Phạm Thị Kim Quyên CH16H
MỤC LỤC
Lời mở đầu……………………………………………………………………….2
Chương I: Lý luận chung về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và qui luật
quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất……………………………………………………………………………………3
I. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất……………………………………… 3
1. Lực lượng sản xuất………………………………………………………… …3
2. Quan hệ sản xuất ………………………………………………………….… 6
3. Nhận thức về phạm trù hình thái kinh tế - xã hội cộng sản……………… … 7
II- Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất…………………………………………………………………………8
1. Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mâu thuẫn hay phù hợp………….….8
2. Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất…………………………………………………………………………9
Chương II: Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất - lực lượng sản xuất
trong công cuộc CNH-HĐH ở Việt Nam hiện
nay……………………………………….12
I. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ
lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam…………………………………………………….12
1. Quan điểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) …………………12
2. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá, hiện đại hóa………………….13
3. Tác dụng của công nghiệp hoá, hiện đại hóa…………………………………14
II. Công nghiệp hoá, hiện đại hóa vận dụng tuyệt vời quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong sự nghiệp đổi mới ở
nước ta hiện nay…………………………………………………………………………
15
Kết luận…………………………………………………………………………20
Danh mục tài liệu tham khảo………………………………………………….21
1
Biện chứng quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất tạo điều kiện cho sinh viên
nói chung và em nói riêng có được một nhận thức về sản xuất xã hội, đồng thời nó có
vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta hiện nay.
Chính vì vậy em đã chọn đề tài “Quy luật quan hệ sản xuất - lực lượng sản xuất và
sự vận dụng trong công cuộc CNH-HĐH ở Việt Nam hiện nay” cho bài tiểu luận
của mình. Tuy nhiên, do trình độ nhận thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những sai
sót. Em mong nhận được sự góp ý của thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn !
2
2
Phạm Thị Kim Quyên CH16H
Chương I
Lý luận chung về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
và qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
I. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
1. Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá
trình sản xuất. Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong
quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với
kỹ năng lao động của họ và tư liệu sẳn xuất, trước hết là công cụ lao động. Trong quá
trình sản xuất, sức lao động của con người và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao
động, kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất.
Các yếu tố của lực lượng sản xuất: lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và
người lao động.
* Con người:
“Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao
động”. Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh
và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động
để sản xuất ra của cải vật chất. Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ
năng lao động của con người ngày càng được tăng lên, đặc biệt là trí tuệ của con
thống bình chứa của sản xuất” như ống, thùng…
+ Tư liệu lao động với tư cách là kết cấu hạ tầng sản xuất như đường xá, bến
cảng, sân bay, phương tiện giao thông vận tải, …là điều kiện cần thiết đối với quá
trình sản xuất. Phát triển kết cấu hạ tầng sản xuất phải đi trước một bước so với đầu tư
sản xuất trực tiếp.
Trong các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể, bao
giờ cũng là lực lượng sản xuất cơ bản, quyết định nhất của xã hội.
Lịch sử loài người được đánh dấu bởi các mốc quan trọng trong sự phát triển của
lực lượng sản xuất trước hết là công cụ lao động. Sau bước ngoặt sinh học, sự xuất
hiện công cụ lao động đánh dấu một bước ngoặt khác trong sự chuyển từ vượn thành
người. Từ kiếm sống bằng săn bắt hái lượm sang hoạt động lao động thích nghi với tự
nhiên và dần dần cải tạo tự nhiên. Từ sản xuất nông nghiệp công nghệ lạc hậu chuyển
lên cơ khí hoá sản xuất. Sự phát triển lực lượng sản xuất trong giai đoạn này không
chỉ giới hạn ở việc tăng một cách đáng kể số lượng thuần tuý với các công cụ đã có
mà chủ yếu là ở việc tạo ra những công cụ hoàn toàn mới sử dụng cơ bắp con người.
