LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế quốc dân, Doanh nghiệp sản xuất là tế bào của nền
kinh tế. Đây là nơi trực tiếp sáng tạo ra cơ sở vật chất cho xã hội, cũng như bất
kỳ một Doanh nghiệp sản xuất nào, Doanh nghiệp xây dựng trong quá trình
hoạt động kinh doanh của mình đều phải tính toán chi phí bỏ ra và kết quả thu
về, nhất là trong nền kinh tế thị trường, Doanh nghiệp có tồn tại và phát triển
được hay không phụ thuộc vào việc Doanh nghiệp có đảm bảo bù đắp được chi
phí bỏ ra trong quá trình sản xuất và có lãi.
Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố quan trọng không thể thiếu của
quá trình sản xuất. Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một lần trong một chu kỳ
sản xuất và hình thái vật chất ban đầu của vật liệu bị biến đổi chuyển hoá kết
tinh vào sản phẩm về cả mặt hiện vật cũng như mặt giá trị. Do đó chi phí vật
liệu chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Muốn
cho quá trình sản xuất kinh doanh được thường xuyên liên tục thu nhập đủ bù
đắp chi phí có lãi đòi hỏi Doanh nghiệp phải phấn đấu tiết kiệm chí phí sản
xuất hạ giá thành sản phẩm bằng cách tiến hành kết hợp nhiều biện pháp
đồng bộ. Trên giác độ của kế toán để thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của
mình thì việc quản lý, hạch toán chính xác vật liệu (nhất là trong lĩnh vực xây
dựng cơ bản) vào giá thành sản phẩm là cần thiết và quan trọng.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong thời gian thực tập tại Công ty
TNHH tư vấn thiết kế xây dựng Tương Lai Mới, em đã đi sâu tìm hiểu về công
tác Kế toán Nguyên vật liệu ở Công ty.
Dựa vào tình hình thực tế sản xuất kinh doanh tại Công ty kết hợp với lý
luận được trang bị trên ghế nhà trường, em đã chọn đề tài: “ KẾ TOÁN
NGUYÊN VẬT LIỆU Ở CÔNG TY TNHH TƯ VẤN THIẾT KẾ XÂY DỰNG TƯƠNG
LAI MỚI’’ làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Nội dung chuyên đề bao gồm các phần chính sau:
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
TRONG CÔNG TY XÂY LẮP.
Chương 2 : THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT
việc hạ giá thành. Doanh nghiệp nên tập trung quản lí nguyên vật liệu một cách
chặt chẽ từ khâu mua, bảo quản, dự trữ, sử dụng nhằm hạ thấp chi phí nguyên
vật liệu.
3
Về mặt giá trị thì nguyên vật liệu là tài sản dự trữ thuộc tài sản lưu động,
do vậy việc tăng tốc độ vốn kinh doanh không thể tách rời việc dự trữ sử dụng
nguyên vật liệu một cách tiết kiệm và hiệu quả.
Từ vị trí quan trọng của nguyên vật liệu càng cho thấy ý nghĩa của kế toán
nguyên vật liệu. Kế toán nguyên vật liệu tốt là điều kiện giúp cho doanh nghiệp
hoạt động hiệu quả hơn.
Xuất phát từ tầm quan trọng đó đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lí
nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất.
1.1.2 Đặc điểm, yêu cầu quản lí Nguyên vật liệu.
Như trên đã thấy được đặc điểm và vị trí quan trọng của nguyên vật liệu
trong quá trình sản xuất, do đó yêu cầu tất yếu đặt ra là chúng ta phải quản lí
nguyên vật liệu. Đây là công tác không thể thiếu được của mọi nền sản xuất xã
hội, nhưng do trình độ sản xuất khác nhau nên phạm vi, mức độ, phương pháp
quản lí cũng khác nhau. Muốn giảm chi phí sản xuất, hạ được giá thành thì phải
quản lí chặt chẽ nguyên vật liệu ở các khâu mua, dự trữ và bảo quản và sử dụng
nguyên vật liệu. Đó là yếu tố khách quan và là yêu cầu trong kinh doanh của nền
kinh tế thị trường nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Trong khâu thu mua nguyên vật liệu phải quản lí về khối lượng, quy cách,
chủng loại, giá mua, thuế GTGT được khấu trừ và chi phí mua. Đồng thời phải
thực hiện kế hoạch mua theo đúng tiến độ, thời gian phù hợp với kế hoạch sản
xuất kinh doanh của doanh nghiêp.
