39 Vận dụng phương pháp ABC trong phân bổ chi phí tại Công ty Cổ phần kem Ki Do - Pdf 25

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ...............................................................................................................................0
U
1. Tính cấp thiết của đề
tài
.............................................................................................0
2. Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................................0
3. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................................1
4. Phương pháp nghiên cứu ...........................................................................................1
CHƯƠNG 1 ...........................................................................................................................2
TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN VÀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ.................................................2
1.1. Tổng quan về kế toán............................................................................................2
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán .................................................2
1.1.2. Định nghĩa về kế toán ....................................................................................3
1.1.3. Chức năng và mục tiêu của kế toán ...............................................................4
1.2. Tổng quan về kế toán quản trị ...............................................................................5
1.2.1. Lược sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị...................................5
1.2.2. Vai trò của kế toán quản trị:.........................................................................12
1.3. Phương pháp kế toán chi phí dựa trên mức độ hoạt động (Activity Based
Costing-ABC) ..................................................................................................................13
1.3.1. Tiến trình phát triển của phương pháp ABC................................................13
1.3.2. So sánh phương pháp ABC với phương pháp kế toán chi phí truyền thống
(traditional costing accounting-TCA)..........................................................................13
 Điểm giống nhau:.................................................................................................13
 Điểm khác nhau: ..................................................................................................14
1.3.3. Một số điểm thuận lợi và và không thuận lợi trong việc vận dụng phương
pháp ABC ....................................................................................................................19


1. Tính cấp thiết của đề tài
Xu hướng hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, nền kinh tế thị trường cạnh
ngày một gay gắt đã và đang đặt ra nhiều thử thách cho sự tồn tại và phát triển của
các doanh nghiệp Việt Nam. Đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng hoàn
thiện công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, mà việc nâng cao chất
lượng thông tin cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đóng một vai trò
quyết định.
Công ty cổ phần kem Ki Do, sản phẩm chủ yếu là kem ăn với nhiều chủng
loại, hương vị khác nhau. Việc quyết định loại bỏ nhãn kem nào? thay thế nhãn
kem nào? giá bán sản phẩm kem mới là bao nhiêu?… ảnh hưởng rất lớn đến hiệu
quả kinh doanh của công ty, mà thông tin làm cơ sở cho việc ra các quyết định
này chính là nguồn lực tiêu hao tính cho mỗi loại kem.
Phương pháp ABC với việc lựa chọn những tiêu thức phân bổ nguồn lực hợp
lý được các nước phát triển xem đó là sự lựa chọn tối ưu trong việc nâng cao chất
lượng thông tin cho việc ra các quyết định liên quan đến từng nhóm sản phẩm,
từng loại sản phẩm,…
Trong một chừng mực nào đó, nghiên cứu và vận dụng phương pháp ABC
trong việc xác định nguồn lực tiêu hao cho mỗi loại kem chính là gián tiếp nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của công ty trên thị
trường. Đây chính là vấn đề đặt ra cho Ban Giám đốc và các nhà quản trị ở công
ty cổ phần kem Ki Do.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được lợi ích của việc vận dụng phương pháp ABC trong xác định
nguồn lực tiêu hao tính cho mỗi loại kem, trên cơ sở đó giúp các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá hiệu quả đóng góp của từng nhóm sản phẩm, từng loại sản
phẩm trong tổng lợi nhuận của công ty và đề ra các quyết định đúng đắn.
3. Phạm vi nghiên cứu

