Sưu tầm bởi:
www.daihoc.com.vnCuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân ta nửa cuối thế kỷ
XIX
I.Âm mưu xâm lược Việt Nam của Pháp. Tình hình Việt Nam phong
kiến giữa TK 19
1.1.1. Pháp âm mưu thôn tính Việt Nam từ lâu
Sau các cuộc phát kiến địa lí lớn ở thế kỉ XV và XVI, chủ nghĩa Tư bản và
các nước phương Tây được xác lập và đẩy mạnh các cuộc xâm lăng thuộc
địa. Việc cướp đoạt châu Mỹ và phương Đông trong thế kỉ XVI đã làm cho
Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha trở thành các quốc gia giầu mạnh nhất Sang thế kỉ
XVII, Hà Lan mạnh lên, cũng đến Hội An (1636) và Phố Hiến lập thương
điếm. Để gây thanh thế và ảnh hưởng ở Việt nam, Hà lan đã can thiệp vào
cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn, giúp Trịnh đánh Nguyễn (1642-1643)
nhưng việc không thành.
Đầu thế kỉ XVIII người Anh có mặt ở Phố Hiến, Thăng Long. Đến đầu thế kỷ
XIX (1802) Anh cho quân chiếm đảo Côn lôn, phái binh lính người Mã Lai
(Ma-lai-xi-a) đến đóng giữ. Năm 1803, binh lính Mã Lai đã phối hợp với
viên quan trấn thủ người Việt Nam nổi dậy tiêu diệt quân Anh, lấy lại đảo.
Trong cuộc chạy đua sang phương Đông, tư bản Pháp ngày càng chú ý tới
Việt nam thông qua các tài liệu của Hội truyền giáo hải ngoại Pháp cũng như
• Ở Đàng Trong, một số giáo sĩ dưới sự chỉ đạo của Bá đa lộc (Pignau de
Béhaine), người đã từng phụ trách một chủng viện ở Hòn Đất (Kiên giang),
vẫn lén ở lại miền Tây đất Gia Định. Nhờ vậy sau khi chúa Nguyễn bị phong
trào nông dân Tây Sơn đánh đổ, giám mục Bá Đa Lộc đã nảy ra ý đồ giúp
Nguyễn Phúc Ánh với hy vọng đi trước các nước châu Âu khác, chiếm lấy
Việt Nam nhằm khuếch trương thế lực công giáo.
Về phần mình,sau khi đã cầu cứu phong kiến Xiêm, để cho quân Xiêm tàn
phá đất Việt Nam từ Hà Tiên, Rạch Giá đến Vĩnh Long rồi quân Xiêm bị
Nguyễn Huệ tiêu diệt ở Rạch Gầm - Xoài Mút (Định Tường), năm 1785
Nguyễn Ánh đã quay sang cầu xin bọn thực dân Tây Âu giúp đỡ.Tại thời
điểm đó, chẳng những Pháp mà còn cả Anh, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban
Nha đều có phái nhân viên đến liên lạc với Nguyễn Ánh, đề nghị được ”viện
trợ”. Bản thân Nguyễn Ánh cũng có ý định sang Batavia (In-đô-nê-xi-a) để
Sưu tầm bởi:
www.daihoc.com.vncầu viện Hà Lan hoặc sang Goa (Ấn độ) cầu viện Bồ Đào Nha, nhưng cuối
cùng do có mối quan hệ từ trước, ông ta quyết định nhờ vả người Pháp.
Cuối năm 1784, được sự ủy nhiệm của Nguyễn Ánh, Pi nhô đờ Bê hen (Bá đa
lộc) đã đem theo ấn tín và người con trai của Ánh là Nguyễn Phúc Cảnh
(hoàng Tử Cảnh) lúc đó mới 6 tuổi đi cầu viện Pháp. Trong một tài liệu nói
về cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa Bá Đa Lộc và Nguyễn Ánh, được trích trong
một bức thư do Bá Đa Lộc viết vào tháng 12/1784 có một đoạn như sau: ”Sau
khi sửa chữa xong thuyền chúng tôi giong buồm về đảo Pulo Punjan (Phú
Quốc) để từ đó vượt qua vịnh Xiêm-la. Ở đây một lần nữa chúng tôi đã gặp
nhà vua Đàng trong; ông kể lại cho nghe lí do vì sao ông đã sang Xiêm. Họ
một viên tham mưu trưởng.