Trong quá trình bảo quản nguyên vật liệu phải tổ chức tốt kho tàng bến
bãi, xây dựng và thực hiện tốt chế độ bảo quản đối với từng thứ nguyên vật liệu,
tránh hư hỏng, mất mát, hao hụt nhằm đảm bảo an toàn cho nguyên vật liệu cả
về số lượng, chất lượng và cả về giá trị.
Trong khâu sử dụng nguyên vật liệu cần phải tổ chức tốt việc ghi chép,
- Thực hiện việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch mua, dự
trữ và sử dụng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
1.2 Tổ chức kế toán NVL trong quá trình sản xuất.
1.2.1 Phân loại, đánh giá nguyên vật liệu.
1.2.1.1 Phân loại nguyên vật liệu.
5
Trong các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu bao gồm nhiều loại, thứ
với nội dung kinh tế, công dụng, tính chất hóa học và yêu cầu quản lí khác nhau.
Vì vậy để quản lí chặt chẽ từng loại, thứ nguyên vật liệu phục vụ cho công tác
quản trị doanh nghiệp cần thiết phải tiến hành phân loại nguyên vật liệu.
● Phân loại NVL theo nội dung kinh tế và yêu cầu quản trị trong DNSX.
- Nguyên vật liệu chính: Là đối tượng tạo nên thực thể của sản phẩm. Đối
với thành phẩm mua ngoài với mục đích để tiếp tục gia công chế biến được coi
là nguyên vật liệu chính.
- Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi sử dụng chỉ có tác dụng phụ có
thể làm tăng chất lượng sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm hoặc đảm bảo cho công
cụ, dụng cụ hoạt động được bình thường.
- Nhiên liệu: Là những thứ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá
trình sản xuất sản phẩm, tạo điều kiện cho quá trình chế toạ sản phẩm diễn ra
bình thường, Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, thể rắn và thể khí.
- Phụ tùng thay thế: Là các loại phụ tùng, chi tiết được sử dụng để thay
thế, sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ sản
xuất...
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm những vật liệu, thiết bị,
công cụ, khí cụ, vật kết cấu dùng cho công tác xây dựng cơ bản.
- Vật liệu khác: Là những loại vật liệu chưa được xếp vào các loại trên
thường là những vật liệu được loại ra từ quá trình sản xuất hoặc phế liệu thu hồi
từ thanh lí TSCĐ.
Ngoài ra tùy thuộc vào yêu cầu quản lí và hạch toán chi tiết của doanh
nghiệp mà trong từng loại nguyên vật liệu trên chia thành từng nhóm, từng thứ.
sản phẩm và chi phí ước tính để tiêu thụ chúng.
Thực hiện nguyên tắc thận trọng bằng cách lập dự phòng giảm giá nguyên
vật liệu, kế toán đã ghi sổ theo giá gốc và phản ánh khoản dự phòng giảm giá
nguyên vật liệu.
- Nguyên tắc nhất quán: Các phương pháp kế toán áp dụng đánh giá
nguyên vật liệu phải đảm bảo tính nhất quán, tức là kế toán đã áp dụng phương
pháp nào thì phải nhất quán trong suốt niên độ kế toán. Doanh nghiệp có thể
7
thay thế phương pháp đã chọn, nhưng phải đảm bảo phương pháp thay thế cho
phép trình bày thông tin kế toán một cách trung thực và hợp lý hơn, đồng thời
phải giải thích được ảnh hưởng của sự thay đổi đó.
♦ Đánh giá nguyên vật liệu.
Xác định trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu nhập kho.
Trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu nhập kho được xác định theo từng
nguồn nhập:
Nhập kho do mua ngoài: Trị giá vốn thực tế nhập kho bao gồm giá mua,
các loại thuế không được hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp trong quá trình
mua hàng và các chi phí liên quan khác có liên quan đến mua nguyên vật liệu,
trừ đi các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá hàng mua do không đúng
quy cách, phẩm chất.
Trường hợp mua nguyên vật liệu vào được sử dụng cho đối tượng chịu
thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ thì giá mua là giá chưa có thuế
GTGT.
Trường hợp nguyên vật liệu mua vào được sử dụng cho các đối tượng
không chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hoặc sử dụng cho mục đích
phúc lợi, các dự án… thì giá mua bao gồm cả thuế GTGT.
Nhập do tự sản xuất: Trị giá vốn thực tế nhập kho là giá thành sản xuất
của nguyên vật liệu gia công chế biến.
