câu hỏi và đáp án ôn thi tốt nghiệp môn chủ nghĩa xã hội khoa học - Pdf 25

CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Câu 1: Dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam hiện nay
Trả lời: Dân chủ xuất hiện từ khi xã hội có chế độ tư hữu, có giai cấp, xuất hiện sự
thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác trong xã hội. Nhà nước dân chủ chủ nô
đầu tiên xuất hiện ở Aten- Hi Lạp cổ đại và chính thức sử dụng danh từ ; dân chủ=
Demokratia; , tro đó demos là ; nhân dân; và kratos là chính quyền hay ; quyền lực;. Có
nghĩa là Nhà nước dân chủ chủ nô có ; quyền lực của dân’ . Theo nguyên nghĩa của nó,
dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân, nó nói lên rằng nhân dân là chủ thể của
quyền lực. Nhưng dân theo quy định của pháp luật gồm giai cấp chủ nô, tăng lữ,
thương gia, một số trí thức và người tự do, còn đại đa số là nô lệ thì không được coi là
dân. Như vậy, về thực chất giai cấp bóc lột đầu tiên đã lập ra Nhà nước và luật pháp,
lạm dụng khái niệm dân chủ để chiếm lấy quyền lực thực sự của nhân dân lao động.
Trong suốt chiều dài lịch sử, khi Nhà nước nằm trong tay giai cấp bóc lột thì dù có
mang tên dân chủ nhưng thực chất vẫn không phải là Nhà nước thực hiện quyền lực
thực sự của nhân dân, nó chỉ phục vụ quyền và lợi cho một số thiểu số thống trị mà
thôi. Chỉ đến cách mạng XHCN Tháng 10 Nga thắng lợi, mở ra thời đại mới, khi đó
nhân dân lao động mới thực sự giành được chính quyền, giành lại những tư liệu sản
xuất chủ yếu của xã hội, giành lại quyền lực thực sự của mình, lập ra Nhà nước dân
chủ XHCN. Khi đó dân chủ mới đúng nghĩa là nhân dân lao động làm chủ.
Tóm lại, nhân loại từ lâu đời đã có nhu cầu và bước đầu thực hiện dân chủ và có quan
niệm về dân chủ, đó là việc thực thi quyền lực của dân. Đây là một khái niệm lịch sử,
tuy nhiên dân là những ai, còn do bản chất chế độ xã hội quy định., nhất là khi xã hội
phân chia thành giai cấp, thì dân còn do bản chất giai cấp thống trị xã hội quy định cụ
thể trong từng xã hội nhất định.
Chủ nghĩa Mác- Lênin đã nêu quan niệm về dân chủ với các luận điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: Kế thừa những thành tựu dân chủ mà nhân loại đã đạt được trên cả hai
phương diện lý luận và thực tiễn, chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng: Dân chủ là một nhu
cầu khách quan của nhân dân lao động, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân lao
động.

do nhân dân và vì nhân dân. Cuộc cách mạng XHCN, khác với các cuộc cách mạng
trước đây là ở chỗ nó là cuộc cách mạng của số đông, vì lợi ích của số đông nhân dân.
V.I.Lênin còn nhấn mạnh rằng: Dân chủ XHCN là chế độ mà nhân dân ngày càng tham
gia nhiều vào công việc Nhà nước. Với ý nghĩa đó, V.I.Lênin đã diễn đạt một cách khái
quát về bản chất và mục tiêu của dân chủ XHCN rằng: đó là nền dân chủ ; gấp triệu lần
dân chủ tư sản;
Tóm lại, xét về bản chất chính trị, dân chủ XHCN vừa có bản chất giai cấp công nhân,
vừa có tính nhân dân rộng rãi, tính dân tộc sâu sắc.
Bản chất kinh tế: Nền dân chủ XHCN dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản
xuất chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản
xuất dựa trên cơ sở khoa học= công nghệ hiện đại nhằm thoả mãn ngày càng cao
những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lạo động.
Bản chất kinh tế đó chỉ được bộc lộ đầy đủ qua một quá trình ổn định chính trị, phát
triển sản xuất và nâng cao đời sống của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của đảng Mac-
Lênin và quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ của Nhà nước XHCN.
Bản chất kinh tế của nền dân chủ XHCN dù khác về bản chất kinh tế của các chế độ tư
hữu, áp bức, bóc lột, bất công, nhưng cũng như toàn bộ nền kinh tế XHCN, nó không
hình thành từ ; hư vô; theo mong muốn của bất kỳ ai. Kinh tế XHCN cũng là sự kế
thừa và phát triển mọi thành tựu nhân loại đã tạo ra trong lịch sử, đồng thời lọc bỏ
những nhân tố lạc hậu, tiêu cực, kìm hãm…của các chế độ kinh tế trước đó, nhất là bản
chất tư hữu, áp bức bóc lột bất công….đối với đa số nhân dân.
Bản chất tư tưởng- văn hoá; Nền dân chủ XHCN lấy hệ tư tưởng Mác- Lênin – hệ tư
tưởng của giai cấp công nhân làm nền tảng, chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức xã hội
khác trong xã hội mới ( như văn học nghệ thuật, giáo dục, đạo đức, lối sống, văn hoá,
xã hội, tôn giáo….) Đồng thời nó kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hoá truyền
thống các dân tộc; tiếp thu những giá trị tư tưởng- văn hoá , văn minh , tiến bộ xã
hội….mà nhân loại đã tạo ra ở tất cả các quốc gia, dân tộc….
Do đó, đời sống tư tưởng- văn hoá của nền dân chủ XHCN rất phong phú, đa dạng,
toàn diện và ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu, thành mục tiêu và
động lực cho quá trình xây dựng CNXH.