1.1. Tổng quan về kế toán
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán
Có rất nhiều nhà nghiên cứu lịch sử kế toán đã nỗ lực để có thể xác định thời
điểm và địa điểm mà hệ thống kế toán ra đời. Tuy nhiên, có rất nhiều kết quả khác
nhau, nhưng hầu hết các kết quả thừa nhận sự tồn tại của một số hình thức ghi
chép sổ sách ở những nền văn minh cổ xưa, như nền văn minh của người At-xi-ri
và người Xume, nền văn minh Ai cập, nền văn minh Trung hoa, nền văn minh Hy
lạp và nền văn minh La mã với kế toán đơn là chủ yếu, nhằm mục đích quản lý
của cải, tài sản của gia đình, bộ lạc và nhà nước thời kỳ này.
Phương pháp kế toán kép được sử dụng đầu tiên bởi các thương gia người Ý
như là một công cụ để kiểm soát, nhưng chắc chắn một điều là ở thời điểm này
các thương gia người Ý vẫn chưa thấy hết được các tiềm năng của phương pháp
kế toán kép.
Người có công lớn nhất cho việc phổ biến phương pháp kế toán kép phải kể
đến là Luca Pacioli, một nhà tu người Pháp với quyển sách “Summa de
Arithmetica, Geometria, Proportioni et Proportionalita” được xuất bản năm 1494
cho thấy bản chất của việc thực hiện phương pháp kế toán kép ở Venice, mà được
mọi người biết đến như là “Phương pháp của Venice” hay “Phương pháp của
người Ý”. Ông không phải là người phát minh ra phương pháp kế toán kép, mà
chỉ mô tả những gì được thực hiện tại thời điểm này.
“Phương pháp của người Ý” được phát triển rộng sang các quốc gia ở Châu
Âu vào thế kỷ 16-17, sau đó tiếp tục phát triển và trở thành khuôn mẫu kế toán
kép với những nét đặc trưng mới mà được vận dụng cho đến ngày nay.

2

1.1.2. Định nghĩa về kế toán
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán, mỗi một định nghĩa cố gắng
vạch rõ phạm vi nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, việc phát triển một định nghĩa
kế toán đơn lẻ luôn gặp phải những khó khăn:

một hạn chế nghiêm trọng là kế toán chỉ cung cấp những thông tin định lượng,
trong khi khuynh hướng hiện đại thì kế toán còn cung cấp cả những thông tin định
tính.
Một định nghĩa toàn diện hơn được đưa ra bởi Ansari, Bell, Klammer &
Lawrence (1997,p.2), tác giả cho rằng kế toán bao gồm 4 ý:
- Bản chất là một quá trình đo lường,
- Phạm vi bao gồm cả những thông tin định lượng và định tính,
- Mục đích là giúp cho tổ chức đạt được những mục tiêu mang tính chiến
lược,
- Những thuộc tính là nâng cao sự hiểu biết về các hiện tượng được đo lường
và cung cấp thông tin cho việc ra quyết định.
Định nghĩa này có sức thuyết phục mạnh hơn khi cho rằng thông tin của kế
toán bao gồm cả thông tin định lượng và định tính, cũng như nhấn mạnh tầm quan
trọng của kế toán đối với mục tiêu mang tính chiến lược của tổ chức.
Tóm lại, kế toán là một quá trình thu thập, đo lường, ghi chép và truyền đạt
những thông tin cần thiết cho người sử dụng thông tin ra các quyết định.
1.1.3. Chức năng và mục tiêu của kế toán
1.2.1.1. Các chức năng của kế toán:
Hoạt động kế toán có hai chức năng cơ bản, đó là chức năng thông tin và
chức năng kiểm tra.
4

- Với chức năng thông tin: Kế toán sẽ cung cấp các thông tin hữu ích cho
việc ra các quyết định liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp,
đánh giá hiệu quả tổ chức và lãnh đạo.
- Với chức năng kiểm tra: Kế toán thực hiện việc kiểm tra, giám sát các hoạt
động kinh tế tài chính, tình hình sử dụng và bảo quản tài sản trong doanh nghiệp,
đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp không bị gián đoạn, đạt được các
mục tiêu đã đề ra, đồng thời tuân thủ pháp luật và sự quản lý của nhà nước.
1.1.3.2. Mục tiêu cơ bản của kế toán:

Đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt ở thị trường trong và ngoài nước mà đánh
dấu của nó là sự giảm giá liên tục trên thị trường và sự du nhập những công nghệ
dệt tiên tiến từ nước Anh nên các thông tin tài chính ở các nhà máy cần phải được
tuân thủ và cung cấp thường xuyên cho các cổ đông của công ty. Ví dụ, báo cáo
năm 1867 của Thủ quỹ cho Hội đồng quản trị công ty Lawrence bao gồm chi phí
lao động thường niên cho 4 bộ phận của quy trình sản xuất, tiền lãi cổ tức, tăng
trưởng vốn và chi phí cho việc sửa chữa và tái sinh,…
Theo các nhà nghiên cứu, các thủ tục và hệ thống báo cáo ở các nhà máy dệt
ở Lowell được chuẩn bị rất chi tiết và cung cấp thông tin quan trọng cho việc ra
các quyết định quản lý. Mặc dù vậy, mục đích và tính hữu dụng của các thông tin
chi phí trong thời gian này vẫn còn là một vấn đề không mấy chắc chắn đối với
các nhà nghiên cứu kế toán. Tuy nhiên, việc tồn tại những báo cáo chi phí rõ ràng
cho thấy các nhà quản lý sử dụng chúng trong việc phân bổ nguồn lực và ra các
quyết định dựa trên cơ sở khác biệt chi phí hợp lý, cho dù các báo cáo này còn
thiếu cơ sở để có thể xác định trách nhiệm liên quan đến lãng phí và tiêu hao vượt
định mức cho từng đối tượng cụ thể. Hơn nữa, xét trong bối cảnh kinh tế, công
nghệ và các yếu tố xã hội đương thời thì các báo cáo này đã cung cấp những thông
tin tài chính cần thiết và phát họa một bức tranh toàn cảnh về lãi-lỗ của công ty,
cụ thể:
6

- Báo cáo so sánh chi phí sản xuất: một trong những đặc điểm ấn tượng nhất
cho báo cáo của các nhà máy dệt ở Lowel là so sánh chi phí của các nhà máy ứng
với từng thời kỳ và từng dây chuyền sản xuất. Kết hợp tất cả các yếu tố này có thể
thấy rằng báo cáo so sánh chi phí có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác
nhau. Ví dụ, báo cáo năm 1827 cung cấp chi phí đơn vị và tổng chi phí cho từng
loại vải ở công ty Merricmack Manufacturing (MM), bao gồm các tính toán về
“hao phí” và “hao hụt thực sự” cho mỗi nhà máy, điều này cho thấy chất lượng
của sản phẩm luôn được đo lường một cách thường xuyên và yếu tố cạnh tranh đã
thiết lập nên các chỉ tiêu hao hụt. Báo cáo tổng kết năm 1828 biểu thị được lợi

xác định được tác động về mặt tài chính của việc điều chỉnh tiền lương.
Hạn chế của các báo cáo trong thời kỳ này là thiếu chi phí tiêu chuẩn. Một số
nhà quản lý giải thích rằng lý do tại sao chi phí tiêu chuẩn, các chỉ tiêu cụ thể và
tính toán các chênh lệch không được thực hiện trong các nhà máy ở Lowell suốt
thời kỳ này là do hạn chế về kiến thức, sự quá độ liên tục và tốc độ phát triển
nhanh chóng của công nghệ đã ngăn cản việc cung cấp các dữ liệu cho việc thiết
lập các tiêu chuẩn chi phí. Tuy nhiên, các yếu tố như năng suất sản xuất tăng do
việc điều chỉnh tiền lương theo sản phẩm, tăng cường độ của máy móc thiết bị,
xác định rõ trách nhiệm đối với các bộ phận của quy trình và dựa vào thị trường
để định hướng tiến độ sản xuất và thuê mướn lao động là cần thiết cho một hệ
thống chi phí tiêu chuẩn.

Tóm lại, những báo cáo chi phí của các nhà máy ở Lowell được đánh giá là
toàn diện, tính toán chính xác và biểu thị rõ ràng về tính hữu dụng trong quản lý.
Bởi các báo cáo này cung cấp thông tin chí phí hỗ trợ cho việc ra các quyết định
trong nhiều lĩnh vực khác nhau của ban giám đốc, cho dù tư liệu nghiên cứu chưa
đầy đủ đã làm ít nhiều hạn chế hiểu biết về thực tế báo cáo ở các công ty trong
thời kỳ này. Một nhà nghiên cứu nổi tiếng kết luận rằng: những nhà quản lý ở
Lowell “ là những người khởi đầu cho sự phát triển các thủ tục kế toán quản trị”,
những báo cáo và phương pháp xác định chi phí đã đáp ứng một cách đầy đủ cho
8