Sau khi đánh thắng Tây Sơn, năm 1802 Nguyễn Ánh tái lập vương triều
Nguyễn. Tuy vậy, nguy cơ bị Pháp nhòm ngó vẫn chưa hết.
Sau cách mạng Pháp và chiến tranh châu Âu kéo dài từ 1792 đến 1814 tình
hình nước Pháp trở lại yên tĩnh. Giai cấp tư sản Pháp đã lớn mạnh, chúng tiếp
tục tìm cách xâm nhập Việt Nam.
Năm 1812 Na-pô-lê-ông Bô-na-pac sau khi xem các giác thư của bọn thực
dân hoạt động tại Viễn Đông đã ra lệnh nghiên cứu lại hiệp ước Véc-xây
(1787). Song ngay năm sau, Hoàng đế Na-pô-lê-ông đệ nhất bị đổ - âm mưu
xâm lăng Việt nam của Pháp vì thế chưa thực hiện được. 1.1.2. Bối cảnh thế giới và tình hình nước Việt Nam phong kiến giữa thế
kỷ XIX
Thế kỉ XVIII và XIX là thế kỉ có đầy rầy những biến động đối với thế giới và
khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt nam.
Ở phương Tây, giai cấp tư sản các nước lần lượt nắm chính quyền. Công
thương phát triển mạnh, khoa học kỹ thuật trong thế kỉ ánh sáng gặt hái được
nhiều thành công. Vào những năm 60-70 của thê kỉ XVIII cách mạng Anh đã
nổ ra. Cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ thành công đã đưa giai cấp
tư sản lên địa vị thống trị Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Hàng hoá của tư bản các
nước ùn ùn được chở ra nước ngoài và cũng tới tấp chở về những vàng, bạc
châu báu, hương liệu và các sản vật quý hiếm.
Sưu tầm bởi:
Về chính trị luật pháp:
Sau khi lên ngôi, Gia Long cho củng cố chế độ quân chủ chuyên chế tập
quyền.
Sưu tầm bởi:
www.daihoc.com.vn
Trên hết có hoàng đế, nắm tất cả quyền bính; có Cơ mật viện bàn quốc sự lớn
lao, nhưng ý kiến quyết định cuối cùng vẫn là ý kiến của nhà vua.
Hoàng đế tự xưng là Thiên tử - Con trời, thay trời trị dân. Vua có uy quyền
tuyệt đối, cho ai sống thì được sống, bắt ai chết thì kẻ đó phải chết. Ý vua là
phép nước và nước là nước của vua. Trong thực tế, vua là một địa chủ lớn
nhất, có toàn quyền quyết định trong việc sử dụng ngân khố nhà nước, có
quyền tước đoạt bất kì caí gì, của bất cứ ai nếu nhà vua muốn.
Lúc đầu thời Gia Long, ở Bắc kì và Nam Kì có đặt chức khâm sai tổng trấn
thay mặt vua trông nom, về sau triều đình trực tiếp với tay xuống các địa
phương. Các hàng quan đầu tỉnh đều do Nhà nước bổ nhiệm, thông qua thi
cử. Ở vùng thượng du, triều đình không có khả năng trực trị thì thông qua các
tù trưởng để nắm quyền.
Từ Minh Mạng trở đi, tính tập quyền ngày càng cao. Nhà vua tự mình”châu
phê", soạn thảo các văn bản, và sắp đặt mọi việc.
"Vua sáng suốt về việc chính trị, những tờ sớ dâng lên, vua đều xem hết và
phong kiến phản động nhất châu Á. Trong tổng số 328 điều thì có tới 166
điều là luật hình, 58 điều luật quân sự. Để áp dụng có hiệu lực bộ luật trên,
nhà Nguyễn lập ra một tổ chức chuyên trách về tư pháp ở cấp tỉnh gọi là Ty
Niết.
Quần chúng nhân dân bị áp bức thậm tệ. Ngoài thuế khóa, sưu dịch họ còn
phải chịu vô số luật lệ quái gở ví dụ:dù có tiền cũng không được xây nhà lầu.
