1
Câu 1: Trình bày quan điểm của
chủ nghĩa Mác-lênin về vấn đề tôn
giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo,
liên hệ đến việc thực hiện chính
sách tôn giáo ở nước ta hiện nay.
Bài làm
Ngày nay tín ngưỡng, tôn giáo
đang là vấn đề sôi động trong mỗi
nước và trên toàn thế giới, các thế
lực thù địch với CNXH và độc lập dân
tộc đang tiếp tục thực hiện lợi dụng
về vấn đề tôn giáo để tác động và
can thiệp vào công việc nội bộ của
các nước, phục vụ các ý đồ chính trị
đen tối của chúng.
Ở nước ta đang tồn tại nhiều
hình thức tín ngưỡng, tôn giáo và
đang có xu hướng phát triển. Tình
trạng tuyên truyền đạo trái phép,
nhiều tà giáo mới xuất hiện, hiện
tượng mê tín dị đoan đang có chiều
hướng phát triển. Một số người trong
các tôn giáo đang có ý định liên kết
với nhau, thực hiện “liên tôn” chống
cộng. Do vậy, việc giải quyết đúng
đắn vấn đề tôn giáo là yêu cầu cấp
bách của sự nghiệp đổi mới của
nước ta, nó đòi hỏi phải nghiên cứu
kỹ những quan điểm cơ bản của chủ
nghĩa Mác-Lênin và những biến động
còn là việc đời.
Tôn giáo không có nội dung
riêng, nó phản ánh hiện thực xã hội
một cách sai lệch, hư ảo. Tôn giáo
là hạnh phúc hư ảo, là thuốc phiện
của tín đồ tôn giáo.
Tóm lại, tôn giáo vừa là một
hình thái ý thức xã hội vừa là một
thực thể xã hội. Song xét về bản
chất, tôn giáo là một hình thái ý
thức xã hội đặc biệt, nó phản ánh
một cách hoang đường, hư ảo, lệch
lạc hiện thực khách quan vào đầu
óc con người. Sự hoang đường của
tôn giáo do chính con người sáng
tạo ra; cái thế giới hư ảo ấy không
ai nhìn thấy được và chưa ai chứng
minh được bằng cơ sở khoa học.
Hoang đường và hư ảo chính là bản
chất của tôn giáo.
2- Nguồn gốc tôn giáo:
Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng
tôn giáo ra đời có 3 nguồn gốc cơ
bản:
- Trước hết là nguồn gốc nhận
thức: tôn giáo đã nảy sinh trong xã
hội mà trình độ sản xuất hết sức
thấp kém, con người hầu như phụ
thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, bất
lực trước những hiện tượng tự
tư, tình cảm của con người. Nó là
quan niệm, lòng tin, tình cảm của
con người trước những sức mạnh
của tự nhiên, những biến cố của xã
hội. Vì thế tôn giáo chỉ là hạnh phúc
hư ảo, song người ta vẫn cần đến
nó.
3- Chức năng cơ bản của tôn
giáo : gồm 4 chức năng
Theo quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tôn giáo có các chức
năng:
- Chức năng đền bù hư ảo: Mặc
dù tôn giáo phản ánh xuyên tạc,
hoang đường cái hiện thực khác
quan nhưng từ sự bất lực thực tiễn
của con người, tôn giáo đáp ứng nhu
cầu niềm tin tạo sự thăng bằng tâm lý
và vấn an con người.
- Chức năng thế giới quan: giúp
cho con người nhận biết về sự giải
thích thế giới quan thông qua sự giải
thích của tôn giáo.
- Chức năng điều chỉnh hành vi
hoạt động của con người thông qua
hệ thống chuẩn mực những giá trị xã
hội do tôn giáo đưa ra.
- Chức năng liên kết: Nó duy trì
củng cố hệ thống xã hội hiện hành,
củng cố cộng đồng, củng cố các mối
nhau thì có tính chất chính trị khác
nhau. Tôn giáo ra đời là sự phản ánh
cuộc đấu tranh giai cấp của quần
chúng, chống áp bức bóc lột của giai
cấp thống trị; giai cấp thống trị biến
tôn giáo thành công cụ thống trị để
duy trì sự bóc lột. Ngoài ra tôn giáo
còn có tính phản khoa học, do bản
chất hoang đường, hư ảo của tôn
giáo quy định.
4- Giải quyết vấn đề tôn giáo trong
chủ nghĩa Mác-Lênin:
Trong quá trình bảo vệ và phát
triển tư tưởng của Mác-Ăngghen về
tôn giáo, Lênin đã chỉ ra rằng: Thứ
nhất, việc giải quyết vấn đề tôn giáo
là rất quan trọng nhưng không phải là
cái hàng đầu, cái chủ yếu trong mọi
chính sách. Thứ hai, phải phân biệt
chính xác giữa hệ tư tưởng tôn giáo
với những người chịu ảnh hưởng của
tôn giáo, tức là phân biệt giữa hai mặt
chính trị và tư tưởng tồn tại trong vấn
đề tôn giáo để tránh những sai lầm tả
hoặc hữu khuynh trong việc giải
quyết vấn đề tôn giáo.
Lênin cho rằng, cuộc đấu tranh
chống ảnh hưởng tiêu cực của tôn
giáo phải gắn liền với cuộc đấu tranh
giai cấp, nhằm xóa bỏ nguồn gốc xã
hiện có 6 tôn giáo được Nhà nước
công nhận về mặt tổ chức: Phật
giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành, Hồi
giáo, Cao đài và Hòa hảo; với hơn
20 hệ phái khác nhau. Tổng số tín
đồ có khoảng 20 triệu người, chiếm
gần 20% dân số cả nước; khoảng
10 vạn chức sắc tôn giáo, trong đó
có 5 vạn hoạt động chuyên nghiệp.
Nhìn chung các chức sắc, tín đồ tôn
giáo đều có tinh thần gắn bó dân
tộc. Nhất là từ khi Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời đã có nhiều tín đồ
trở thành đảng viên cộng sản, thành
những chiến sĩ kiên cường, dũng
cảm hy sinh cho Tổ quốc, nhiều nhà
sư, linh mục đã đi theo kháng chiến,
nhiều chùa chiền và thánh thất là
nơi nuôi giấu, che chở cho cán bộ
cách mạng. Ngày nay, các tổ chức
giáo hội đều tuân theo Hiến pháp và
pháp luật, đều mong muốn đất
nước được ổn định và phát triển.
