ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA SINH HỌC
WX
LÊ THỊ BÍCH MAI
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG GIẢI ĐỘC CỦA
CAM THẢO ĐỐI VỚI MÃ TIỀN VÀ
PARACETAMOL KHÓA LUẬN CỬ NHÂN KHOA HỌC
NGÀNH SINH HỌC
CHUYÊN NGÀNH SINH HỌC ĐỘNG VẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN PHƯƠNG DUNG
À
N
NM
M
Ô
Ô
Û
ÛÑ
Ñ
A
A
À
À
U
U 3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay với sự phát triển của khoa học nói chung và ngành sinh học nói riêng, đã dần đưa con
người thoát ra khỏi những mối hiểm họa về chất độc hóa học. Việc áp dụng ngày càng nhiều các công nghệ
sinh học trong việc tạo ra thực phẩm cho con người dùng hàng ngày. Những người nông dân ngày càng sử
dụng những thuốc có hoạt tính sinh học vào việc bảo vệ mùa màng, áp dụng những kỹ thuật sinh học vào tạo
giống cây trồng cũng như vật nuôi phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng của con người. Bên cạnh đó không
Mục tiêu cụ thể:
4
1. Nghiên cứu tác dụng giải độc của dịch chiết Cam thảo đối với Mã tiền ở các liều khác nhau trên
chuột nhắt.
2. Nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chiết Cam thảo trên chuột nhắt bị kích thích thần kinh do Mã tiền ở
các liều khác nhau.
3. Nghiên cứu tác dụng giải độc Paracetamol của dịch chiết Cam thảo trên chuột nhắt. 5
PHẦN 1
T
L
L
I
I
E
E
Ä
Ä
U
U1.1 Sư tương tác thuốc trong cơ thể [12]
1.1.1 Khái niệm chung
Sự tương tác của thuốc trong điều trò là một thực tế rất phức tạp. Sự tương tác của thuốc là hiện
tượng xảy ra khi dùng nhiều loại thuốc trong một toa thuốc. Sự phối hợp này có thể làm thay đổi tác
dụng hoặc độc tính của một trong những loại thuốc đó.
Thường thì người thầy thuốc chủ động phối hợp thuốc nhằm lợi dụng biến hóa theo hướng có lợi
để tăng hiệu quả điều trò. Tuy nhiên, có những trường hợp ngoài ý muốn là thuốc ở mức điều trò đơn độc
thì có tác dụng nhưng khi phối hợp với thuốc khác thì lại giảm hoặc mất tác dụng hoặc ngược lại có thể
xảy ra tương kỵ gây ngộ độc cho người bệnh.
Tỷ lệ biến hóa thuốc tăng theo cấp số nhân với số lượng thuốc phối hợp, có nghóa là nguy cơ rủi ro
hay thất bại cũng tăng theo. Chính vì vậy người dùng thuốc phải có kiến thức nhất đònh về sự biến hóa
của thuốc đêû có sư phối hợp thuốc một cách hiẹu quả hơn trong điều trò.
1.1.2 Cơ chế tương tác thuốc
Có nhiều cơ chế gây tương tác thuốc nhưng nhìn chung có hai cơ chế chính
1.1.2.1 Tương tác dược lực học.[14]
Là tương tác xảy ra tại các thụ thể của thuốc, có thể trên cùng receptor hoặc trên các receptor khác, dẫn
đến thay đổi tác dụng điều trò hoặc độc tính của thuốc (tăng hoặc giảm). Có hai loại tương tác dược lực:
Ví dụ: Phenylbutazon phối hợp với thuốc chống đông loại coumarol làm tăng độc tính chảy máu của
coumarol. Vì phenylbutazon có ái lực cao hơn với protein huyết tương đẩy coumarol ra khỏi protein nên
tăng nồng độ huyết tương của chất này.
Tương tác trong quá trình chuyển hoá: Các chất gây cảm ứng enzym chuyển hoá thuốc ở gan
(như barbiturat) làm tăng chuyển hoá thuốc. Các chất gây ức chế enzym gan (như cimetidin, IMAO) làm
giảm chuyển hoá thuốc nên ảnh hưởng của thuốc dùng chung.
