giá thành sản
phẩm. Đồng thời, vốn còn là tiền đề đối với các yếu tố sản xuất khác.
Việc huy động vốn kịp thời nhằm đáp ứng vật tư, nguyên liệu, thuê nhân
công, mua sắm thiết bị, công nghệ, tổ chức hệ thống bán lẻ… Như vậy, năng lực tài
nghiên cứu và phát triển (R&D), khả năng đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp. Năng
lực nghiên cứu và phát triển có vai trò quan trọng trong cải tiến công nghệ, nâng cao
chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã, nâng cao năng suất, hợp lý hóa sản xuất.
14
g. Yếu tố liên quan đến mức độ cạnh tranh lĩnh vực kinh doanh của doanh
nghiệp, vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp tham gia cạnh
tranh
Vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp cùng loại khẳng định mức
độ cạnh tranh của nó trên thị trường. Doanh nghiệp nào lựa chọn lĩnh vực có mức độ
cạnh tranh càng thấp thì càng thuận lợi, vì vậy, hiểu biết thị trường để quyết định
kinh doanh ở lĩnh vực có mức độ cạnh tranh thấp là yếu tố quan trọng dẫn đến sự
thành công và mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong môi trường
cạnh tranh lành mạnh sẽ có tác dụng thúc đẩy doanh nghiệp nhiều hơn là môi trường
độc quyền.
Vị thế của doanh nghiệp được thể hiện qua thị phần sản phẩm so với sản phẩm
cùng loại, uy tín thương hiệu sản phẩm đối với người tiêu dùng, sự hoàn hảo của các
dịch vụ và được đo bằng thị phần của các sản phẩm dịch vụ đó trên thị trường.
Ngoài ra, một số yếu tố khác nhau như lợi thế về vị trí địa lý, ngành nghề kinh
doanh của doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp… có ảnh hưởng tới năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp.
1.2.3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Có rất nhiều nhân tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) dựa trên mô hình Kim cương của M.Porter
để đưa ra các yếu tố bên ngoài tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
dưới tiêu đề môi trường kinh doanh của doanh nghiệp” với 56 chỉ tiêu cụ thể (các chỉ
tiêu này được lượng hóa để xếp hạng cho các quốc gia) thuộc 4 nhóm yếu tố như sau:
Một là, các điều kiện yếu tố đầu vào, gồm 5 phân nhóm: kết cấu hạ tầng vật
chất – kỹ thuật; hạ tầng hành chính, nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, thị trường tài
chính.
Hai là, các điều kiện về cầu: sở thích của người mua, tình hình pháp luật về
Trong điều kiện thị trường lành mạnh và ổn định thì doanh nghiệp mới có điều
kiện thuận lợi để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Ngoài ra, cần tạo điều kiện
thuận lợi cho việc gia nhập thị trường, tạo ra nhiều nhà cung cấp cũng như nhiều đối
tác kinh doanh, nhiều khách hàng cho doanh nghiệp.
b. Thể chế, chính sách
Thể chế, chính sách là tiền đề quan trọng cho hoạt động của doanh nghiệp.
Nội dung của thể chế, chính sách bao gồm các quy định pháp luật, các biện pháp hạn
chế hay khuyến khích đầu tư hay kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ, ngành nghề,
địa bàn… Thể chế, chính sách bao gồm pháp luật, chính sách về đầu tư, tài chính,
tiền tệ, đất đai, công nghệ, thị trường… nghĩa là các biện pháp điều tiết cả đầu vào và
đầu ra cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy, đây là nhóm
yếu tố rất quan trọng và bao quát rất nhiều vấn đề liên quan tới hoạt động của doanh
nghiệp nói chung và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng.