Do đó con người đã chuyển một phần công việc năng nhọc cho máy móc có điều kiện
để phát huy các năng lực khác của mình.
Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng to
lớn. Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy
4
4
Phạm Thị Kim Quyên CH16H
sản xuất phát triển. Ngày nay, khoa học phát triển đến mức trở thành nguyên nhân
trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống. Những phát minh
khoa học trở thành điểm xuất phát ra đời những ngành sản xuất mới, những máy móc
mới, công nghệ mới, …Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào sản xuất đã
làm cho lực lượng sản xuất có bước phát triển nhảy vọt, tạo thành một cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Yếu tố trí lực trong sưc lao động đặc trưng cho
lao động hiện đại không còn là kinh nghiệm và thói quen của họ mà là tri thức khoa
học. Có thể nói: “khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất do con người tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan
trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Quan
hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, các mặt của quan hệ sản xuất thống nhất
với nhau tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động,
phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất gồm ba mặt:
- Chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất tức là quan hệ giữa người đối với tư liệu sản
xuất, nói cách khác tư liệu sản xuất thuộc về ai.
- Chế độ tổ chức và quản lý sản xuất, kinh doanh, tức là quan hệ giữa người với
người trong sản xuất và trao đổi của cải vật chất như phân công chuyên môn hoá và
hợp tác hoá lao động, quan hệ giữa người quản lý với công nhân.
- Chế độ phân phối sản xuất, sản phẩm tức là quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng
một mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu quả tư liệu sản xuất để làm cho
chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, nâng cao phúc
lợi người lao động.
Các mặt nói trên của quan hệ sản xuất có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại
lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết định. Tuy nhiên, quan hệ tổ chức
quản lý và quan hệ phân phối lưu thông cũng có tác động trở lại quan hệ sở hữu.
Thực tế lịch sử cho thấy rõ bất cứ một cuộc cách mạng xã hội nào đều mang một
mục đích kinh tế là nhằm bảo đảm cho lực lượng sản xuất có điều kiện tiếp tục phát
triển thuận lợi và đời sống vật chất của con người cũng được cải thiện. Đó là tính lịch
sử tự nhiên của các quá trình chuyển biến giữa các hình thái kinh tế - xã hội trong quá
khứ và cũng là tính lịch sử tự nhiên của thời kỳ quá độ từ hình thái kinh tế - xã hội tư
bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Và xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất của sở
hữu cũng quyết định tính chất của quản lý và phân phối. Mặt khác trong mỗi hình thái
kinh tế - xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối
các quan hệ sản xuất khác ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chúng khong đối
lập mà còn phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của chế độ kinh tế - xã hội
mới.
đoạn phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa. Con đường phát triển theo khả năng này còn
được gọi là con đường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo kinh nghiệm thực tế
của Lênin đây là một con đường khá lâu dài phải qua nhiều bước trung gian, phát
triển qua đấu tranh giai cấp rất phức tạp. Sự đi lên phải có sự ủng hộ và giúp đỡ bên
ngoài kể cả cơ sở sản xuất. Trước hết trong nước đó cần có một Đảng của giai cấp vô
sản lãnh đạo, một đảng có quan hệ mật thiết "sống còn" với dân. Từ đó tổ chức áp
7
7
Phạm Thị Kim Quyên CH16H
dụng lãnh đạo trong đó có cả vận dụng qui luật sản xuất phù hợp với nước đó một
cách tích cực để không ngừng tiến bước.
II- Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất.
1. Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mâu thuẫn hay phù hợp.
Trong tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế - chính trị năm 1859 C.Mác viết
"Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta có những quan hệ nhất
định, tất yếu không phụ thuộc ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất. Những
quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật
chất của họ.