Nhập do thuê ngoài gia công chế biến: Trị giá vốn thực tế nhập kho là trị
giá vốn thực tế của vật liệu xuất ngoài thuê gia công chế biến cộng (+) các chi
vật liệu còn lại cuối kỳ là nguyên vật liệu được mua hoặc sản xuất gần thời điểm
cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá trị của hàng xuất kho sẽ được tính theo
giá trị của lô hàng nhập kho tại thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của
nguyên vật liệu tồn kho được tính theo giá trị của hàng nhập kho ở thời điểm
cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.
● Phương pháp nhập sau, xuất trước: Áp dụng trên giả định là nguyên vật
liệu được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, nguyên vật liệu còn lại
cuối kỳ là nguyên vật liệu được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp
này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá trị của lô hàng nhập sau hoặc
9
gần sau cùng, giá trị của nguyên vật liệu tồn kho được tính theo giá trị của hàng
nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho.
1.2.2 Kế toán chi tiết Nguyên vật liệu.
Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu là việc hạch toán kết hợp với thủ kho và
phòng kế toán trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất kho; nhằm đảm bảo theo dõi
số hiện có và tình hình biến động của từng nhóm, loại, thứ tự nguyên vật liệu cả
về số lượng và giá trị. Các doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống chứng từ, mở các
sổ kế toán chi tiết và vận dụng các phương pháp hạch toán chi tiết nguyên vật
liệu phù hợp để góp phần tăng cường quản lí nguyên vật liệu. Kế toán chi tiết
nguyên vật liệu phải được đồng thời tiến hành hai nơi: kho và phòng tài vụ. Tuỳ
theo điều kiện cụ thể mà doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong ba phương
pháp sau:
- Phương pháp ghi thẻ song song.
- Phương pháp ghi sổ đối chiếu luân chuyển
- Phương pháp ghi sổ số dư.
Nhìn chung, dù áp dụng phương pháp nào trong các phương pháp trên.
doanh nghiệp đều phải tiến hành theo dõi tình hình nhâp-xuất-tồn ở kho và ở
phòng tài vụ trên các cơ sở chứng từ nhập-xuất, có thể khái quát nội dung kế
toán chi tiết vật liệu ở các phương pháp trên như sau:
● Tại kho: Cả ba phương pháp trên đều hạch toán giống nhau. Theo đó kế
thẻ song song là vẫn còn ghi trùng lặp giữa kho và phòng kế toán về chỉ tiêu số
lượng, mặt khác việc kiểm tra, đối chiếu giữa thủ kho và kế toán chỉ được tiến
hành vào cuối tháng nên hạn chế tác dụng của kiểm tra kế toán. Do đó trên lý
thuyết thì phương pháp này chỉ thích hợp với các doanh nghiệp có vật tư ít,
không có điều kiện ghi chép, theo dõi tình hình nhập - xuất hàng ngày còn thực
tế thì thường ít áp dụng phương pháp này.
Còn phương pháp ghi sổ số dư có nhiều ưu điểm hơn cả so với hai
phương pháp trên, khắc phục được sự ghi chép trùng lặp giữa thủ kho và phòng
kế toán, nó còn giảm bớt được khối lượng ghi chép kế toán, công việc được tiến
hành đều trong tháng. Cho nên phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp
sản xuất có khối lượng các nghiệp vụ xuất nhiều, thường xuyên, nhiều loại
11
chủng loại vật liệu và với điều kiện doanh nghiệp đã áp dụng giá hạch toán để
hạch toán giá nhập - xuất, đã xây dựng hệ thống danh điểm vật liệu, trình độ
nghiệp vụ và chuyên môn của kế toán vững vàng. Tuy nhiên, phương pháp này
có nhược điểm là do kế toán chỉ theo dõi về mặt giá trị nên muốn biết số liệu
hiện có và tình hình tăng giảm về mặt hiện vật nhiều khi phải xem trên thẻ kho.
Hơn nữa việc kiểm tra phát hiện sai sót, nhầm lẫn giữa kho và phòng kế toán
còn gặp khó khăn.
12
SƠ ĐỒ 1.1: PHƯƠNG PHÁP GHI THẺ SONG SONG
Ghi chú:
Ghi hàng ngày.
Ghi cuối tháng.
Đối chiếu cuối tháng.
13
Thẻ kho
Phiếu
nhập kho
Sổ kế toán
Đối chiếu cuối tháng.
15
Thẻ kho
Phiếu
nhập kho
Bảng kê nhập
xuất tồn
Sổ kế toán
tổng hợp
Phiếu
Xuất kho
Phiếu giao
nhận chứng
từ
Phiếu giao
nhận chứng
từ
Bảng luỹ
kế nhập
Bảng luỹ
kế xuất
Sổ số dư
1.2.3 Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu.