Tuy nhiên vấn đề tôn giáo vẫn còn
nhiều phức tạp như trình độ nhận
thức của tín đồ còn nhiều hạn chế,
nên bị lệ thuộc nặng vào thần, giáo
lý từ đó bị một số người lợi dụng để
gây rối, một số giáo sĩ chức sắc do
điều kiện lịch sử để lại thể hiện thái
tôn giáo một cách tự nguyện của
nhân dân. Điều này được thể hiện
rõ tại Điều 70 của Hiến pháp nước
CHXHCNVN năm 1992: "Công dân
có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo,
theo hoặc không theo một tôn giáo
nào. Các tôn giáo đều bình đẳng
trước pháp luật. Những nơi thờ tự của
tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật
bảo hộ. Không ai được xâm phạm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để
làm trái pháp luật và chính sách của
Nhà nước".
Đại hội IX của Đảng ta khẳng
định: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu
tinh thần của một bộ phận nhân dân.
Thực hiện nhất quán chính sách tôn
trọng và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, theo hoặc không theo một
tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn
giáo bình thường theo đúng pháp
luật. Đoàn kết đồng bào theo các tôn
giáo khác nhau, đồng bào theo tôn
giáo và không theo tôn giáo. Chăm lo
phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao
đời sống của đồng bào. Đồng bào
theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo
có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm
công dân đối với Tổ quốc, sống “tốt
thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh
những người có công với Tổ quốc,
với nhân dân. Nghiêm cấm sự phân
biệt đối xử với công dân vì lý do tín
ngưỡng tôn giáo. Nghiêm cấm lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt
động mê tín dị đoan, hoạt động trái
pháp luật, kích động chia rẽ nhân
dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm
phạm an ninh quốc gia.
3. Nội dung cốt lõi của công tác
tôn giáo là công tác vận động quần
chúng. Lấy mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh là điểm tương đồng để gắn
bó đồng bào các tôn giáo với sự
nghiệp chung. Mọi công dân không
phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có
quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Công tác vận động quần
chúng các tôn giáo phải động viên
đồng bào nêu cao tinh thần yêu
nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống
nhất của Tổ quốc thông qua việc thực
hiện tốt các chính sách KT-XH, an
ninh quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật
chất và tinh thần của nhân dân nói
chung, trong đó có đồng bào tôn giáo.
4. Công tác tôn giáo là trách
nhiệm của cả hệ thống chính trị. Tổ
có khoa học, khách quan, đúng đắn,
làm nền tảng tư tưởng để từ đó
Đảng và Nhà nước ta đề ra chủ
trương chính sách về tôn giáo, giải
quyết được những vấn đề tư tưởng
của nhân dân có đạo, thực hiện
được đoàn kết dân tộc trong sự
nghiệp xây dựng đất nước. Là cán
bộ, đảng viên đặc biệt là cán bộ
quản lý cần phải nhận thức sâu sắc
quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin
về tín ngưỡng, tôn giáo để làm nền
tảng tư tưởng trong mọi hoạt động,
đồng thời thực hiện tốt chỉ đạo của
Đảng và Nhà nước về công tác tôn
giáo, nhằm góp phần phát huy sức
mạnh khối đại đoàn kết dân tộc
trong sự nghiệp đổi mới đất nước,
phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”.
4
Câu 2: Nội dung tư tưởng của chủ
tịch Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn
giáo.
BÀI LÀM
Chủ tịch HCM đã để lại thế hệ
sau những di sản tư tưởng quý báu,
trong đó có những quan điểm của
người về vấn đề tính ngưỡng, tôn
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
để kháng chiến kiến quốc .
HCM tìm thấy những nét
tương đồng giữa học thuyết Mácxít
và mục đích của tôn giáo. Người cho
rằng, trong nhiều lĩng vực các vị giáo
chủ và các nhà cách mạng đều là
những người có lòng nhân ái cao cả.
Mục đích lý tưởng của tôn giáo trong
nhiều lĩnh vực, không đối lập và tách
biệt với chủ nghĩa xã hội vì cả 2 phía
đều muốn có một xã hội công bằng,
giải phóng cho người nghèo khó
mưu cầu hạnh phúc cho con người
và xã hội . Đồng thời Bác coi lý
tưởng của các bật thánh thiền cũng
là lý tưởng và mục đích đấu tranh
của mình. Tiếp bước người, các học
trò của CT.HCM cũng là những
người kế tục xứng đáng tư tưởng
của Người về vấn đề tôn giáo.
Đồng thời, Chủ tịch HCM
khẳng định những nội dung tốt đẹp
của đạo đức tôn giáo, Người nhận
thấy biểu hiện của nhữnh phẩm chất
đạo đức tôn giáo là cần thiết cho việc
xây dựng cuộc sống tốt đẹp trong xã
hội mới hun đúc tinh thần cách mạng
chống áp bức bóc lột và góp phần
bối dưỡng tinh thần yêu nước
cho rằng quyền tự do tín ngưỡng và
không tín ngưỡng là một trong những
quyền chính đáng của con người, và
những ai hạn chế vi phạm thô bạo đến
quyền ấy là đi ngược lại với xu thế tiến
bộ của xã hội.