Nhà dân không được làm theo kiểu ”Nội công ngoại quốc” Dân thường
không được ăn vận quần áo có các mầu vàng, lam, tím chỉ được dùng màu
đen, nâu. Không được đi giày Về kinh tế xã hội:
Thời Nguyễn, chế độ sở hữu ruộng đất công đã suy yếu nhiều. Nạn chấp
chiếm ruộng đất của địa chủ ngày càng trầm trọng. Sách Minh Mạng chính
yếu cho biết vào năm 1840 tại tỉnh Gia Định ”không có ruộng công, các nhà
giàu đã bao chiếm ruộng tư đến ngàn trăm mẫu,dân nghèo không được nhờ
cậy”. Cũng theo sử cũ, vào năm 1852 trong 31 tỉnh của toàn quốc thì chỉ có
Sưu tầm bởi:
www.daihoc.com.vnhai tỉnh là Thừa Thiên và Quảng Trị là có số ruộng công nhiều hơn ruộng tư.
01 tỉnh là Quảng Bình có ruộng công và ruộng tư bằng nhau, còn lại 28 tỉnh
khác ruộng tư nhiều hơn ruộng công, trong đó, phần ruộng tốt thì cường hào
chiếm cả, thừa ra thì hương lí bao chiếm. Dân chỉ được phần ruộng xấu, cằn
cỗi, xác màu.
Tiền Hải và một số tổng ở Nam Định; Nguyễn Văn Thoại đào sông Núi Sập
Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế và khẩn hoang vùng Châu Đốc (An Giang); Trương
Minh Giảng lập được 25 thôn ở vùng biên giới Việt Nam- Căm Pu Chia;
Nguyễn Tri Phương lập được 21 cơ đồn điền và tổ chức 124 ấp ở Lục tỉnh.
Diện tích đất nông nghiệp nhờ thế mà đã tăng nhanh so với trước. Theo thống
kê vào năm 1820 có 3.076.300 mẫu; năm 1840:4.063.892 mẫu và năm 1847
tăng lên 4.278.013 mẫu.
Tuy diện tích canh tác có tăng nhưng tình trạng dân lưu tán vẫn tiếp tục xảy
ra vì số đất khai hoang được chỉ một thời gian sau đã lại rơi vào tay giai cấp
địa chủ phong kiến.
Tình trạng của nông nghiệp đã như vậy, thì công thương nghiệp lại càng bi
đát.
Dưới thời Nguyễn, nhà nước vẫn duy trì chế độ công tượng cũ. Việc lùng bắt
các thợ giỏi đưa về kinh đô phục vụ cuộc sống cung đình khiến cho thủ công
dân gian ngày thêm tàn lụi. Thêm vào đó là chính sách ngăn sông cấm chợ,
tục giấu nghề và các quy định ngặt nghèo vô lý của nhà nước như cấm buôn
bán đồ sắt, cấm khai thác mỏ ở một số vùng; tư nhân không được giao
thương với nước ngoài đã khiến cho các trung tâm thương mại trở nên thưa
thớt, công thương nghiệp tiêu điều. Những người thợ khéo tay nhiều khi chỉ
được sử dụng vào việc làm thỏa mãn tính hiếu kì của các bậc vương giả đã
khiến cho nền công nghiệp chân chính không thể ra đời.
Chính sách ”bế quan tỏa cảng” khước từ mọi quan hệ thông thương với bên
ngoài đã làm cho Việt Nam bị tách biệt với các nước. Chính sách thuế ngặt
nghèo lại giáng tiếp đòn nặng nề vào công thương nghiệp làm cho nó không
sao phát triển được; công nghiệp cũng không có điều kiện để trở thành một
cuớp trắng ba tỉnh miền Đông Nam Kì đã có 40 cuộc khởi nghĩa và nếu tính
đễn năm 1883, khi nhà Nguyễn ký điều ước Hác măng, thừa nhận sự chiếm
đóng của Pháp trên toàn cõi Việt nam thì các cuộc khởi nghĩa chống triều
đình đã lên tới con số 103.