1.2.3.1 Chứng từ kế toán sử dụng.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh liên quan đến việc nhập, xuất nguyên vật liệu đều phải lập
chứng từ đầy đủ, kịp thời đúng chế độ quy định.
Theo quy định về chứng từ kế toán ban hành theo quyết định số
15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 và theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày
14/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, các chứng từ kế toán về nguyên vật liệu
hoá xuất kho được tính theo 1 trong 4 phương pháp của chuẩn mực hàng tồn kho
và được phản ánh trên tài khoản và sổ kế toán. Căn cứ vào các chứng từ nhập,
xuất kho nguyên vật liệu được phân loại theo từng đối tượng sử dụng vật liệu và
giá trị của vật liệu tồn kho có thể được xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ
căn cứ vào số liệu trên tài khoản và sổ kế toán.
Tài khoản kế toán sử dụng.
+ Tài khoản 152 “Nguyên liệu, vật liệu”. Tài khoản này dùng để phản ánh
số hiện có và tình hình tăng, giảm nguyên vật liệu của doanh nghiệp theo giá
vốn thực tế. Tài khoản 152 được mở tài khoản cấp 2,3 trong từng doanh nghiệp.
+ Tài khoản 151 “Hàng mua đang đi đường”. Tài khoản này dùng để phản
ánh giá trị của nguyên vật liệu mà doanh nghiệp đã mua, đã chấp nhận thanh
toán nhưng chưa về nhập kho doanh nghiệp và tình hình hàng đi đường đã về
nhập kho.
+ Tài khoản 331 “Phải trả cho người bán”.Tài khoản này được phản ánh
quan hệ thanh toán với người bán.
+ Tài khoản 133 “Thuế GTGT được khấu trừ”. Tài khoản này được dùng
để phản ánh số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, đã khấu trừ và còn được
khấu trừ.
Ngoài các tài khoản trên, kế toán còn sử dụng các tài khoản liên quan
khác như: TK 111, TK 112, TK141, TK 128, TK411, TK621, TK627, TK641…
Trình tự kế toán nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai
17
thường xuyên được biểu diễn thông qua sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ 1.4
KẾ TOÁN TỔNG HỢP NHẬP – XUẤT VẬT LIỆU THEO
PHƯƠNG PHÁP KÊ KHAI THƯỜNG XUYÊN
18
TK 11, 112, 141, 331, .. TK 133
Tổng giá Thuế GTGT
Thanh toán được khấu trừ
Tăng vật liệu
TK412
∗ Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kỳ.
Đặc điểm:
Theo phương pháp kiểm kê định kỳ thì kế toán không thực hiện ghi chép,
phản ánh thường xuyên liên tục và có hệ thống tình hình nhập, xuất vật liệu vào
các tài khoản phản ánh trên các tài khoản hàng tồn kho mà khi phát sinh các
nghiệp vụ tăng, giảm nguyên vật liệu, kế toán phản ánh vào một tài khoản riêng
sử dụng cho phương pháp kiểm kê định kỳ, đó là TK 611. Vào cuối kỳ thì phải
kiểm kê định kỳ nguyên vật liệu để xác định giá vốn thực tế của vật liệu tồn kho
cuối kỳ theo một trong bốn phương pháp tính giá trị hàng tồn kho của chuẩn
mực kế toán, sau đó mới xác định giá vốn thực tế của vật liệu xuất kho theo
công thức:
Tài khoản sử dụng:
- TK 611 “Mua hàng”.Tài khoản này dùng để phản ánh giá vốn thực tế
của vật liêụ trong kỳ.
Ngoài ra kế toán còn sử dụng TK 151, 152 để phản ánh giá trị của vật liệu
tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ.
Trình tự kế toán.
19
Giá vốn thực
tế của vật liệu
xuất kho trong
kỳ
= + -
Giá vốn thực
tế của vật liệu
tồn kho đầu kỳ
Giá vốn thực
tế của vật liệu
thức sổ kế toán, đó là:
- Hình thức kế toán Nhật ký chung.
- Hình thức kế toán Nhật ký - sổ cái.
- Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ.
- Hình thức Nhật ký - chứng từ.