Trong các văn bản quan trọng
cũng như những sắc lệnh mà Người
trực tiếp soạn thảo và tuyên bố luôn
khẳng định tư tưởng nhất quán lâu dài
của đảng và nhà nước ta trước sau
như một là tôn trọng quyền tự do tín
ngưỡng của nhân dân. Sự tôn trọng
ấy không nhựng chỉ thể hiện trên các
loại văn bản mà còn biểu hiện bằng
hành độngthực tế của Người. Mặt
khác Người tôn trọng đức tin của đồng
bào có đạo và thương yêu bà con có
tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, làm
cho kể cả những người không cùng
quan điểm cũng phải kính phục. Đáp
lại tình cảm của người nhiều quần
chúng tín đồ chức sắc tôn giáo đã trở
thành lực lượng cách mạng, nêu
những tấm gương tiêu biểu trong tiến
trình cách mạng Việt Nam. Những
khẩu hiệu : cởi càsa mặc chiến bào ra
trận, hay gương sáng của Đại đức
Thích Thiện Mỹ và hoà thượng Thích
Quảng Đức mãi là tấm gương cho các
với CNXH là sự nghiệp chung không
phải của riêng ai. Trong tư tưởng đoàn
kết lương – giáo, Người chỉ rõ :
+ Một là, phải đặt lợi ích dân
tộc, lợi ích tòan dân lên trên hết,
Người chú ý quan tâm đền đời sống
vật chất và tin thần với đồng bào có
đạo
+ Hai là, phải tôn trọng quyền
tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng
của nhân dân, khắc phục được những
mặc cảm, định kiến với nhau và chống
âm mưu chia rẽ lương giáo của bọn
phản động
+ Ba là, phải phân biệt được
nhu cầu tín ngưỡng chân chính của
đồng bào có đạo với bọn lợi dụng tín
ngưỡng tôn giáo của các phần tử
phản động để tôn trọng hay phê phán
+ Bốn là, phải kế thừa những
giá trị nhân bản của tôn giáo trân trọng
những người sáng lập các tôn giáo
lớn. Tranh thủ các giáo sĩ quan tâm
đến giáo dân; độ lượng, vị tha với
người lầm lỗi; phê phán bọn phản
động. Đồng thời không chỉ đoàn kết
những người có đạo và không có
đạo mà còn giáo dục tinh thần đoàn
kết giữa những người có tín ngưỡng
tôn giáo khác nhau
phạm tín ngưỡng tôn giáo chống
những hoạt động lợi dụng tôn giáo vì
mục đích ngoài tôn giáo. Đó là:
- Người đề xuất việc pháp
luật hóa chính sách về quyền tự do
tín ngưỡng của nhân dân. Trong
phiên họp đầu tiên của hội đồng
chính phủ lâm thời (3/9/1945) HCT
đã phát biểu :”Tôi đề nghị Chính phủ
ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do,
Lương - Giáo đoàn kết”. Đồng thời
nghiêm khắc phê phán những sai
phạm về chính sách tôn giáo của
chính phủ, của cán bộ nhất là những
cán bộ dân vận làm công tác tôn
giáo. Phải có thái độ đúng đắn và
phân biệt giữa tín ngưỡng chân
chính với những kẻ lợi dụng tôn
giáo . Ngoài việc nghiêm khắc phê
phán Người có biện pháp hữu hiệu
với những kẻ lợi dụng tôn giáo vì
mục đích ngoài tôn giáo dù ở cương
vị nào
HCM rất chú trọng trọng đến
tín ngưỡng truyền thống VN nhất là
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Bản
thân Bác đã nhiều lần nhắc đến tổ
tiên với tình cảm chân tình, tôn kính
và nhận thấy : ”Tổ tiên rực rỡ, anh
em thuận hoà” Bên cạnh đó Bác
Việt Nam là một quốc gia đa tôn
giáo, dân tộc. Các tôn giáo lớn trên thế
giới hầu hết có ở Việt Nam. Những
năm qua, cùng với sự phát triển về
kinh tế và ổn định về chính trị- văn
hóa, đời sống vật chất của nhân dân
ngày càng được cải thiện, nhu cầu
sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo diễn ra
khá sôi động. Nước ta hiện có 6 tôn
giáo được Nhà nước công nhận về
mặt tổ chức: Phật giáo, Thiên chúa
giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao đài và
Hòa hảo; với hơn 20 hệ phái khác
nhau. Tổng số tín đồ có khoảng 20
triệu người, chiếm gần 20% dân số cả
nước; khoảng 10 vạn chức sắc tôn
giáo, trong đó có 5 vạn hoạt động
chuyên nghiệp. Nhìn chung các chức
sắc, tín đồ tôn giáo đều có tinh thần
gắn bó dân tộc. Nhất là từ khi Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời đã có nhiều
tín đồ trở thành đảng viên cộng sản,
thành những chiến sĩ kiên cường,
dũng cảm hy sinh cho Tổ quốc, nhiều
nhà sư, linh mục đã đi theo kháng
chiến, nhiều chùa chiền và thánh thất
là nơi nuôi giấu, che chở cho cán bộ
cách mạng. Ngày nay, các tổ chức
giáo hội đều tuân theo Hiến pháp và
6
pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo,
khẳng định quan điểm nhất quán trước
sau như một của Đảng và Nhà nước
ta trong việc thực hiện quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, trong đó bao hàm
cả quyền tự quyết tự do không tín
ngưỡng, tôn giáo, quyền thay đổi tôn
giáo một cách tự nguyện của nhân
dân. Điều này được thể hiện rõ tại
Điều 70 của Hiến pháp nước
CHXHCNVN năm 1992: "Công dân có
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo
hoặc không theo một tôn giáo nào.
Các tôn giáo đều bình đẳng trước
pháp luật. Những nơi thờ tự của tín
ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo
hộ. Không ai được xâm phạm quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái
pháp luật và chính sách của Nhà
nước".
Đại hội IX của Đảng ta khẳng
định: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu
cầu tinh thần của một bộ phận nhân
dân. Thực hiện nhất quán chính
sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự
do tín ngưỡng, theo hoặc không theo
một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt
tôn giáo bình thường theo đúng pháp
luật. Đoàn kết đồng bào theo các tôn
nhất quán chính sách đại đoàn kết
toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào
theo các tôn giáo khác nhau; đoàn
kết đồng bào theo tôn giáo và đồng
bào không theo tôn giáo. Giữ gìn và
phát huy những giá trị tích cực của
truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn
vinh những người có công với Tổ
quốc, với nhân dân. Nghiêm cấm sự
phân biệt đối xử với công dân vì lý
do tín ngưỡng tôn giáo. Nghiêm cấm
lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt
động mê tín dị đoan, hoạt động trái
pháp luật, kích động chia rẽ nhân
dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm
phạm an ninh quốc gia.
3. Nội dung cốt lõi của công tác
tôn giáo là công tác vận động quần
chúng. Lấy mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh là điểm tương đồng để gắn
bó đồng bào các tôn giáo với sự
nghiệp chung. Mọi công dân không
phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều
có quyền và nghĩa vụ xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Công tác vận động
quần chúng các tôn giáo phải động
viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu
nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống
nhất của Tổ quốc thông qua việc
các cách thức truyền đạo trái phép, vi
phạm các qui định của Hiến pháp và
pháp luật.