Phong trào nông dân khởi nghĩa nói trên đã khẳng định rằng, vào lúc thực
dân Pháp chuẩn bị nổ súng xâm lược nước ta là lúc mâu thuẫn giữa nông dân
với phong kiến đã trở nên hết sức sâu sắc. Tuy nhiên nông dân bao giờ cũng
là một lực lượng yêu nước quan trọng. Họ tỏ ra hết sức tỉnh táo và nhậy bén
trước thời cuộc và có sức sống, sức quật khởi trong cuộc kháng chiến chống
Sưu tầm bởi:
www.daihoc.com.vnPháp. Chính quần chúng nhân dân, trong đó chủ yếu là nông dân, chứ không
phải là ai khác đã trở thành chỗ dựa của các sĩ phu yêu nước, làm tách một bộ
phận phong kiến tiến bộ ra khỏi triều đình phong kiến đầu hàng, tiếp tục lãnh
đạo cuộc đấu tranh chống xâm lăng của dân tộc ta ở giai đoạn sau. II.Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Cuộc kháng chiến ở Đà Nẵng và
Gia Định (1858-1859)
2.1. Âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của Pháp
Nguyễn Ánh, sau khi lên ngôi (1802) lấy hiệu Gia Long đã có các chỉ dụ đặc
biệt ưu ái đối với các giáo sĩ người Pháp. Tuy vậy, sự hoạt động ráo riết của
các thế lực theo đạo thiên chúa và các cố đạo người Âu đã khiến Gia long lo
ngại, cảnh giác và đề phòng. Năm 1817. Gia long đã cự tuyệt việc yết kiến
của Hội truyền giáo nước ngoài Paris đã đem những việc sát hại giáo sĩ và
giáo đồ ra tuyên truyền, khiến cho một bộ phận thuộc phái hữu xôn xao.Họ
yêu cầu chính phủ Pháp phải hành động ngay bằng vũ lực để bảo vệ giáo sĩ
và giáo dân Việt Nam.
Ngoài các chiến dịch tuyên truyền tại Pháp, Hội truyền giáo hải ngoại Pháp
còn kích động những phần tử bất hảo trong số gần 50 vạn giáo dân, liên tiếp
gây ra các vụ rắc rối, gây hận thù lương - giáo, vi phạm luật lệ triều đình cố
làm mục ruỗng xã hội Việt nam bằng cách chia rẽ nội bộ dân tộc ta, đi tới thủ
tiêu tinh thần kháng chiến cũng như sức đề kháng của nhân dân ta trước quân
xâm lược. Tiến thêm một bước, ngày 25/2/1843 tàu chiến Pháp Heroine vào
Đà nẵng. Hạm trưởng Favin Lơvêque xin tha cho 5 giáo sĩ bị kết án tử hình
đang còn bị giam ở Phú Xuân
Năm 1845 thiếu tướng hải quân Cécile chỉ huy hạm đội Đông Hải phái tàu
Alemêne đến Đà Nẵng, yêu cầu thả giám mục Le febvere bị kết án tử hình
đang bị giam tại Huế.
Năm 1847 biết ở Phú Xuân không còn có giáo sĩ nào bị giam nữa, chính phủ
Pháp mới sai đại tá hải quân Lepierre lên thay Cecile phản đối việc cấm đạo
ở Việt Nam và yêu cầu Thiệu Trị để cho dân được tự do theo tôn giáo mới.
Tháng 3 - 1847 hai tàu chiến Pháp tới Đà nẵng. Thuyền trưởng và giáo sĩ
Pháp ngang nhiên đi thẳng vào công quán đe dọa. Trấn thủ Đà Nẵng, một mặt
không chịu nhận thư của đại diện Pháp, mặt khác ra lệnh cho binh lính sẵn
Sưu tầm bởi:
www.daihoc.com.vnsàng đối phó. Thấy vậy Lapierre đã ra lệnh cho hai tàu chiến Pháp bắn phá 5
bỏ về nước. Cùng về Pháp với Mông-ti-nhi có giám mục Pen-lơ-ranh
Sưu tầm bởi:
www.daihoc.com.vn(Pellerin), bấy lâu nay vẫn lẩn lút ở Việt Nam và trốn được xuống tàu
Catinat. Pen-lơ-ranh đem tình hình cấm đạo và sát tả ở Việt Nam ra tuyên
truyền rồi ra sức xúi dục Chính phủ Pháp hành động bằng vũ lực.
Ngay sau đó, một cơ quan chuyên nghiên cứu vấn đề Việt Nam của Pháp đã
được lập ra vào ngày 22-4-1857 lấy tên là Uỷ ban Nam kì. Lá cờ ”bảo hộ
công giáo” được giương lên để chuẩn bị cho cuộc hành binh xâm lược.