sản cả về bản chất, mục tiêu, vai trò, chức năng và các hoạt động theo những nguyên
tắc, pháp luật, chính sách của nó.
Mối quan hệ giữa đổi mới hệ thống chính trị với dân chủ hóa ở Việt Nam:
Thứ nhất: Phát huy vai trò người lãnh đạo duy nhất là Đảng cộng sản Việt Nam, không
chia sẻ quyền lãnh đạo xã hội cho bất kỳ giai cấp nào, tầng lớp nào hay cá nhân nào
( đó là điều có tính nguyên tắc cao nhất). Điều đó xuất phát từ thực tế lịch sử của đất
nước, từ yêu cầu khách quan của sự ổn định và phát triển xã hội, từ lợi ích cơ bản của
nhân dân lao động và của dân tộc ta.
Thứ hai: Khẳng định bản chất chế độ dân chủ và hệ thống chính trị nước ta hiện nay là
XHCN ( dù mới bước đầu xây dựng), thể hiện cả tính giai cấp công nhân, tính nhân
dân rộng rãi, tính dân tộc và nhân đạo sâu sắc, có kế thừa những thành quả tích cực của
dân chủ tư sản, nhưng khác về bản chất, mục đích và nhiều vấn đề khác.
Thứ ba: Trong nền dân chủ và hệ thống chính trị nước ta hiện nay, Nhà nước là tổ chức
đặc biệt quan trọng, nhà nước chuyên chính vô sản, chuyên chính với mọi kẻ thù của
nhân dân, của CNXH và mọi thế lực cản trở công cuộc đổi mới đất nước theo định
hướng XHCN, từng bước tổ chức và xây dựng CNXH mới với mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; đây vẫn là chức năng nhiệm vụ cơ bản
quyết định nhất, khó khăn, phức tạp và lâu dài nhất.
Thứ tư: Cơ cấu chủ yếu của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay xét theo nghĩa hẹp,
vẫn gồm có Đảng cộng sản lãnh đạo, Nhà nước quản lý, các đoàn thể chính trị của
nhân dân.
Thứ năm : Vai trò, chức năng, nhiệm vụ chung nhất của mỗi tổ chức trong hệ thống
chính trị và mối quan hệ giữa các tổ chức đó, vẫn quán triệt những tư tưởng chỉ đạo rất
cơ bản của chủ nghĩa Mác- Leenin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Các nội dung cơ bản trong đổi mới hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ ở nước ta hiện
nay.
Trong đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay cần quán triệt tốt các nguyên
tắc chung sau:
Một là: Đổi mới HTCT tức là ngày càng làm rõ vai trò, nhiệm vụ, chức năng, nội dung,
phương thức hoạt động của mỗi bộ phận và các mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị

cơ quan Nhà nước”.
Ba là: Đổi mới phương thức hiện quả hoạt động của Quốc hội: Nâng cao năng lực am
hiểu về lập pháp, lập quy của các cơ quan và các đại biểu của Quốc hội ( nhất là đại
biểu chuyên trách) ” Đổi mới quy trình chuẩn bị và thông qua các dự án luật tại kỳ
họp Quốc hội; xây dựng Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, xác định rõ cơ chế
gaism sát đối với Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
từng bước tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách; coi trọng việc lấy ý kiến của nhân
dân trong quá trình xây dựng luật và chuẩn bị những quyết sách của Quốc hội ”
Trên cơ sở đổi mới Quốc hội mà kiện toàn, nâng cao năng lực và hiệu quả của các cáp
Hội đồng nhân dân với những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và nội dung cụ thể gắn
với cơ sở, địa phương.
Bốn là: Đổi mới hoạt động của Chính phủ và hệ thống cơ quan hành pháp; Tiến hành
cải cách bộ máy hành chính, trước hết là bố trí lại cơ cấu tổ chức Chính phủ cho tinh
gọn, năng động và quản lý vĩ mô có hiệu quả hơn. Từ đó điều chỉnh cơ cấu các bộ, ban,
ngành, Ủy ban nhân dân các cấp cũng theo hướng gọn nhẹ, năng động hiệu quả trong
thực thi pháp luật, chính sách, kế hoạch phục vụ phát triển kinh tế-xã hội trên cả
nước. Từng bước hiện đại hóa cơ quan hành chính các cấp, trong đó có vấn đề vai trò
hoạt động “ hành chính công”.
Đối với đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước: Nâng cao chất lượng đào tạo, đào tạo lại
cán bộ, công chức theo yêu cầu mới của cải cách hành chính Nhà nước. Đổi mới việc
quản lý, đánh giá cán bộ, công chức; sử dụng, đãi ngộ cán bộ, công chức theo hướng
tiêu chuẩn hóa; cải cách hành chính chế độ tiền lương, nâng cao phẩm chất đạo đức cán
bộ, công chức; tăng cường kiểm tra, giám sát, thưởng, phạt nghiêm minh.
Năm là: Đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân. Nâng cao chất lượng tham gia quản lý, giám sát các hoạt động của nhà nước, tham
gia xây dựng và bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích chính đáng của các thành viên, gắn hoạt
động của các đoàn thể với các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, dân tộc, tôn
giáo một cách thiết thực, chủ động và hiệu quả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status