Trải qua gần 20 năm đổi mới do
Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nhân
dân ta đã đạt được những thắng lợi
với những thành tựu cơ bản trên nhiều
lĩnh vực của đời sống xã hội. Thành
tựu ấy là nhờ có sự nỗ lực phấn đấu
của toàn Đảng, toàn dân, trong đó sự
đóng góp không nhỏ của đồng bào các
tôn giáo. Qua đó, đời sống vật chất,
tinh thần không ngừng được đáp ứng
vàcải thiện làm cho đồng bào có đạo
nói riêng và nhân dân cả nước nói
chung luôn an tâm, phấn khởi, tin
tưởng vào sự đổi mới của Đảng và
nhà nước, góp phần tích cực vào công
cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ
quốc Việt Nam XHCN.
Song, với âm mưu chiếm lược diễn
biến hoà bình các thế lực thù địch
7
đang lợi dụng tôn giáo để phá hoại
công cuộc đổi mới của nhân dân dân
ta, hòng xóa bỏ chủ nghĩa XH ở VN.
Các điểm nóng về tôn giáo trong thời
gian gần đây như các hoạt động
truyền đạo trái phép nhầm lập ra tổ
chức đạo “Tin lành Đề ga” ở tây
đường lối, chính sách giải quyết vấn
đề tôn giáo của Đảng và Nhà nước
ta.
Là một người cộng sản theo
chủ nghĩa Mác - Lê nin, Chủ tịch Hồ
Chí Minh thể hiện thế giới quan
mácxít và chủ nghĩa duy vật hoàn
toàn khác với tôn giáo và chủ nghĩa
duy tâm. Nhưng không phải vì thế
mà Người nghi kỵ, bài xích, đối đầu
với tôn giáo; Người luôn tỏ thái độ
tôn trọng tự do tín ngưỡng của mỗi
người và đề cao vai trò của những
vị đã sáng lập ra các tôn giáo.
Người không hề có sự phân biệt đối
xử giữa tôn giáo này và tôn giáo
khác, giữa người có đạo và người
không có đạo.
Hồ Chí Minh đã tìm thấy những
nét tương đồng giữa học thuyết
mácxít và mục đích của các tôn
giáo. Người cho rằng: trong nhiều
lĩnh vực, các vị giáo chủ và các nhà
cách mạng đều là những người có
lòng nhân ái cao cả. Mục đích, lý
tưởng của tôn giáo trong nhiều lĩnh
vực không đối lập và cách biệt với
CNXH, cả hai đều muốn xây dựng
một xã hội công bằng, giải phóng
con người nghèo khó, mưu cầu
là nhân nghĩa; Khổng tử dạy đạo
đức là nhân nghĩa. Một mặt kế thừa;
mặt khác Hồ Chí Minh cũng phê
phán đạo đức tôn giáo khi nó không
còn phù hợp với đạo đức cách
mạng. Ví dụ “trung quân ái quốc”
trong quan niệm Nho giáo;
hoặc”Cách đây 2000 năm, đức Giê-
su đã nói ta phải yêu mến kẻ thù
của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn
chưa thực hiện được”.
Khẳng định những khía cạnh
nhân văn của tôn giáo, Hồ Chí Minh
nhận thấy sự đồng điệu của mình
với Giê-su, Thích ca mâu ni và các
vị giáo chủ khác. Người thương yêu
tín đồ vì thấy họ không giải thích nổi
những bất hạnh của cuộc đời nên
tìm đến tôn giáo để hy vọng sự thay
đổi hay làm dịu đau nỗi bất hạnh
của mình.
Người luôn tôn trọng quyền tự
do tín ngưỡng tôn giáo của nhân
dân, rất đề cao nhấn mạnh quyền
con người và nhu cầu tinh thần của
con người. Hiến pháp năm 1946,
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt
Nam độc lập do chính Chủ tịch Hồ
Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo,
đã khẳng định quyền tự do tín
lập ". Tư tưởng đoàn kết tôn giáo
của Chủ tịch Hồ Chí Minh rõ ràng nổi
lên quan điểm bỏ qua những dị biệt
nhỏ để giữ lấy cái tương đồng lớn;
vượt qua những khác biệt về đức tin,
lối sống… để giữ lấy tình đoàn kết
dân tộc, giữ lấy mục tiêu độc lập, tự
do, hạnh phúc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn
kết tôn giáo không chỉ xuất phát từ
thực tế đất nước, truyền thống đoàn
8
kết của dân tộc, từ tinh hoa văn hóa
dân tộc, từ lý luận Mác - Lê nin xem
cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng mà còn từ tình cảm yêu
thương, lòng nhân ái của Người với
đồng bào các tôn giáo. Tấm lòng ấy
là bản sắc Hồ Chi Minh luôn biết hòa
vào quần chúng, hiểu họ yêu gì, ghét
gì và mong muốn điều gì.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn
kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết
toàn dân tộc có một ý nghĩa rất to lớn.
Nó đã trở thành cơ sở cho việc hình
thành chính sách tôn giáo của Đảng
và Chính phủ ta trong các giai đoạn
cách mạng nhằm phát huy được mặt
tích cực của đạo đức tôn giáo trong
công cuộc bảo vệ và xây dựng đất
tín đồ các tôn giáo hiểu rõ chính
sách của đảng và nhà nước để họ
thực hiện và đồng thời họ đấu tranh
chống âm mưu lợi dụng tôn giáo
của địch. Phải nghiên cứu thực tế,
hiểu phong tục, tập quán, truyền
thống tín ngưỡng, tôn giáo của
nhân dân để gây tình cảm cho quần
chúng. Phải chăm lo đời sống vật
chất, tinh thần cho đồng bào tôn
giáo.
Hồ Chí Minh xúc tiến nhiều biện
pháp nhằm ngăn chặn hành vi vi
phạm tín ngưỡng tôn giáo. Một
trong những nhiệm vụ đầu tiên của
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa, Người đề xuất việc pháp luật
hóa chính sách tôn giáo. Người
nghiêm khắc phê phán những cán
bộ sai phạm chính sách tôn giáo
của Chính phủ. Có giải pháp khôn
khéo, cụ thể trong những tình huống
phức tạp.
Trong công tác tôn giáo, phải có
thái độ đúng với các chức sắc tôn
giáo. Tranh thủ các chức sắc còn có
thể tranh thủ được. Với kẻ lợi dụng
tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo,
phải phê phán nghiêm khắc, dù ở
cương vị nào.