Chỉ mấy ngày sau khi thành lập, theo lệnh của Na-pô-lê-ông III Uỷ ban Nam
Kì đã họp ròng rã ba tuần liền (từ 28-4-1857) để quyết định kế hoạch đánh
chiếm Việt Nam.Trong các cuộc họp này Uỷ ban Nam kì đã toan dựa vào văn
bản của hiệp ước Véc-xây (1787) để hợp pháp hoá việc đem quân xâm lược
nước ta và chủ trương điều động gấp rút quân đội sang chiếm ba đô thị lớn là
Sài gòn, Đà nẵng và Kẻ Chợ (Hà Nội) biến Việt Nam thành đất thuộc Pháp,
biến triều đình Nguyễn thành tay sai, phục vụ đắc lực lợi ích của bọn thực
dân
Tháng 7-857 Na-pô-lê-ông duyệt y kế hoạch xâm lược vũ trang của uỷ ban
Nam kì, giao cho Bộ hải quân Pháp thực hiện. Vừa lúc có hai giáo sĩ Tây Ban
Nha bị triều đình Nguyễn sát hại ở Bắc kỳ (hai giáo sĩ này cùng hoạt động
trong Hội truyền giáo nước ngoài Pháp), Na-pô-lê-ông III và Giáo hội Pháp
đã thương nghị với Chính phủ Tây Ban Nha phối hợp hành động.
Tháng 7-857 Na-pô-lê-ông duyệt y kế hoạch xâm lược vũ trang của uỷ ban
được điều ra làm Tổng thống quân thứ Quảng Nam, gấp rút chấn chỉnh quân
ngũ và thống nhất chỉ huy chống giặc. Nguyễn Tri Phương cho thực hiện kế
hoạch gồm hai điểm chính: Thứ nhất là tổ chức cho dân lùi sâu vào nội địa,
làm vườn không nhà trống, triệt để bất hợp tác với giặc. Thứ hai là triệt để
phòng ngự, ra sức đào hào đáp luỹ cản giặc, không cho giặc đánh lan ra.
Hưởng ứng kế hoạch của Nguyễn Tri Phương, các lực lượng dân binh cùng
nhân dân địa phương ra sức đào hào đắp lũy, phối hợp với quân của triều
đình chặn đánh tàu địch. Những đội dân quân bao gồm “tất cả những người
không đau yếu và tàn tật” được thành lập, chiến đấu vô cùng quả cảm.
Phối hợp với mặt trận Đà nẵng, nhân dân Nam bộ cùng với quân đội triều
đình cơi cao thêm thành lũy,củng cố thêm hệ thống phòng thủ. Đội nghĩa
binh của Trương Định được tập hợp, ra sức tập luyện, chuẩn bị đánh Pháp.
Tiếng súng xâm lăng của quân Pháp ở Đà Nẵng đã thổi bùng ngọn lửa yêu
nước trong nhân dân. Đốc học Nam Định Phạm Văn Nghị tập hợp 300 người
Sưu tầm bởi:
www.daihoc.com.vn- vốn là những học trò của mình, khăn gói lên đường Nam tiến, xin Vua ra
chiến trường giết giặc.
Nhờ có sự ủng hộ tích cực của nhân dân, Nguyễn Tri Phương đã tạm thời đẩy
lui được quân địch ở Đà Nẵng, dồn chúng về phía biển. Thêm vào những tổn
thất bước đầu do cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Việt Nam gây nên
là sự khắc nghiệt về thời tiết, thuỷ thổ khiến quân Pháp bị ốm đau rất nhiều.
Sau 5 tháng hành binh xâm lược, quân Pháp chỉ chiếm được bán đảo Sơn Trà
và đồn Đông. Kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của chúng bước đầu bị phá
vuông, mỗi chiều 475 thước, tường thành được xây bằng đá ong, gạch, đất
Lúc quân Pháp đến, trong thành có khoảng 1.000 quân Nguyễn và chứa đầy
khí giới, lương thực đủ cung cấp cho khoảng 10.000 quân giữ thành trong 1
năm.
Trận chiến diễn ra dữ dội trong suối buổi sáng ngày 17/2. Đến khoảng giữa
trưa quân ta phải rút, bỏ lại trong thành 200 đại bác bằng đồng và bằng gang,
20.000 vũ khí các loại, 86.000 kg thuốc súng, 9 chiến thuyền đã đóng và đang
đóng nằm dưới ụ. Sau khi Gia Định thất thủ. Vũ Duy Ninh là quan trấn thủ
thành sợ trách nhiệm đã treo cổ tự tử, mở đầu cho một chuỗi tự sát của một
bầy tôi bất lực dưới trướng Tự Đức.