Khái niệm "phù hợp" được hiểu với nghĩa chỉ phù hợp mới tốt, mới hợp qui luật,
không phù hợp là không tốt, là trái qui luật. Có nhiều vấn đề mà nhiều lĩnh vực đặt ra
với từ "phù hợp" này. Các mối quan hệ trong sản xuất bao gồm nhiều dạng thức khác
nhau mà nhìn một cách tổng quát thì đó là những dạng quan hệ sản xuất và dạng
những lực lượng sản xuất từ đó hình thành những mối lien hệ chủ yếu cơ bản là mối
liên hệ giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Nhưng
mối liên hệ giữa hai yêu tố cơ bản này là gì? Phù hợp hay không phù hợp. Thống nhất
hay mâu thuẫn? Trước hết cần xác định khái niệm phù hợp với các ý nghĩa sau.
- Phù hợp là sự cân bằng, sự thống nhất giữa các mặt đối lập hay "sự yên tính"
giữa các mặt.
- Phù hợp là một xu hướng mà những dao động không cân bằng sẽ đạt tới.
thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội.
Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển. Sự phát
triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất,
trước hết là công cụ lao động.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng
sản xuất. Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ
chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó. Trình độ lực lượng sản
xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng lao
động của con người, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng
khoa học vào sản xuất.
Gắn liền với trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất.
Trong lịch sử xã hội, lực lượng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính chất chất cá nhân
lên tính chất xã hội hoá. Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao động
kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất cá nhân. Khi sản xuất đạt
tới trình độ cơ khí, hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản
xuất có tính chất xã hội hoá.
9
9
Phạm Thị Kim Quyên CH16H
- Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan
hệ sản xuất cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp
của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái
mà trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của lực lượng sản xuất. Trong
trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực
lượng sản xuất phát triển. Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp
một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sản xuất
có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất.
Tất cả chúng ta đều biết, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt hợp
thành của phương thức sản xuất có tác động qua lại biện chứng với nhau. Việc đẩy
quan hệ sản xuất lên quá xa so với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất là một hiện tượng tương đối phổ biến ở nhiều nước xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Nguồn gốc của tư tưởng sai lầm này là bệnh chủ quan, duy ý chí, muốn có nhanh chủ
nghĩa xã hội thuần nhất bất chấp qui luật khách quan. Về mặt phương pháp luận, đó là
chủ nghĩa duy vật siêu hình, quá lạm dụng mối quan hệ tác động ngược lại của quan
hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự lạm dụng này biểu hiện ở
"Nhà nước chuyên chính vô sản có khả năng chủ động tạo ra quan hệ sản xuất mới để
mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất".
Nhưng khi thực hiện người ta đã quên rằng sự "chủ động" không đồng nghĩa với
sự chủ quan tuỳ tiệ, con người không thể tự do tạo ra bất cứ hình thức nào của quan
hệ sản xuất mà mình muốn có. Ngược lại quan hệ sản xuất luôn luôn bị qui định một
cách nghiêm ngặt bởi trạng thái của lực lượng sản xuất, bởi quan hệ sản xuất với tính
chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất chỉ có thể mở
đường cho lực lượng sản xuất phát triển khi mà nó được hoàn thiện tất cả về nội dung
của nó, nhằm giải quyết kịp thời những mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng
sản xuất.
11
11
Phạm Thị Kim Quyên CH16H
Chương II
Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất - lực lượng sản xuất trong
công cuộc CNH-HĐH ở Việt Nam hiện nay
I. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá
độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
1. Quan điểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH)
Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới năm 1986, cùng với việc từng bước phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, giải phóng các lực lượng sản xuất, chuyển
CNH, HĐH.