Các thể chế, chính sách đối với doanh nghiệp có thể được đánh giá theo từng
chính sách hoặc bằng chỉ tiêu tổng hợp với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Chẳng
hạn, để đánh giá việc thực hiện thể chế, chính sách đối với các doanh nghiệp ở Việt
Nam, Quỹ Châu Á và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tiến
hành nghiên cứu đánh giá môi trường kinh doanh với 9 chỉ tiêu thành phần: về đăng
ký kinh doanh, chính sách đất đai, tình hình thanh tra – kiểm tra, chính sách phát
triển, tính minh bạch, chi phí giao dịch, năng động của chính quyền.
17
c. Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng bao gồm hạ tầng vật chất – kỹ thuật và hạ tầng xã hội, bao
gồm hệ thống giao thông, mạng lưới điện, hệ thống thông tin, hệ thống giáo dục –
đào tạo… Đây là tiền đề quan trọng, tác động mạnh đến hoạt động của doanh nghiệp,
ảnh hưởng đến chất lượng và giá cả của sản phẩm. Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF)
đã sử dụng tới tiêu chí phản ánh kết cấu hạ tầng trong tổng số 56 tiêu chí đánh giá về
môi trường kinh doanh được sử dụng để tính năng lực cạnh tranh quốc gia.
Để bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động bình thường và nâng cao năng lực
cạnh tranh, cần có hệ thống kết cấu hạ tầng đa dạng, có chất lượng tốt. Điều đó đòi
tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách
riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên
cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên
năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối
tác của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của
khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh.
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất
cả những yêu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và
có hạn chế về mặt khác; vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này
và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất
những đòi hỏi của khách hàng. Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh
nghiệp, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những
lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và
định lượng. Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh
vực khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau.
Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh
của một doanh nghiệp bao gồm: giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm và
bao gói; kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng; thông tin và xúc tiến thương
19
mại; năng lực nghiên cứu và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp; trình
độ lao động; thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần; vị thế
tài chính; năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp hiện nay, thông qua phương pháp so sánh trực tiếp các yếu
tố nêu trên để đánh giá năng lực cạnh tranh của mình so với đối tác cạnh tranh. Đây
là phương pháp truyền thống và phần nào phản ánh được năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.
Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là không cho phép doanh nghiệp đánh
giá tổng quát năng lực cạnh tranh của mình với đối tác cạnh tranh mà chỉ đánh giá
được từng mặt, từng yếu tố cụ thể. Để khắc phục nhược điểm trên, việc nghiên cứu
vận dụng các mô hình đánh giá các yếu tố môi trường nội bộ và đánh giá mức độ ảnh
khách hàng. Vai trò của Nhà nước là thông qua các chính sách vĩ mô tác động vào cả
bốn “mặt” của “viên kim cương” sao cho chúng cùng phát triển tương xứng, đồng bộ
và hỗ trợ lẫn nhau tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực
cạnh tranh trên thương trường quốc tế
1.2.4.2 Ma trận SWOT
21
SWOT là viết tắt của 4 chữ: Strength - điểm mạnh, Weaknesses - điểm yếu,
Opportunities - cơ hội, Threatens - đe doạ.
Ma trận SWOT là ma trận cho phép Việt Nam đánh giá điểm mạnh, điểm yếu
của công ty và ước lượng những cơ hội, nguy cơ của môi trường kinh doanh bên
ngoài, để từ đó có sự phối hợp giữa khả năng của công ty với tình hình môi trường.
Nếu doanh nghiệp có một ma trận SWOT phân tích kỹ lưỡng và chính xác, công ty
có thể nâng cao sức cạnh tranh qua việc phát huy hiệu quả năng lực bên trong của
mình song song việc nắm bắt tốt các cơ hội cũng như xác định các thách thức trong
thời gian tới. Trái lại, khi doanh nghiệp không thể có được sự chính xác trong đánh
giá thị trường bằng mô hình này, doanh nghiệp sẽ không có những phản ứng kịp thời
trước những biến động từ bên ngoài và không phát huy hết các nguồn lực sản xuất
bên trong, từ đó dễ dẫn đến những sai lầm to lớn cho doanh nghiệp.