Trong khi quân Nguyễn liên tiếp thất bại, phải rút quân thì thực dân Pháp lại
rơi vào thiên la địa võng của cuộc chiến tranh nhân dân ở Nam bộ. Chúng
phải giăng lực lượng ra để đối phó với nhiều toán dân binh mọc lên ở khắp
nơi ví như toán quân của Lê Huy (trước là quân nhân bị thải hồi), toán quân
của Trần Thiện Chính (trước là tri huyện bị triều đình cách chức). Dân các
vùng đất mà Pháp chiếm được đều tự tay thiêu huỷ nhà cửa bỏ đi hoặc tự
động tổ chức thành đội ngũ đánh giặc. Giữa lúc đó, toán quân Pháp còn lại ở Đà nẵng cũng đang trong tình thế nguy
cấp, giặc phải gấp rút đưa đại binh từ Gia Định ra cứu viện chỉ để lại ở đây
một lực lượng nhỏ. Vừa ra đến Đà Nẵng, để củng cố tinh thần binh lính Giơ-
nui-y quyết định mở cuộc tấn công vào các đồn Điện Hải, Phúc Ninh, Thạch
Giản, mong giành lại thế chủ động nhưng bị thất bại. Gần 100 quân Pháp và
Tây Ban Nha bỏ mạng.
Trong tình thế hết sức khốn đốn: bị quân dân Việt Nam bao vây; viện binh
Sưu tầm bởi:
buôn bán kiếm lời, vừa để nuôi quân vừa để mua chuộc một số người giao
thương với chúng, biết được tình hình nội địa của ta, dụ được một số người
làm tay sai, tạo thêm điều kiện để mở rộng cuộc xâm lăng.
Trong lúc đó, dưới quyền chỉ huy của tổng thống quân vụ đại thần Nguyễn
Tri Phương có tới hàng vạn quân song không chủ trương tranh thủ thời cơ tấn
Sưu tầm bởi:
www.daihoc.com.vncông tiêu diệt địch mà suốt trong 1 năm (1860) Nguyễn Tri Phương một mặt
án binh bất động, mặt khác chỉ chú tâm huy động quân đội và dân binh xây
dựng Đại Đồn (Chí Hòa) với thành lũy kiên cố, tưởng rằng như vậy sẽ có thể
làm nản ý chí xâm lăng của giặc. Sự sai lầm trong chiến lược phòng ngự bị
động này đã khiến Nguyễn Tri Phương đã không những không đuổi được
1.000 quân giặc đóng trên phòng tuyến các chùa (từ Thị Nghè đến Mai Sơn)
dài 10 cây số, có chỗ ta địch cách nhau chưa đầy 500 mét, mà ngược lại, Đại
đồn vô hình đã biến thành một cái rọ 3 cây số vuông nhốt hàng ngàn binh
lính, chuẩn bị làm mồi cho đạn đại bác có hạt nổ của địch.
________________________________________
(1) Vận động cho Đông cung Cảnh nối ngôi.
(2) Ngoài vụ này, Pháp còn nhúng tay vào cuộc khởi nghĩa ở Bắc thành năm
1826.Năm 1833-1836 chúng lại thâm nhập vào cuộc khởi nghĩa của Lê Văn
Khôi ở Gia Định
(3) Sau khi xin hòa với Tự Đức không thành, Ri Gô đờ Giơ nu y bị triệu hồi
về Pháp.Cuối năm 1859
Lơ-Pa-Giơ qua thay thế. Tháng 11-1859 Pa-Giơ tập trung lực lượng thử vượt
đèo Hải Vân nhưng không thành công.
4.000 tên (trong đó có cả lực lượng cũ, mới và dân phu bị bắt ở Quảng Châu
cùng 250 lính Tây Ban Nha ) Sáng sớm ngày 24/2/1861 đại bác địch bắt đầu
tàn phá Đại Đồn. Quân ta chống cự mãnh liệt đẩy lui nhiều đợt tấn công của
giặc. Ngày hôm sau thành vỡ, Nguyễn Tri Phương phải ra lệnh lui binh bỏ lại
150 đại bác, 2.000 khẩu súng tay. Thừa thắng quân Pháp đánh lan về phía
Biên hòa, chiếm được Thuận Kiều, Trảng Bàng, Tây Ninh Nghe tin Đại
đồn thất thủ, triều đình vội điều thêm viện binh ứng cứu lại cử Tôn thất Cáp
và Nguyễn Bá Nghi vào Nam bộ. Song vì việc hành quân quá chậm, đến rồi
lại không chủ động tiến công, nên quân giặc thừa thế lánh lan ra nhiều nơi.