đồ có khoảng 20 triệu người, chiếm
gần 20% dân số cả nước; khoảng
10 vạn chức sắc tôn giáo, trong đó
có 5 vạn hoạt động chuyên nghiệp.
Nhìn chung các chức sắc, tín đồ tôn
giáo đều có tinh thần gắn bó dân
tộc. Nhất là từ khi Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời đã có nhiều tín đồ
trở thành đảng viên cộng sản, thành
những chiến sĩ kiên cường, dũng
cảm hy sinh cho Tổ quốc, nhiều nhà
sư, linh mục đã đi theo kháng chiến,
nhiều chùa chiền và thánh thất là
nơi nuôi giấu, che chở cho cán bộ
cách mạng. Ngày nay, các tổ chức
giáo hội đều tuân theo Hiến pháp và
pháp luật, đều mong muốn đất
nước được ổn định và phát triển.
Tuy nhiên vấn đề tôn giáo vẫn còn
nhiều phức tạp như trình độ nhận
thức của tín đồ còn nhiều hạn chế,
nên bị lệ thuộc nặng vào thần, giáo lý
từ đó bị một số người lợi dụng để gây
rối, một số giáo sĩ chức sắc do điều
kiện lịch sử để lại thể hiện thái độ
mặc cảm với xã hội mới nên thường
chống đối lại cách mạng. Điển hình
như sự kiện chính trị - xã hội diễn ra
tháng 02/2001, vụ gây rối ngày 1-4-
2004 vừa qua xảy ra ở một số tỉnh
nào. Các tôn giáo đều bình đẳng
trước pháp luật. Những nơi thờ tự của
tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật
bảo hộ. Không ai được xâm phạm
9
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để
làm trái pháp luật và chính sách của
Nhà nước".
Đại hội IX của Đảng ta khẳng
định: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu
tinh thần của một bộ phận nhân dân.
Thực hiện nhất quán chính sách tôn
trọng và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, theo hoặc không theo một
tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn
giáo bình thường theo đúng pháp
luật. Đoàn kết đồng bào theo các tôn
giáo khác nhau, đồng bào theo tôn
giáo và không theo tôn giáo. Chăm lo
phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao
đời sống của đồng bào. Đồng bào
theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo
có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm
công dân đối với Tổ quốc, sống “tốt
đời, đẹp đạo”, phát huy những giá trị
tốt đẹp về văn hóa, đạo đức của tôn
giáo. Từng bước hoàn thiện pháp luật
về tín ngưỡng, tôn giáo. Nghiêm cấm
lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín
để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt
động trái pháp luật, kích động chia
rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc,
gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
3. Nội dung cốt lõi của công tác
tôn giáo là công tác vận động quần
chúng. Lấy mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh là điểm tương đồng để
gắn bó đồng bào các tôn giáo với
sự nghiệp chung. Mọi công dân
không phân biệt tín ngưỡng, tôn
giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác
vận động quần chúng các tôn giáo
phải động viên đồng bào nêu cao
tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ
độc lập và thống nhất của Tổ quốc
thông qua việc thực hiện tốt các
chính sách KT-XH, an ninh quốc
phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và
tinh thần của nhân dân nói chung,
trong đó có đồng bào tôn giáo.
4. Công tác tôn giáo là trách
nhiệm của cả hệ thống chính trị. Tổ
chức bộ máy và đội ngũ cán bộ
chuyên trách làm công tác tôn giáo
có trách nhiệm trực tiếp, cần được
củng cố và kiện toàn. Công tác
quản lý Nhà nước đối với các tôn
Con người Việt Nam có
đời sống tín ngưỡng, tôn giáo
hết sức phong phú, điều đó xuất
phát từ Việt Nam là một quốc gia
nằm giữa ngã tư đường, trung
tâm của Đông Nam Á nên có
điều kiện thuận lợi để tiếp nhận
và giao lưu của các luồng tư
tưởng, văn hóa, tín ngưỡng, tôn
giáo từ các quốc gia khác nhau,
nhất là lại kề bên hai nền văn
minh lớn của loài người là Trung
Hoa và Ấn Độ nên tín ngưỡng, tôn
giáo có ảnh hưởng sâu đậm từ hai
nền văn minh ấy. Ngoài ra, với địa
hình phong phú, đa dạng, lại ở
vùng nhiệt đới gió mùa, thiên
nhiên vừa ưu đãi, vừa đe dọa
cộng đồng người sống ở đây nên
trong đời sống tinh thần người
Việt thường nảy sinh tâm lý sợ
hãi, nhờ cậy vào sự che chở của
lực lượng tự nhiên, đó cũng là cơ
hội để tín ngưỡng và tôn giáo phát
triển mạnh. Lịch sử Việt Nam còn
là lịch sử chống ngoại xâm, những
người có công lớn trong việc giúp
dân, cứu nước được cả cộng
đồng tôn sùng và để tưởng nhớ
những vị ấy, người Việt đã thờ
hiện đại - tất cả đã và đang cùng
tồn tại bên cạnh tín ngưỡng dân
gian, bản địa của nhiều dân tộc,
bộ tộc khác nhau. Bên cạnh
những tôn giáo lớn "ngoại nhập"
như Phật giáo, Hồi giáo, Công
giáo, Tin lành , Việt Nam còn có
những tôn giáo "nội sinh" như Cao
Đài, Hòa Hảo. Hiện nay, ở Việt
Nam có sáu tôn giáo lớn đã được
Nhà nước công nhận về mặt tổ
chức gồm: Phật giáo, Công giáo,
Tin lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa
Hảo và Hồi giáo. Có tôn giáo với
số lượng hàng triệu tín đồ như
Phật giáo : 10 triệu, Công giáo :
2,5 triệu, Cao đài : hơn 2 triệu,
Hoà Hảo trên 1 triệu, nhưng có
tôn giáo lại có số lượng tín đồ
không đáng kể (trong đó nhiều
nhất là Tin lành : 500.000 tín đồ,
Hồi Giáo : 500.000 tín đồ). Lịch
sử hình thành và du nhập, số
lượng tín đồ, vai trò xã hội cũng
như tác động chính trị của các
tôn giáo ở nước ta cũng rất khác
nhau. Trong 6 tôn giáo lớn ở Việt
Nam hiện nay (Phật giáo, Công
giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao đài,
Hòa hảo) Phật giáo có lịch sử xuất
3. Yếu tố nữ luôn mang
tính trội trong hệ thống tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt
Nam : cũng do xuất phát từ một
nước nông nghiệp, yếu tố nữ rất
phù hợp với điều kiện sản xuất
lúa, vì thế vai trò của người phụ
nữ được đề cao và ảnh hưởng
khá nặng của chế độ mẫu hệ
cho nên trong hệ thống tín
ngưỡng tôn giáo xuất hiện rất
nhiều các vị thánh thần là nữ. Từ
Bắc đến Nam ở đâu cũng có nơi
thờ tự nữ thần : Phật Bà, Thánh
Mẫu Đền thờ Bá chúa kho
(Bắc Ninh), Bà chúa Liễu ở Phủ
Tây Hồ (Hà Nội), Bà chúa Đen
(Tây Ninh), Bà chúa Sứ (An
Giang) là những nơi thu hút
nhiều người mà không phải chỉ
có giới nữ. Các tôn giáo lớn
từ Công giáo đến Khổng giáo và
nhất là Hồi giáo vốn coi thường
phụ nữ, nhưng khi du nhập vào
Việt Nam đã phải thay đổi ít
nhiều cho phù hợp với vai trò
của người phụ nữ và sự nhìn
nhận, đánh giá của xã hội đối với
họ.