Ma trận SWOT có tác dụng giúp doanh nghiệp xây dựng và phát triển 4 loại
chiến lược sau để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình:
- Các chiến lược điểm mạnh – cơ hội (S – O): Sử dụng những điểm mạnh bên
trong để tận dụng cơ hội bên ngoài.
- Các chiến lược điểm yếu – cơ hội (W – O): Cải thiện những điểm yếu bên trong
để tận dụng cơ hội bên ngoài.
- Các chiến lược điểm mạnh – đe dọa (S – T): Sử dụng các điểm mạnh để tránh
khỏi hay giảm bớt ảnh hưởng của mối đe dọa bên ngoài.
- Các chiến lược điểm yếu – nguy cơ (W – T): Cải thiện điểm yếu bên trong để
tránh hay giảm bớt ảnh hưởng của mối đe dọa bên ngoài.
Hình 1.2: Mô hình ma trận SWOT
22
trước những biến động trên thị trường thế giới. Trong điều kiện tiềm lực đất nước có
hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường
chưa nhiều thì đây là khó khăn không nhỏ.
Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ
môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền.
Như vậy, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế vừa
có cơ hội lớn, vừa phải đối đầu với thách thức không nhỏ. Cơ hội tự nó không biến
thành lực lượng vật chất trên thị trường mà tùy thuộc vào khả năng tận dụng cơ hội
của Việt Nam. Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tác động của nó đến đâu còn
tùy thuộc vào nỗ lực vươn lên của Việt Nam. Cơ hội và thách thức luôn vận động,
chuyển hóa; và thách thức đối với ngành này có thể là cơ hội cho ngành khác phát
triển.
Thành tựu to lớn sau 20 năm đổi mới, quá trình chuyển biến tích cực trong
cạnh tranh và hội nhập kinh tế những năm vừa qua, cùng với kinh nghiệm và kết quả
của nhiều nước gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới trước Việt Nam, cho Việt
Nam niềm tin vững chắc rằng: Việt Nam hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội, vượt qua
thách thức. Có thể có một số doanh nghiệp khó khăn, thậm chí lâm vào cảnh phá sản
nhưng phần lớn các doanh nghiệp sẽ trụ vững và vươn lên, nhiều doanh nghiệp mới
sẽ tham gia thị trường và toàn bộ nền kinh tế sẽ phát triển theo mục tiêu và định
hướng của Việt Nam.
1.3.3 Tác động của WTO đối với doanh nghiệp Việt Nam
Theo ông Trần Quốc Khánh, Vụ trưởng Vụ Chính sách Thương mại, WTO
được diễn tả tóm tắt bằng những cụm từ: “công khai hóa”, “minh bạch hóa”, “không
phân biệt đối xử” và “mở cửa thị trường” để thúc đẩy cạnh tranh”. Những cụm từ này
diễn tả được cơ hội và thách thức của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt
Nam nói chung và mỗi doanh nghiệp nói riêng. Nhiều doanh nghiệp đã sẵn sàng
24
nhưng cũng không ít doanh nghiệp băn khoăn bởi chưa rõ điều gì sẽ xảy ra sau khi
Việt Nam gia nhập WTO.
thời gian dài hơn. Quy mô bình quân trong ngành cũng là yếu tố quan trọng, bởi các
doanh nghiệp lớn thường khó thay đổi hơn các doanh nghiệp nhỏ. Ngoài ra, nếu tỷ
trọng doanh nghiệp quốc doanh trong một ngành nào đó quá lớn thì ngành đó có thể
cần thời gian chuyển đổi dài hơn ngành khác; bởi doanh nghiệp quốc doanh thường
phải xử lý nhiều vấn đề hơn doanh nghiệp tư nhân khi chuyển đổi, trong đó có cả vấn
đề xã hội.