Ví dụ: Uống IMAO chung với thuốc cường giao cảm gián tiếp như amphetamin, phenylpropranolamin (
có trong thuốc trò cảm cúm, thuốc chống sung huyết mũi). Sẽ bò các cơn tăng huyết áp nặng ở liều thông
thường của các thuốc này do IMAO ngăn chặn men MAO phân hủy các catecholamin làm tích lũy
catecholamin và chất này dược phóng thích nhiều do tác dụng của thuốc cường giao cảm gián tiếp.
Tương tác trong quá trình bài xuất thuốc qua thận: Sự bài xuất thuốc qua thận có thể thay đổi bởi
các thuốc làm giảm lưu lượng thận,hoặc ức chế chuyển vận chủ động ở ống thận.
7
Làm thay đổi PH của nước tiểu. Ví dụ: Kháng acid (NaHCO
3
) gây kiềm hóa nước tiểu làm giảm
sự thải trừ của thuốc là alcaloid (quinidin, theophylin…) dẫn đến nguy cơ quá liều. Ngược lại, vitamin C
liều cao gây acid hóa nước tiểu làm tăng thải trừ các thuốc alcaloid dẫn đến giảm tác dụng.[14]
Tương tranh trong sự bài tiết ở ống thận. Ví dụ: Probenecid tương tranh trong sự bài tiết với
penicillin làm kéo dài thời gian tác dụng của penicillin. Ngược lại, probenecid tương tranh với
cephaloridin lại làm tăng độc tính của kháng sinh này.[14]
1.1.3 Tương tác thuốc theo phối ngũ của dược học cổ truyền [12]
Tương tác thuốc trong Đông y đã được đưa ra rất lâu với khái niệm là “thất tình” tức là căn cứ
vào tình hình bệnh tật, theo nguyên tắc phối hợp từ hai vò thuốc trở lên thì gọi là phối ngũ. Phối ngũ các
vò thuốc có điều kiện kiên cấm nhất đònh của nó. Thần nông bản thảo kinh đã tổng kết đó là thất tình
phối hợp điều hòa. Thất tình bao gồm đơn hành (hoặc gọi là độc hành), tương tư, tương sử, tương úy,
tương ố, tương sát, tương phản.
Đơn hành: chỉ dùng một đơn thuốc độc mà cũng có tác dụng chữa bệnh như độc sâm thang ( chỉ
có một vò nhân sâm).
Tương tư: hai vò thuốc có cùng tác dụng, hỗ trợ kết quả cho nhau. Ví dụ: Nhân sâm hoặc Đảng
của các enzym trong hệ thống MMFO. Một enzym có thể tham gia chuyển hóa vào nhiều thuốc và còn
có thể tham gia vào các enzym chuyển hóa khác. Một trong những enzym chuyển hóa thuốc chính là Cyt
P450. Enzym này nằm ở vò trí cuối cùng trong hệ thống và tạo phức với thuốc để chuyển hóa chúng.
1.2 Một số đặc điểm của Cyt P450 [13]
Trọng lượng phân tử
Trọng lượng phân tử của chuỗi polypeptit
Hàm lượng P(nmol/mg protein)
Hàm lượng protein( nmol/mg protein)
Hàm lượng hem( nmol/mg protein)
Axit amin( acid amin) C-tận
Axit amin N-tận
Hàm lượng gluxit( nmol/mg protein)
Glucozamin
Manose
Glucose
Số lượng axit amin
Trong đó:
48100
47600
20
0,3
1
Acginin
Methionin
0,7
1,7
0,2
424
6
26
7
19
54
9
31
1
1.3 Đại cương về Gan.[2]
Hình 1: Mô gan
1.3.1 Trọng lượng của gan
10
Gan là tuyến tiêu hoá lớn nhất trong cơ thể người, gan có trọng lượng khoảng 1,1-1,41kg, chiếm
1/40- 1/50 trọng lượng cơ thể.Gan của nam giới nặng hơn gan của nữ giới. Nó có rất nhiều mạch máu, có
màu nâu đỏ, có tính chất mềm mại bề ngoài nhẵn bóng. Bộ phận sườn có vai trò chòu các lực ở bên
ngoài vào tránh gây ra phá vỡ gan, nếu không kòp thời cứu chữa khi chấn thương thì gan có thể vì chảy
máu quá nhiều mà dẫn đến tử vong.