nhu cầu quản lý các nhà máy ở Lowell, việc thiếu một số báo cáo như báo cáo chi
phí tiêu chuẩn, báo cáo phân tích chênh lệch nên được xem là do hạn chế về kiến
thức hay là một sự phát triển chưa đầy đủ.
Bắt đầu từ ngành dệt, kế toán quản trị được áp dụng rộng rãi ở các ngành
công nghiệp khác. Công ty Louisville & Nashville hoạt động trong ngành đường
sắt vào năm 1840, khi phạm vi hoạt động của công ty ngày càng mở rộng và công
việc quản lý ngày càng phức tạp, để có thể kiểm soát thu, chi trên địa bàn rộng lớn
công ty này đã chia kế toán thành hai bộ phận theo dõi chi phí và thu nhập theo

thành và phát triển xuất phát từ nhu cầu thông tin quản trị doanh nghiệp. Môi
trường cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp mở rộng và phát
triển thị trường, giảm chi phí nâng cao lợi nhuận. Kế toán quản trị là công cụ hữu
hiệu cho phép các nhà quản trị kiểm soát quá trình sản xuất, đánh giá hiệu quả
hoạt động của từng bộ phận trong doanh nghiệp để có các quyết định phù hợp và
hiệu quả.
1.2.1.2. Ở nước ta:
* Giai đoạn trước năm 1995:
Trong suốt thời gian này hệ thống kế toán Việt nam chỉ nhằm điều chỉnh
hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Các báo cáo chủ yếu phục vụ cho công
tác điều hành, chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên, tuy nhiên cũng đòi hỏi chi
tiết, cụ thể như chi phí sản xuất theo yếu tố, giá thành theo khoản mục, các yếu tố
làm tăng giảm giá thành,…các báo cáo giai đoạn này cũng có một số nội dung
tương đồng với các báo cáo kế toán quản trị hiện nay. Tóm lại, có thể nói trong
giai này về mặt hình thức kế toán quản trị có những biểu hiện nhất định, nhưng về
mặt bản chất thì chưa thể gọi là kế toán quản trị vì các báo cáo không phục trực
tiếp cho các nhà quản lý, điều hành doanh nghiệp.
* Giai đoạn từ 1996 đến nay:
Từ ngày 01/01/1996, chế độ kế toán ban hành theo Quyết định 1141/QĐ-
BTC/CĐKT của Bộ trưởng Bộ Tài chính có hiệu lực và áp dụng thống nhất trong
10

cả nước, với những quy định đầy đủ về hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài
khoản kế toán, hệ thống sổ sách kế toán và hệ thống báo cáo kế toán. Hệ thống
chứng từ kế toán gồm 2 loại: chứng từ bắt buộc và chứng từ hướng dẫn, cho phép
doanh nghiệp tự thiết kế, thay đổi một số chỉ tiêu trên chứng từ cho phù hợp với
yêu cầu quản lý khác nhau ở mỗi doanh nghiệp. Hệ thống tài khoản với những
quy định trong việc hướng dẫn thiết lập các tài khoản cấp 2, 3 để theo dõi chi tiết
doanh thu, chi phí và các loại tài sản khác nhau. Hệ thống sổ sách kế toán với việc
quy định mở sổ chi tiết theo dõi các đối tượng kế toán phức tạp và nhiều biến

phí và doanh thu.
- Hỗ trợ cho công tác kiểm soát:
Kế toán quản trị cung cấp các báo cáo so sánh thực hiện thực tế so với kế
hoạch, qua đó làm nổi bật lên những hoạt động không tuân thủ kế hoạch đề ra.
- Hỗ trợ cho công tác tổ chức:
Để đảm bảo hệ thống kế toán thích hợp với cấu trúc tổ chức, kế toán quản trị
góp phần tăng cường, cũng cố các mục tiêu của cơ cấu tổ chức.
- Hỗ trợ trong việc thúc đẩy các hoạt động:
Các ngân sách được chuẩn bị bởi kế toán quản trị nhằm phục vụ cho việc
thúc đẩy các nhà quản lý và các thuộc cấp trong việc nổ lực để đạt được các mục
tiêu đề ra của tổ chức. Những mục tiêu chính thức thích hợp cho việc thúc đẩy
hơn là các diễn giải không rỏ ràng.
Các báo cáo thực hiện được kế toán quản trị đưa ra nhằm mục đích kiểm soát
cũng như thúc đẩy thông qua việc chuyển giao các thông tin liên quan đến các
mục tiêu đã thiết lập.
- Hổ trợ cho việc ra quyết định:
Kế toán quản trị là một vị trí thiết yếu cho việc ra quyết định của tổ chức. Kế
toán quản trị thu thập, phân tích dữ liệu và đưa ra các thông tin giúp những nhà
quản trị ra các quyết định quản lý.