4. Thần thánh hóa những
hình thức tín ngưỡng đặc thù
của vùng mình, dân tộc mình.
Nhìn chung tín ngưỡng dân gian
tôn giáo Việt Nam còn hướng
niềm tin vào các nhân thần và
nhiên thần.
5. Tính đan xen, hòa đồng,
khoan dung của tín ngưỡng,
tôn giáo ở Việt Nam.Với bản tính
hiếu hoà, đồng thời do phải đoàn
kết chống giặc ngoại xâm và
chống chọi với thiên nhiên, người
Việt rất dễ tiếp nhận các loại văn
hóa tín ngưỡng tôn giáo miễn sau
là nó không đi ngược lại lợi ít dân
tộc, đi ngược lại truyền thống văn
hóa dân tộc. Đồng thời, nó cũng
phải thay đổi cho phù hợp với
phong tục tập quán tuỳ ý của
người Việt mà trước hết phải
được sự khảo nghiệm của lịch sử
dựng nước và giữ nước, sau nữa,
phải tôn trọng tôn giáo truyền
thống và hòa đồng với tín ngưỡng
bản địa. Khổng giáo và Đạo giáo
từ Trung Hoa lan xuống, Phật giáo
từ Ấn Độ truyền sang nước ta từ
rất sớm nhưng vẫn tồn tại song
song cùng nhau một cách hòa
bình cùng với tín ngưỡng bản địa
Hòa Hảo ít nhiều đều có tính đan
xen, hòa đồng dung hợp với nhau
và với tín ngưỡng bản địa. Nhờ có
tính khoan dung, hiếu hòa của tôn
giáo đã khiến cho một đất nước
đa dân tộc và đa tôn giáo như Việt
Nam mà vẫn giữ được truyền
thống đoàn kết toàn dân không
phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo.
6. Tôn giáo ở Việt Nam
mang tính chất phiếm thần : Ở
nước ta tín đồ theo tôn giáo độc
thần nhưng tư tưởng của họ vẫn
chấp nhận rất nhiều các vì thánh
thần tiên phật khác nhau. Đặc
điểm đó thể hiện rõ ở việc các tín
đồ công giáo Việt Nam phần lớn
đều có bàn thờ ông bà tổ tiên
trong gia đình, một đặc điểm
không có ở các nước công giáo
khác. Tính chất phiếm thần còn
thể hiện ở các dân tộc thiểu số
nước ta. Ở vùng Đông-Bắc, Đạo
giáo quyện vào các tôn giáo khác,
tạo nên một tổ chức với một hệ
thống chức sắc gồm ông thày Tào
là hàng phẩm trật cao nhất, rồi
đến các ông (bà) Then, Pựt, Mo,
Ngạn thuộc đạo Phật và các tôn
giáo địa phương. Các tín đồ ảnh
Vì vậy, ở bất cứ tôn giáo nào
vấn đề của đời sống thế tục
cũng được đề cập trong các mặt
của thế giới siêu phàm. Tôn giáo
có sự đan xen quan hệ với nhiều
khía cạnh của văn hóa, đạo đức,
chính trị Mặt khác, tôn giáo còn
là một thực thể xã hội, không chỉ
có đức tin, giáo lý, giáo luật, lễ
nghi, mà còn có cả những tổ
chức, những thiết chế để hiện
thực hóa giáo lý, luật lệ tôn giáo.
Với lượng tín đồ có đức tin và
tình cảm tôn giáo, được cố kết
trong tổ chức giáo hội, tôn giáo
đã trở thành một thế lực xã hội
đặc biệt. Nhận thức rõ điều đó,
các thế lực thù địch trong và
ngoài nước luôn âm mưu sử
dụng ngọn cờ nhân quyền gắn
với tôn giáo hòng xóa bỏ chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hiện
nay tôn giáo đang bị các thế lực
phản động lợi dụng để thực thi
chiến lược "diễn biến hòa bình"
nhằm phá hoại công cuộc đổi
mới của nhân dân ta. Các "điểm
nóng" về tôn giáo trong thời gian
gần đây như các hoạt động trái
phép nhằm lập ra tổ chức đạo
suy thoái đạo đức, lợi dụng tôn
giáo để tuyên truyền mê tín dị
đoan kiếm tiền bất chính. Đã xuất
hiện 60 tôn giáo mới, tà giáo, dị
giáo; trong đó có nhiều nhất tôn
giáo mang phản động phi khoa
học
II. Liên hệ việc thực hiện chính
sách ở nước ta hiện nay
Sự đa dạng về đời sống
tôn giáo, tín ngưỡng và từ
những đặc điểm tôn giáo ở Việt
Nam trong bối cảnh đất nước
đang tiến hành công cuộc đổi
mới nhằm tíên tới xây dựng
thành công CNXH hiện nay, đoàn
kết tôn giáo là một nội dung quan
trọng không thể thiếu để tạo nên
sức mạnh của khối đoàn kết toàn
dân. Văn kiện Đại hội IX đã chỉ rõ
: "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu
cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân. Thực hiện nhất quán
chính sách tôn trọng và bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, theo
hoặc không theo một tôn giáo
nào, quyền sinh hoạt tôn giáo
bình thường theo đúng pháp luật.