Năng lực tái sinh của gan : tính dự trữ và thay đổi của gan là rất lớn nhưng cũng có tính tái sinh
rất mạnh mẽ. Qua thử nghiệm ở động vật, các nhà khoa học đã chứng thực nếu cắt bỏ 2/3 gan mà không
thấy chỉ sự rối loạn chức năng sinh lý, bộ phận gan còn lại có trong vòng từ 3-8 tuần sau khi cắt bỏ, có
thể tái sinh trở thành tương đương khối lượng gan ban đầu.
1.3.2 Sơ lược về một số chức năng của gan
Gan có chức năng sinh lý phức tạp. Bộ phận gan có sự thay thế cũ mới và liên quan đến sự sống
của con người từng giờ từng phút. Trong đó các chức năng chủ yếu của gan là hợp thành và tồn trữ mỡ,
các loại đường , protein, tiết ra và bài tiết dòch mật , điều tiết miễn dòch và dung lượng máu. Gan còn là
cơ quan giải độc chủ yếu trong cơ thể. Vì vậy mọi người thường ví nó là nhà máy lớn trong cơ thể người.
1.3.2.1 Chức năng thay thế đường
Gan là nơi chủ yếu thay thế đường, là cơ quan chủ yếu duy trì cố đònh lựơng đường trong máu
cho đến các chất có hại cho gan. Ở phạm vi nhất đònh, gan có thể phân giải thành các chất không có độc
và bài trữ chất độc ra ngoài cơ thể.
1.3.3 Chức phận giải độc của gan [3]
Chất độc trong cơ thể có từ hai nguồn:
Nội sinh: do các quá trình chuyển hoá sinh ra.
Ngoại sinh: do từ ngoài nhiễm vào cơ thể.
Gan có hai cách khử độc:
Cố đònh, thải trừ.
Khử độc hoá học.
1.3.3.1 Cố đònh, thải trừ:
12
Một số lớn kim loại như muối đồng, chì, thuỷ ngân, chất màu vào cơ thể bò gan giữ lại rồi thải ra
mật, những chất này vẫn giữ nguyên trạng thái cũ.
Dùng nghiệm pháp chất màu BSP (Bromosulphophtalein) để thăm dò chức năng gan: tiêm một
lượng nhất đònh chất màu vào tónh mạch, sau một thời gian nhất đònh lấy máu đònh lượng chất đó
Nếu gan bình thường, gan sẽ giữ lại chất màu, làm cho nồng độ chất màu trong máu thấp.
Nếu gan suy, nồng độ chất màu trong máu cao vì gan giữ được ít chất màu.
1.3.3.2 khử độc hoá học:
Đây là quá quá trình khử độc quan trọng nhất, chất độc sẽ bò thay đổi về mặt hoá học, trở thành
chất không độc, rồi thải ra ngoài như quá trình tạo urê từ NH3, có nhiều cách khử độc khác nhau ở gan:
Khử độc bằng oxy hoá: Một số chất bò khử độc ở gan bằng oxy hóa như alcol etylic, alcol
methylic, aldehyd benzylic, indol, paludrin…
Hình 2: Quá trình oxy hóa alcol etylic Khử oxy: Các aldehyd và ceton có thể bò khử thành alcol.
Hình 3: Phản ứng cloral bò khử oxy thành tricloroethanol
Khử độc bằng cách metyl hoá: Quá trình methyl hóa là quá trình phổ biến trong cơ thể.
Hình 4: Phản ứng methyl hóa acid guanidoacetic thành creatin.