12

1.3. Phương pháp kế toán chi phí dựa trên mức độ hoạt động (Activity Based
Costing-ABC)
1.3.1. Tiến trình phát triển của phương pháp ABC
Kết toán quản trị đã chuyển đổi một cách mạnh mẽ trong hơn 10 năm trở lại
đây. Quyển sách “Relevant cost: The Rise and Fall of Management Accounting”
của 2 tác giả Johnson và Kaplan năm 1987 đã nhận định về sự phát triển của kế
toán quản trị cũng như thảo luận các vấn đề liên quan được xem là mốc phát triển
của kế toán quản trị. Những chuyển đổi có thể nhận thấy rõ ở nhiều hướng như:

cho sản phẩm. Tuy nhiên, thực tế không phải lúc nào cũng có thể tập hợp tất cả
các chi phí vào các tổ hợp chi phí dựa trên sự phân chia các hoạt động, mà có
những trường hợp chi phí sản xuất chung được phân bổ dựa trên những cơ sở bất
kỳ.
Do đó, ABC và TCA thực chất là không khác biệt, nhưng cách tập hợp và
phân bổ chi phí thì khác nhau cơ bản ở hai phương pháp

Sơ đồ 1.1 - Tập hợp và phân bổ chi phí theo phương pháp truyền thống Sơ đồ 1.2 - Tập hợp và phân bổ chi phí dựa trên mức độ hoạt động
 Điểm khác nhau:
NVL
LĐ SXC
TRUNG TÂM

Theo cách truyền thống, chi phí được tập hợp vào các trung tâm chi phí vì
các trung tâm này dựa trên việc thiết lập theo chức năng hoặc theo mục đích tổ
chức nên sẽ thuận tiện trong việc thu thập chi phí phát sinh ở trung tâm.
Theo phương pháp ABC, các hoạt động của công ty là đối tượng phân tích và
các chi phí được tính cho các hoạt động này. Các hoạt động với tổ hợp chi phí
(cost pool) thì hẹp hơn nhiều so với trung tâm chi phí (cost center). Ví dụ, trung
tâm gia công cơ khí ở một nhà mày có thể phân chia ra: khoan, tiện, lắp ghép….,
các hoạt động ứng với các quá trình này và các chi phí liên quan là khác nhau ở
những sản phẩm khác nhau. Có rất nhiều cách xác định các hoạt động, tuy nhiên
có thể nói rằng một tổ chức sẽ xác định các hoạt động được mô tả phù hợp với các
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhiều hoạt động xảy ra ở doanh
nghiệp mà không có một chút liên quan gì đến sản phẩm, thí dụ như hoạt động
đào tạo, huấn luyện. Chi phí của các hoạt động gián tiếp này được tính cho các
hoạt động chính yếu mà có liên quan trực tiếp đến sản phẩm.
9 Cơ sở phân bổ bất kỳ/cơ sở phân bổ phù hợp với hoạt động phát sinh chi phí
(arbitrary recovery bases/cost dirvers):
Theo cách truyền thống, chi phí được phân bổ chủ yếu dựa vào giờ công lao
động hoặc giờ hoạt động của máy. Tuy nhiên, rất nhiều trường hợp cơ sở phân bổ
này là tùy ý (kém thuyết phục) và không có mối liên hệ gì đối với việc sử dụng
nguồn lực, làm cho chi phí bị méo mó, không đáng tin cây.
Một trong những lý luận mạnh mẽ ủng hộ phương pháp ABC cho rằng ứng
xử chi phí cần phải được hiểu một cách thấu đáo để có thể thực hiện tốt hệ thống
ABC. Hai tác giả Ward và Patel ủng hộ quan điểm này khi cho rằng “giá trị lớn
nhất của phương pháp ABC chính là sự am hiểu về ứng xử của chi phí chung và
mối liên hệ của nó với sản phẩm, dịch vụ, khách hàng và thị trường”
Việc phân tích và am hiểu cấu trúc chi phí của tổ chức có ý nghĩa quan trọng
trong việc xác định những cơ sở phân bổ phù hợp (cost drivers) như thể là những
15