Kết thúc thế kỷ 20, bước vào thế kỷ 21, bối cảnh trong nước và quốc tế tiếp tục
có những thay đổi mau chóng. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ IX (2001) của Đảng nhận định: “Thế kỷ 21 sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi. Khoa
học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi
bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất”. Trong bối cảnh ấy, nhận thức của
Đảng ta về CNH, HĐH đất nước cũng có bước đổi mới quan trọng, cho rằng quá
trình CNH, HĐH ở nước ta có thể được rút ngắn. Chiến lược phát triển kinh tế- xã
hội giai đoạn 2001-2010 được thông qua tại Đại hội IX xác định: “Con đường CNH,
HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa
có bước nhảy vọt. Phát triển những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để
đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh
học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn
những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri
thức”. Đảng ta đề ra mục tiêu “phấn đấu trong giai đoạn 2001-2010 đưa nước ta ra
khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại”. Điều này hứa hẹn mở ra những bước đột phá trong
nhiều lĩnh vực kinh tế- xã hội, góp phần thực hiện “dân giầu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh
2. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Mỗi phương thức sản xuất xã hội chỉ có thể được xác lập vững chắc trên cơ sở
vật chất - kỹ thuật tương ứng. Cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ
thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kỹ thuật
tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất thoả
mãn nhu cầu của xã hội. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nước ta trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa là phải xây dựng cơ sở vật
chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong đó có công nghiệp hoá. Muốn thực hiện
13
13
nghiệp hoá.
- Công nghiệp hoá tạo ra cơ sở vật chất để làm biến đổi về chất lực lượng sản
xuất nhờ đó mà nâng cao vai trò của con người lao động – nhân tố trung tâm của nền
14
14
Phạm Thị Kim Quyên CH16H
kinh tế xã hội chủ nghĩa; tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng và phát triển nền
văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhờ thành tựu công nghiệp hoá mạng lại,
là cơ sở kinh tế để củng cố và phát triển khối liên minh vững chắc giữa giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Đặc biệt góp phần tăng cường quyền lực, sức mạnh và hiệu quả của bộ máy
quản lỹ kinh tế của nhà nước.
- Quá trình công nghiệp hoá tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tế nền
kinh tế độc lập, tự chủ vững mạnh trên cơ sở đó mà thực hiện tốt sự phân công và
hợp tác quốc tế.
- Công nghiệp hóa thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển, thúc đẩy
quá trình quy hoạch vùng lãnh thổ hợp lý theo hướng chuyên canh tập trung làm cho
quan hệ kinh tế giữa các vùng, các miền trở nên thống nhất cao hơn.
- Tạo tiền đề vật chất để xây dựng, phát triển và hiện đại hoá nền quốc phòng –
an ninh.
Thành tựu công nghiệp hoá tạo ra tiền đề kinh tế cho sự phát triển đồng bộ về
kinh tế - chính trị, văn hóa – xã hội, quốc phòng và an ninh. Thành công của sự
nghiệp công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân là nhân tố quyết định sự thắng lợi của
con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Chính vì vậy mà
công nghiệp hoá kinh tế được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội.
Công nghiệp hoá là con đường tất yếu mà dân tộc Việt Nam phải trải qua để
tiến lên. Trong quá khứ, trước mỗi bất hạnh, đều có sự trỗi dậy của nguyện vọng
công nghiệp hoá. Hiện nay, trước nguy cơ tụt hậu của đất nước, nhấn mạnh vấn đề
ngày càng tiên tiến hiện đại nhằm đạt năng suất lao động xã hội cao. Tất cả những
điều đó chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở một nền khoa học – công nghệ phát triển
đến một trình độ nhất định.
* Thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Công nghiệp hoá ở nước ta nhằm mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó,
công nghiệp hoá không chỉ là phát triển lực lượng sản xuất, mà còn là quá trình thiết
lập, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất, bất cứ sự thay đổi nào của quan hệ sản xuất, nhất là quan hệ sở hữu
về tư liệu sản xuất, cũng đều là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất.
Công nghiệp hóa, hiện đại hoá không chỉ là phát triển mạnh lực lượng sản xuất, khơi
dậy và khai thác mọ tiềm năng kinh tế, mọi nguồn lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh
16
16
Phạm Thị Kim Quyên CH16H
tế và tuỳ theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mà quan hệ sản xuất sẽ tứng
bước được cải biến cho phù hợp.
* Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất -lực lượng sản xuất trong sư nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá rõ nét nhất là sự phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần với nhiều trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất tương ứng với nó là các
hình thức sở hữu phù hợp.
Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất là quy luật chung cho mọi phương thức sản xuất. Trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta với nền kinh tế chưa thực sự phát triển cao, lực lượng sản
xuất luôn tồn tại ở nhiều trình độ khác nhau; tương ứng với mỗi trình độ của lực
lượng sản xuất sẽ có một kiểu quan hệ sản xuất. Do đó, cơ cấu của nền kinh tế, xét về
phương diện kinh tế - xã hội, phải là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.
Ở nước ta hiện nay tồn tại 6 thành phần kinh tế là:
- Kinh tế nhà nước
sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao hơn so
với hữu tư nhân.
Việt Nam không theo con đường chủ quan của tư bản, nhưng không phải triệt
tiêu tư bản và vẫn quan hệ với chủ nghĩa tư bản trên cơ sở có lợi cho đôi bên và học
hỏi những thành tựu tiên tiến của họ. Quan điểm từ đại hội VI cũng đã khẳng định
không những khôi phục thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cả thế mà phải
phát triển chúng rộng rãi theo chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhưng điều quan
trọng là phải nhận thức được vai trò của thành phần kinh tế nhà nước trong thời kỳ
quá độ. Để thực hiện vai trò này một mặt nó phải thông qua sự nêu gương về các mặt
năng suất, chất lượng và hiệu quả. Thực hiện đầy đủ đối với nhà nước. Đối với thành
phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể thực hiện chính sách khuyến khích phát
triển. Tuy nhiên với thành phần kinh tế này phải có những biện pháp để cho quan hệ
sản xuất thực hiện phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
trong thời kỳ quá độ. Vì như thế mới thực sự thúc đẩy sự phát triển của lực lượng lao
động.
C. Mác đã đưa ra kết luận rằng xã hội loài người phát triển trải qua nhiều giai
đoạn kế tiếp nhau, ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển đó là một hình thái kinh tế
- xã hội nhất định - rằng tiến bộ xã hội là sự vận động theo hướng tiến lên của các
hình thái kinh tế - xã hội khác mà gốc rễ sâu xa của nó là sự phát triển không ngừng
của lực lượng sản xuất. Rằng sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế - xã
hội là do tác động của các qui luật khách quan. Mác và Ănghen đã đưa ra nhiều lý
luận, nhiều tư tưởng. Những lý luận tư tưởng cơ bản đó trong học thuyết Mác về
hình thái kinh tế - xã hội chính là cơ sở lý luận cho phép chúng ta khẳng định sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay là
phù hợp với qui luật khách quan trong quá trình phát triển của dân tộc ta, của thời
đại. Đối với nước ta để phù hợp với lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đảng ta
18
18
Phạm Thị Kim Quyên CH16H
đã nêu công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp những bước tiến tuần tự
Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong thời gian qua đã đạt
được những thành tựu to lớn: Công nghiệp phát triển với tốc độ cao (trên 10%/năm)
bao gồm cả công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và chế tác; nông nghiệp đã
được điều chỉnh theo hướng hiện đại, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn được
cập nhật nhiều và tiếp tục nghiên cứu tìm giải pháp; khoa học công nghệ và kinh tế
tri thức đóng vai trò là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đạt
được những thành tựu trên có đóng góp rất lớn của việc vận dụng tốt quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
20
20
Phạm Thị Kim Quyên CH16H
Danh mục tài liệu tham khảo
Tạp chí:
1. Tạp chí phát triển kinh tế
2. Tạp chí triết học
3. Tạp trí cộng sản
Sách:
1. Kinh tế nhiều thành phần và cách mạng quan hệ sản xuất'
2. Triết học Mác - Lênin
3. Kinh tế chính trị học
21
21