Đoàn kết đồng bào theo các tôn
giáo khác nhau, đồng bào theo
giáo yên bình, hoà đồng và ngày
càng tỏ ra thích ứng với Chủ
nghĩa xã hội là một thành tựu lớn
xác định tính hợp lý trong đường
lối chính sách tôn giáo của Đảng
và nhà nước ta. Nhiều thập kỷ
nay, đường hướng hành đạo:
Sống phúc âm trong lòng dân tộc
(Công Giáo, Thư chung 1980) ;
Dân tộc, Đạo pháp và CNXH
(Phật giáo, từ Đại hội I năm 1981).
Nước Vinh, đạo Sáng (Hoà Hảo);
Sống Phúc Âm, phụng sự thiên
chúa, phụng sự dân tộc của đạo
Tin lành đã và đang được khẳng
định, nhiều cộng đồng tôn giáo đã
thực sự gắn bó, tốt Đạo đẹp Đời.
Căn cứ vào chủ trương,
đường lối, chính sách tôn giáo của
Đảng và Nhà nước, cũng như tình
hình đất nước ta hiện nay, để
củng cố đoàn kết tôn giáo chúng
ta cần tập trung vào các vấn đề
sau : đặt ra cho công tác tôn
giáo quan tâm đến những vấn đề
sau :
Một là, ở một nước có
nhiều tín ngưỡng, tôn giáo như
Việt Nam thì tín đồ các tôn giáo
phải luôn đặt lợi ích dân tộc,
nhận thức hạnh phúc, tự do tín
ngưỡng, tôn giáo chỉ có được khi
lợi ích chung ấy được thực hiện
Bốn là, bảo đảm quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo
nhưng luôn đề cao cảnh giác
chống những âm mưu lợi
dụng tôn giáo của các thế lực
thù địch.
Câu 4: Quan điểm, đường lối và
chính sách tôn giáo của Đảng
và nhà nước ta
Bài làm
I./ Tình hình thực hiện chính
sách tôn giáo :
Nhìn chung trong những
năm qua, Đảng và nhà nước đã
có nhiều cố gắng nhằm thực
hiện tốt quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo trên thực tế. Chính sách
tôn giáo của ta ngày càng được
cụ thể hóa và đáp ứng ngày
càng tốt hơn nguyện vọng của
chức sắc, tín đồ tôn giáo. Bằng
việc ban hành hàng loạt các
Nghị quyết, pháp lệnh về tôn
giáo như Nghị quyết số 24-
NQ/TW ngày 16-10-1990 của Bộ
Chính trị (khóa IX) về “Tăng
cường công tác tôn giáo trong
đồng bào có đạo ngày càng phấn
khởi yên tâm hành đạo và tham
gia tích cực hơn công cuộc xây
dựng đất nước với phương châm
“Tốt đời - đẹp đạo”, “Nước vinh –
đạo sáng”, “Sống phúc âm trong
lòng dân tộc”. Chính sách tôn
giáo hợp lý của Đảng và nhà
nước ta những năm qua cũng đã
củng cố đoàn kết được những
người có tín ngưỡng tôn giáo và
những người không tín ngưỡng
tôn giáo với nhau, có những nơi
nhiều đồng bào tôn giáo khác
nhau sống xen kẻ nhưng vẫn sinh
hoạt tôn giáo yên bình, hoà đồng
và ngày càng tỏ ra thích ứng với
Chủ nghĩa xã hội, chức sắc tín đồ
ngày càng được tin tưởng hơn
vào Đảng, vào công cuộc đổi mới
ở Việt Nam. Mặt khác, nhờ áp
dụng chính sách kinh tế phù hợp
đã làm cho đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân ta, trong
đó có các chức sắc, tín đồ tôn
giáo được nâng lên. Chúng ta
cũng đã ngăn chận và phá vỡ
nhiều âm mưu phá hoại của các
thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo
4-1
một số cấp ủy, chính quyền cơ sở
chưa thật chủ động trong việc đáp
ứng nhu cầu tín ngưỡng chân
chính của đồng bào có đạo. Điều
đó cùng với việc một bộ phận nhỏ
chức sắc tín đồ còn nghi ngờ, dao
động, hoang mang trước sự
xuyên tạc của thù địch, đời sống
của một bộ phận chức sắc tín đồ,
đặc biệt là ở vùng đồng bào dân
tộc còn gặp nhiều khó khăn đã
tạo kẽ hở cho các phần tử cực
đoan, các thế lực chính trị phản
động lợi dung tiến hành các hoạt
động mua chuộc, lôi kéo chức
sắc tín đồ chống đối, kích động
tín đồ phá hoại khối đoàn kết
toàn dân tộc, gây mất ổn định
chính trị và vu cáo Đảng và nhà
nước ta vi phạm nhân quyền,
đàn áp tôn giáo. Nhiều vụ việc
nổi cộm liên quan đến tín
ngưỡng tôn giáo xảy ra như vụ
gây rối ở Tây nguyên năm 2001
và 2004, chúng ta vẫn bị động
hoặc xử lý thiếu tế nhị hoặc nóng
vội, giản đơn trong việc giải
quyết nhiều vấn đề liên quan đến
dân tộc,tôn giáo.