yếu tố tác động đến ứng xử của chi phí. Nhiều cơ sở phân bổ chi phí được xác

cấp những thông tin thích hợp không chỉ cho việc kiểm soát quá trình hoạt động
và tài sản của tổ chức mà còn cung cấp thông tin cho việc ra các quyết định chiến
lược. Sự phê bình gay gắt đối với hệ thống truyền thống là không cung cấp được
các thông tin về các hoạt động lãng phí, các kênh quảng cáo không hiệu quả, các
khách hàng không sinh lợi…Do đó, một trong những lý do chủ yếu cho việc phát
triển một hệ thống ABC đó chính là quản lý chi phí tốt hơn.
9 Chuỗi giá trị/phân tích chức năng (Value chain/functional analysis)
Các doanh nghiệp hầu hết tổ chức và quản lý theo các tuyến chức năng như
là sản xuất, marketing, tài chính và quản trị...Quá trình sản xuất và phân phối sản
phẩm là sự kết hợp đang xen giữa các tuyến chức năng nhằm đạt được mục tiêu
của tổ chức.
Tuy nhiên, nếu hệ thống xác định chi phí được thiết kế dựa theo các tuyến
chức năng thì chi phí của quá trình hoạt động và sản xuất sản phẩm có thể khó xác
định rõ ràng.
Porter đề nghị nên vận dụng phương pháp chuỗi giá trị cho việc phân tích chi
phí của tổ chức.
Chuỗi giá trị được hiểu là một sự mô tả các quá trình nhờ đó mà giá trị được
cộng thêm vào những nguồn lực đầu vào để chuyển đổi thành sản phẩm và dịch
vụ. Các hoạt động trong chuỗi giá trị gồm hoạt động chính như: lưu trữ nguyên
vật liệu, sản xuất, phân phối, quảng cáo, sửa chữa, bảo trì và hoạt động phụ như:
cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật (kế toán, tài chính, pháp lý và quản trị), nhân sự
(thuê mướn, sa thải, đào tạo và huấn luyện), công nghệ, kỹ thuật (công nghệ thông
tin, nghiên cứu, phát triển và thiết kế sản phẩm) và mua hàng. Nếu chuỗi giá trị
được áp dụng vào quy trình kế toán thì thông qua các hoạt động liên quan việc
tính chi phí cho các sản phẩm trở nên rõ ràng hơn. Một công ty được miêu tả như
là một mạng lưới các quá trình tương tác lẫn nhau nhằm đạt được mục tiêu đề ra
của tổ chức.
17