Đầu tháng 4 năm1861 chúng chiếm Định Tường (gồm cả Mĩ Tho, Tân An,
Gò Công) - một tỉnh giàu có và đông dân nhất Nam bộ lúc đó, có sông Tiền
giang dẫn tới biên giới Căm-pu-chia. Quân triều đình cố gắng dựa vào các
cản trên sông để tiêu diệt và ngăn chặn bước tiến của địch. Mặc dầu bị tổn
thất nặng, ngày 12/4/1861 quân Pháp vẫn tới được Mĩ Tho. Quan trấn thủ là
Nguyễn Hữu Thành đã cho thiêu hủy kho tàng, dinh thự chạy về Cái Bè.
Quân Pháp ung dung vào thành với vô số chiến lợi phẩm qúi giá. Sau khi
chiếm được Định Tường, quân Pháp liền thực hiện chính sách dùng người
Việt trị người Việt, tăng cường xây dựng lực lượng ngụy binh để chuẩn bị
tiến đánh Biên Hòa. Tháng 12/1861 quân địch dưới sự chỉ huy của Bô-Na
(thay Sác-ne) mở cuộc tiến công Biên Hòa bằng cả hai đường thủy bộ. Quân
Nguyễn chống cự yếu ớt. Một số quan lại (điển hình như Nguyễn Bá Nghi -
quan trấn thủ Biên Hoà) mới nghe tin quân Pháp tới đã hèn nhát bỏ chạy.
Thừa thắng, địch đánh chiếm luôn thành Vĩnh Long thuộc miền Tây Nam Kỳ
(ngày 23 tháng 3/1862). Như vậy, sau 3 năm tiến hành chiến tranh xâm lược
Sưu tầm bởi:
www.daihoc.com.vnViệt Nam, thực dân Pháp mới chỉ chiếm được 4 tỉnh thành mà quan quân
Gạo, Cái Bè nghĩa quân đã chiếm lại được nhiều vùng đất đai rộng lớn.
Những cuộc đánh phá, gây rối của quân ta đã khiến cho thực dân Pháp đang
tính đến chuyện ”phải chinh phục lại những vùng đã chinh phục”, nhưng triều
đình Huế đã không biết đến điều đó. Xuất phát từ những toan tính nhỏ nhen,
ngày 5-6-1862 triều Nguyễn đã kí bản hiệp ước nhượng đất đầu tiên, nhường
cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam Kì (Gia Định, Định Tường, Biên Hoà) Hiệp
Sưu tầm bởi:
www.daihoc.com.vnước 5/6/18629 (Hiệp ước Nhâm Tuất) được mang danh là ”Hiệp ước hòa
bình và hữu nghị”. Nội dung gồm 12 khoản, trong đó qui định: Triều đình
Huế phải nhượng hẳn cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam kì (Gia định, Định
Tường, Biên Hòa) và đảo Côn lôn. Bồi thường chiến phí cho Pháp 4.000.000
đô-la (tương đương 2.880.000 lạng bạc); Mở các cửa biển Đà nẵng, Ba lạt,
Quảng yên cho Pháp và Tây Ban Nha tự do buôn bán; Pháp sẽ trả thành Vĩnh
Long cho triều đình chừng nào Huế ngừng hẳn phong trào chống Pháp ở 3
tỉnh miền Đông. Ngay sau khi hoà ước được kí kết,thực dân Pháp cho tàu đi
các nơi để loan tin, còn triều đình Huế thì vội vàng phái Phan Thanh Giản
vào Nam ra lệnh cho nghĩa quân các nơi hạ vũ khí, nạp súng đạn cho Pháp hi
vọng nhân dân sẽ ngoan ngoãn thi hành. Tuy nhiên, hiệp ước 5/6/1886 đã
như lửa đổ thêm dầu, càng gây nên sự bất bình trong dân chúng cả nước.
Tại Gia Định, Định Tường, Biên Hoà, các toán nghĩa quân không chịu công
nhận chính quyền của giặc, họ cũng không chịu dời sang ba tỉnh miền Tây,
kiên quyết bám đất bám dân chống giặc ngay trong lòng địch. Các văn thân sĩ
phu ba tỉnh miền Đông rầm rộ tổ chức phong trào tị địa (di rời gia đình, vợ
con, mồ mả tổ tiên, thậm chí phần mộ thầy học ) ra Bình Thuận, khảng khái
bất hợp tác với Pháp.
Trong số những lãnh tụ nổi tiếng của cuộc kháng chiến ở Nam bộ lúc đó,
phải kể đến Trương Công Định.