II. Quan điểm, đường lối và
phạm quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo hoặc lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo để làm trái
pháp luật và chính sách của Nhà
nước". Sự tôn trọng quyền tự do
tín ngưỡng tôn giáo và tự do
không tín ngưỡng của nhân dân
của Đảng ta xuất phát từ quan
điểm cho niềm tin là quyền tự do
của mỗi con người, thuộc đời
sống tâm linh của con người
không thể cấm đoán được. Tuy
nhiên “tự do” tín ngưỡng tôn
giáo không có nghĩa là muốn
làm gì thì làm mà là “ tự do”
trong khuôn khổ Hiến pháp và
Pháp luật của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Vấn đề
tôn giáo phải luôn được đặt
trong và dưới vấn đề quốc gia -
dân tộc, mọi hoạt động tôn giáo
phải tuân thủ Hiến pháp và pháp
luật Nhà nước. Tự do tôn giáo
cũng không có nghĩa là khuyến
kích tôn giáo hoặc hạn chế tôn
giáo. Pháp luật Việt Nam không
ngăn cấm việc công dân theo tôn
giáo nhưng cũng đảm bảo quyền
không theo tôn giáo của công
dân, nó cũng cho phép có thể
nguồn sức mạnh to lớn tạo nên
nội lực của dân tộc. Đó cũng là
nhân tố có thể xóa bỏ dần những
mặc cảm, những định kiến, nghi
kỵ do lịch sử để lại và do các thế
lực phản động thường xuyên
tuyên truyền, xuyên tạc nhằm chia
rẽ khối đoàn kết toàn dân. Với một
quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo
như nước ta, đoàn kết tôn giáo
chính là đoàn kết đồng bào theo
các tôn giáo khác nhau, đoàn kết
giữa đồng bào theo tôn giáo và
đồng bào không theo tôn giáo. Từ
xưa, sự khoan dung, cởi mở,
không kỳ thị tín ngưỡng, tôn giáo
vốn là nét đặc trưng của con
người Việt Nam. Phát huy những
giá trị tinh thần quý báu của con
người Việt Nam, Đảng ta còn chủ
động thực hiện đồng bộ các giải
pháp trên nhiều lĩnh vực nhằm
tăng cường củng cố đoàn kết tôn
4-2
4-3
4-4
14
giáo. Đó là phải không ngừng
chăm lo phát triển kinh tế văn
hóa để nâng cao đời sống vật
chống mọi âm mưu lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ
đồng bào và kiên quyết đấu tranh
và xử lý thích đáng những kẻ lợi
dụng tôn giáo để hoạt động trái
pháp luật và chính sách của Nhà
nước, kích động chia rẽ nhân dân,
chia rẽ dân tộc, xâm hại đến khối
đoàn kết toàn dân
2. Một số quan điểm
nổi bật trong thời kỳ đổi mới
Trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ đất nước ta hiện
nay, Nghị quyết Hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng
lần thứ 7, Khoá IX, đã xác định
rõ quan điểm, chính sách đối với
tôn giáo của Đảng và Nhà nước
ta: "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu
cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân, đang và sẽ tồn tại
cùng dân tộc trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ
phận của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc ". Việc thừa nhận tôn
giáo còn tồn tại lâu dài trong đời
sống tinh thần của con người ở
nước ta xuất phát từ tính hợp lý
của tôn giáo vẫn còn duy trì
ngưỡng, nhất là vấn đề tôn giáo
hết sức phức tạp và tế nhị. Nó
không thuần túy là đời sống tinh
thần của cá nhân mà từ khi xuất
hiện, nó luôn là vấn đề của xã
hội, của giai cấp, của dân tộc, nó
luôn có sự đan xen quan hệ với
nhiều khía cạnh của văn hóa,
đạo đức, chính trị Mặt khác,
tôn giáo còn là một thực thể xã
hội, không chỉ có đức tin, giáo lý,
giáo luật, lễ nghi, mà còn có cả
những tổ chức, những thiết chế
để hiện thực hóa tín lý, luật lệ
tôn giáo. Với lượng tín đồ có đức
tin và tình cảm tôn giáo, được cố
kết trong tổ chức giáo hội, tôn
giáo đã trở thành một thế lực xã
hội đặc biệt. Ở các quốc gia, các
thế lực chính trị, các tập đoàn
thống trị đều đã biết lợi dụng tôn
giáo, sử dụng tôn giáo như một
công cụ tinh thần, thậm chí tôn
giáo cũng được sử dụng như
một tổ chức xã hội để thực hiện
các mục đích chính trị.
Hiện nay tôn giáo đang bị
các thế lực phản động lợi dụng
để thực thi chiến lược "diễn biến
hòa bình" nhằm phá hoại công
đồ. Khi giải quyết vấn đề tôn giáo
phải kết hợp giáo dục nâng cao ý
thức tinh thần, với việc chăm lo
nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần. Đồng thời giải quyết nhu
cầu tín ngưỡng tôn giáo của chức
sắc tín đồ tôn giáo phải đi đôi với
đấu tranh chống các thế lực thù
địch lợi dụng tôn giáo. Bên cạnh
đó, phải xác định rõ công tác tôn
giáo là trách nhiệm toàn bộ hệ
thống chính trị : của các cơ quan
Đảng nhà nước Mặt trận tổ quốc,
Ban tôn giáo, các tổ chức chính trị
xã hội và nhân dân
Văn kiện Đại hội IX đã chỉ
rõ : "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu
cầu tinh thần của một bộ phận
4-5
4-6
15
nhân dân. Thực hiện nhất quán
chính sách tôn trọng và bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, theo
hoặc không theo một tôn giáo
nào, quyền sinh hoạt tôn giáo
bình thường theo đúng pháp luật.
Đoàn kết đồng bào theo các tôn
giáo khác nhau, đồng bào theo
tôn giáo và đồng bào không theo
hội nâng cao đời sống vật chất,
văn hóa của nhân dân, trong đó
có đồng bào các tôn giáo
- Tạo điều kiện cho các
tôn giáo hoạt động bình thường
theo đúng chính sách và pháp
luật của nhà nước
- Đẩy mạnh phong trào
thi đua yêu nước xây dựng cuộc
sống “tốt đời, đẹp đạo” trong
quần chúng tín đồ, chức sắc,
nhà tu hành ở cơ sở. Xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
thực hiện thắng lợi công cuộc
đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất
nước
- Phát huy tinh thần yêu
nước của đồng bào có đạo , tự
giác và phối hợp đấu tranh làm
thất bại âm mưu của các thế lực
thù địch lợi dung vấn đề tôn
giáo, dân tộc để phá hoại đoàn
kết dân tộc, chống đối chế độ
- Hướng dẫn các tôn
giáo thực hiện quan hệ đối ngoại
phù hợp với đường lối đối ngoại
của Đảng và nhà nước. Đẩy
mạnh thông tin tuyên truyền
chính sách tôn giáo của Đảng và
nhà nước, đấu tranh làm thất bại
Tóm lại, tôn giáo là một
vấn đề tế nhị, nhạy cảm, dễ bị
kích động. Có chính sách tôn
giáo đúng đắn, giải quyết tốt
vấn đề tôn giáo là góp phần
quan trọng vào việc củng cố
khối đại đoàn kết nhân dân,
bảo đảm sự thành công trong
sự nghiệp xây dựng đất nước
và CNXH.