Thực tế, phân tích chi tiết tất cả quy trình, hoạt động và mối quan hệ lẫn

được tích hợp trong hệ thống kế toán. Những hệ thống đánh giá kết quả thực hiện
ngoại trừ phương pháp đánh giá tài chính thông thường đã không tạo thành một bộ
phận đầy đủ của hệ thống báo cáo quản trị.
Sự phát triển về kỹ thuật cơ sở dữ liệu tạo ra sự tích hợp cấu trúc hệ thống.
Tuy nhiên, kỹ thuật kế toán và đặc biệt là sự phát triển hệ thống sổ sách thì chậm
hơn rất nhiều so với các kỹ thuật khác. Điều này đặt ra cho công ty một nghi vấn
rằng liệu hệ thống mà chỉ đơn thuần cung cấp những bảng tóm tắt và hợp nhất các
đặc điểm tài chính của tổ chức là đầy đủ hay chưa?
Một hệ thống hiện đại cung cấp một hệ thống thông tin mà có thể đánh giá
được toàn bộ quá trình thực hiện của tổ chức. Thật không thể tin rằng, một hệ
thống kế toán đơn thuần chỉ phản ảnh một bộ phận thông tin về tổ chức sẽ có thể
tồn tại trước những thử thách của thế kỷ 21. Trong tương lai chức năng cung cấp
thông tin kế toán rất có thể bị lấn áp bởi các chức năng công nghệ thông tin và kỹ
thuật.
Người ta cho rằng, đánh giá kết quả thực hiện của bất kỳ sự kiện hay giao
dịch nào sẽ không đầy đủ nếu không có một kết luận về thời gian hoặc chu kỳ sản
xuất tối thiểu, cường độ sản xuất và chất lượng sản phẩm. Hệ thống kế toán nên
thông báo những yếu tố này thật đầy đủ để có thể duy trì sự thích ứng.
Để có một cái nhìn toàn diện hơn về phương pháp ABC phải xét đến những
mặt thuận lợi và không thuận lợi của hệ thống ABC.
1.3.3. Một số điểm thuận lợi và và không thuận lợi trong việc vận dụng
phương pháp ABC
 Những điểm thuận lợi:
- Khả năng quản lý chi phí của phương pháp ABC được đánh giá là tốt hơn
so với phương pháp TCA
- Phương pháp ABC tập trung đa chiều vào chi phí, điều này có thể thấy rõ
ràng ở chi phí chung. Hầu hết hệ thống ABC cung cấp một báo cáo toàn diện, dễ
hiểu về những cấu trúc chi phí, mà hệ thống TCA không thể cung cấp được.
19



việc phân tích rất lớn được thực hiện. Kế hoạch phải được thiết lập một cách kỹ
lưỡng và chu đáo, quy trình quản lý chi phí tỉ mỉ hơn sẽ gia tăng yếu tố đầu vào
(tăng chi phí).
- Một hệ thống kế toán phức tạp hơn rất nhiều được triễn khai trong khi tổ
chức không có đủ nhân sự hoặc chuyên gia để quản lý, điều này dễ dàng dẫn đến
sự thiếu tin tưởng vào hệ thống do bởi các thông tin thiếu tin cậy.
Tóm lại, việc tập hợp chi phí có ý nghĩa thiết thực trong việc đánh giá đúng
thực tế sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp cũng như đưa ra các quyết định đầu
tư và giá bán hợp lý. Trong khi, các phương pháp truyền thống phân bổ chi phí
dựa trên tiêu thức đơn và ít thể hiện được mối quan hệ nhân quả thì phương pháp
ABC dựa trên hệ thống các tiêu thức phức hợp phản ánh rõ ràng mối liên hệ nhân
quả giữa đối tượng muốn tính chi phí và chi phí gián tiếp. Việc lựa chọn phương
pháp nào còn tùy thuộc vào hệ thống tập hợp chi phí ở mỗi doanh nghiệp mà thực
chất là từ yêu cầu quản lý của các nhà quản trị ở mỗi doanh nghiệp.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, luận văn đã tiến hành nghiên cứu về lịch sử hình thành và
phát triển của kế toán nói chung và kế toán quản trị nói riêng, nêu bật sự cần thiết
của kế toán quản trị đối với quá trình quản lý điều hành doanh nghiệp, nhất là
trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay.
Luận văn đi sâu nghiên cứu phương pháp ABC - một trong những phương
pháp phân bổ chi phí của kế toán quản trị hiện đại, cho thấy sự khác biệt cơ bản
giữa phương pháp phân bổ chi phí theo cách truyền thống và phương pháp ABC,
đồng thời nêu lên được những thuận lợi và không thuận lợi trong vận dụng
phương pháp ABC ở mỗi doanh nghiệp.
Tất cả vần đề nghiên cứu này là cơ sở để luận văn xác lập nội dung và đưa ra
các giải pháp cụ thể cho việc vận dụng phương pháp ABC ở Công ty cổ phần kem
Ki Do.
Kế
hoạch
Kỹ
thuật
Phaùt
trieån SP

Kế
toán
Marketing
Nhân
sự

Bán
hàng
Sản
xuất
QA
Kho
Hội đồng quản trị
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status