Ông người quê Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, là con của lãnh binh Trương
Cầm, theo cha vào Nam giữa thời Thiệu Trị. Khi Trương Cầm làm lãnh binh,
Trương Định đã mộ nhiều dân nghèo ở vùng Gia định khai hoang, lập đồn ấp,
được phong chức quản cơ nên còn gọi là Quản Định.
Khi Đại đồn thất thủ, Trương Định đem quân về Tân Hòa, Gò công. Ông ra
sức chiêu tập nghĩa binh, tổ chức những trận phục kích tiêu diệt quân Pháp.
Khởi nghĩa Trương Định mau chóng phát triển ra các vùng xung quanh, liên
hệ với hầu hết các sĩ phu yêu nước ở 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ. Địa bàn hoạt
động của nghĩa quân mở rộng ra các vùng Mỹ tho, Tân An, Chợ lớn, sang các
vùng ven sông Vàm cỏ, từ biển Đông đến biên giới Việt nam - Căm Pu Chia.
Trước khi ký hiệp ước 1862, triều đình phong cho Trương Định làm chức
phó lãnh binh tỉnh Gia định. Dưới quyền ông có 6.000 quân. Đội quân này
sau đó tăng lên gấp bội và buộc địch phải rút chạy khỏi Gò công, Tân An,
chợ Gạo.
Sau điều ước 1862, thể theo yêu cầu của Pháp, triều đình buộc Trương Định
bãi binh, giải tán nghĩa quân và bổ nhiệm ông làm lãnh binh tỉnh An Giang
(thuộc miền Tây lục tỉnh). Ông đã khẳng khái bất tuân lệnh chỉ, ở lại cùng
nhân dân 3 tỉnh miền Đông kháng chiến. Hịch Quản Định được truyền đi
khắp nơi, hô hào nhân dân,nghĩa sĩ chống giặc đến cùng.
Từ đại bản doanh Tân Hòa, Gò công nghĩa quân đã tỏa đi khắp nơi, hoạt
động dữ dội, làm chủ cả một vùng nông thôn rộng lớn, được nhân dân các nơi
hết lòng ủng hộ.
Một chính quyền kháng chiến sơ khai ra đời, thoát li khỏi sự ràng buộc của
chống trả quyết liệt, vừa lui dần từ căn cứ Lí Nhân về Tân Phước, một căn cứ
hiểm yếu ở vùng sông Soài ráp. Lúc này Trương Định có gần 1 vạn nghĩa
binh, ông đang chuẩn bị đánh úp giặc lấy lại Tân Hoà nhưng dựa vào Huỳnh
Công Tấn (tên này trước đây theo nghĩa quân, sau về hàng địch) giặc Pháp đã
dò được nơi ở của Trương Định. Ngày 20/8/1864 chúng đem quân vây đánh
bất ngờ. Trương Định bị thương nặng, đã rút gươm tự sát, lúc đó ông mới 44
tuổi.
Sau khi Trương Định mất, đồng đội của ông tiếp tục duy trì cuộc chiến đấu
thêm một thời gian: ở vùng Gia Thuận có Nguyễn Ngọc Thăng, ở vùng Giao
Loan (Tây Ninh) có Lê Quang Quyền (một bộ tướng gần gũi của Trương
Định). Cũng ở Tây Ninh, Phan Chính cầm đầu một tập đoàn nghĩa quân, ông
Sưu tầm bởi:
www.daihoc.com.vntự xưng là Bình Tây Phó Nguyên soái, còn Trương Quyền (con trai của
Trương Định) thì liên kết với Pu-Côm-Pô, nhà yêu nước Căm-Pu-Chia đánh
Pháp từ 1864 đến 1867. Võ Duy Dương lấy Đồng Tháp Mười làm căn cứ.
Hoạt động của nghĩa quân Võ Duy Dương đã gây cho địch những thiệt hại
nặng trong khoảng thời gian từ tháng 7/1865 đến tháng 4/1866. Sau Thiên hộ
Dương (Võ Duy Dương), Đốc bình Kiều lại lấy Đồng Tháp Mười làm căn cứ.
Vùng đất này từ đó về sau trở thành nơi tụ họp của nhiều nhà yêu nước. 3.2. Mất ba tỉnh miền Tây (1867) cuộc kháng chiến chống Pháp lan khắp
6 tỉnh Nam
Sau hiệp ước 5-6-1862 tình hình Việt nam ngày càng trở nên tồi tệ: dân các