- Hình thức kế toán trên máy vi tính
Mỗi một hình thức đều có đặc điểm riêng, ưu nhược điểm khác nhau. Các
doanh nghiệp căn cứ vào hệ thống tài khoản, chế độ kế toán của Nhà nước, căn
cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất và yêu cầu quản lý cũng như trình
độ nghiệp vụ, điều kiện trang bị kỹ thuật mà lựa chọn hình thức kế toán cũng
như hệ thống sổ kế toán cho phù hợp. Vì vậy tuỳ theo từng hình thức kế toán
vận dụng trong doanh nghiệp mà kế toán vật liệu có những sổ khác nhau.
Tuy nhiên dù là hình thức kế toán nào thì kế toán vật liệu đều sử dụng sổ
kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết nguyên vật liệu.
Sổ kế toán tổng hợp.
Là sổ phản ánh số liệu kế toán (số dư, số phát sinh) đầy đủ và tổng quát
cho tình hình nhập, xuất, tồn kho nguyên vật liệu. Do vậy tuỳ theo hình thức kế
toán áp dụng mà sổ tổng hợp nguyên vật liệu có thể là “sổ nhật ký chuyên
dùng”, “sổ nhật ký chung”,“Sổ cái TK 152” (theo hình thức nhật ký chung), hay
“sổ nhật ký sổ cái” (theo hình thức nhật ký sổ cái), “chứng từ ghi sổ”, “sổ đăng
ký chứng từ ghi sổ”, “sổ cái 152” (theo hình thức chứng từ ghi sổ), “sổ nhật ký
chứng từ”, “sổ cái 152” (theo hình thức sổ nhật ký chứng từ). Số liệu trên sổ kế
toán tổng hợp thường được dùng để lập báo cáo tài chính.
Sổ kế toán chi tiết Nguyên vật liệu.
Là sổ phản ánh thông tin chi tiết về từng loại việc nhập, xuất. Việc ghi sổ
chi tiết cũng được căn cứ trên cơ sở các “Phiếu nhập kho”, “Phiếu xuất kho”,
21
“Bảng kê”…Số liệu trên sổ chi tiết để quản lí chi tiết vật liệu nhập kho, xuất kho
về mặt số lượng và giá trị, để đối chiếu hoặc làm căn cứ để ghi sổ tổng hợp vật
liệu. Sổ chi tiết vật liệu thường dùng là “Sổ chi tiết vật liệu”, “Sổ xuất vật tư
- ....
Ngoài ra Công ty còn tham ra sản xuất vật liệu xây dựng đá, sỏi phục vụ
cho thi công các công trình giao thông, thuỷ lợi, dân dụng, . Quá trình phát triển
của Công ty trong thời gian qua được thể hiện qua một số chỉ tiêu kinh tế ở biểu
sau :
23
MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA CÔNG TY TNHH TƯ VẤN THIẾT KẾ XÂY DỰNG TƯƠNG LAI MỚI
TRONG 3 NĂM
CHỈ TIÊU
ĐƠN VỊ
TÍNH
NĂM 2005 NĂM 2006 NĂM 2007
- Giá trị tổng sản
lượng
1000đ 4.745.962,0 3.472.905,0 5.333.348,0
- Doanh thu tiêu thụ 1000đ 3.853.245,0 2.498.365,0 4.193.685,0
- Lợi nhuận 1000đ 50.730,0 20.595,0 66.406,0
- Tổng số lao động Người 13 22 35
- Thu nhập bình quân đồng 1.000.000 1.530.000 1.850.000
- Nộp ngân sách 1000đ 16.860 14.500 19.210
2.1.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý của Công ty
2.1.2.1. Đặc điểm về tổ chức sản xuất:
Với chức năng nhiệm vụ chính của Công ty là chuyên trách thi công các
công trình xây dựng cơ bản, về giao thông, công trình dân dụng, đường điện,
trạm biến áp, các công trình về thuỷ lợi…
Căn cứ vào tính chất và quy mô hoạt động, địa bàn hoạt động, tình hình
trang bị phương tiện, trình độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên trong Công
ty, để phù hợp với cơ chế mới Công ty đã không ngừng hoàn thiện cho bộ máy
quản lý của Công ty ngày càng gọn nhẹ nhưng đạt hiệu quả cao. Do các công
tổ chức quá trình sản xuất thi công để tạo ra sản phẩm (công trình hay hạng mục
công trình).
+ San nền, giải quyết mặt bằng thi công, đào đất, làm móng.
+ Tổ chức lao động, bố trí máy móc thi công, cung ứng vật tư.
+ Xây trát trang trí hoàn thiện.
- Công trình được hoàn thành với sự giám sát của chủ đầu tư công trình về
mặt kỹ thuật và tiến độ thi công.
25