Bài tập học kì/ Môn Tư tưởng Hồ Chí Minh
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
“Đố ai đếm được lá rừng;
Đố ai đếm được mấy từng trời cao
Đố ai đếm được vì sao;
Đố ai đếm được công lao Bác Hồ”
Vâng! Ai có thể đếm được công lao của Hồ Chí Minh? Cả cuộc đời 79
tuổi xuân, Người đã cống hiến trọn vẹn cho non sông, cho đất nước, cho dân tộc
Việt Nam.Tuy nhiên, cũng không phải ngẫu nhiên mà Người có thể làm được
như vậy, có rất nhiều yếu tố và điều kiện có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình
hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề lịch sử - xã hội là một
trong những điều kiện đó.
II. NỘI DUNG
1. Xã hội Việt Nam thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX
1.1. Xã hội Việt Nam thế kỷ XIX
Xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX cho đến khi Pháp xâm lược vẫn là một
xã hội phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, trì trệ. Sau khi lật đổ triều đại Tây Sơn,
chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, phản
động: tăng cường đàn áp, bóc lột ở bên trong và thực hiện “bế quan tỏa cảng”
đối với bên ngoài; cự tuyệt mọi đề án cải cách, dù là nhỏ bé và đã quá muộn
màng, nên đã không tạo ra được khả năng cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt
nhịp với sự phát triển của thế giới, đặc biệt là với thị trường tư bản Tây Âu. Do
đó, đã không phát huy được những thế mạnh của dân tộc và đất nước như vị trí
địa lý, tài nguyên thiên nhiên, con người thông minh, cần cù, dũng cảm, ; không
tạo ra được những tiềm lực vật chất và tinh thần đủ để bảo vệ tổ quốc chống lại
âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương tây.
Việc chúng ta mất nước là một định mệnh lịch sử. Dân tộc Việt Nam,
trong quá khứ đã từng chiến thắng nhiều kẻ thù lớn hơn mình. Điều đó đã trở
Dương Thị Khánh Ly/ DS33C044
1
Bài tập học kì/ Môn Tư tưởng Hồ Chí Minh
chủ yếu vẫn do các sĩ phu phong kiến cựu học truyền bá và dẫn dắt, nên không
tránh khỏi hạn chế và thất bại.
Có thể nói rằng, các phong trào cứu nước đầu thế kỉ XX đã rơi vào tình
trạng khó khăn, bế tắc nhất, tưởng chừng như không có đường ra. Trường Đông
Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa (2-1907); cuộc biểu tình chống thuế ở Huế và
miền Trung bị đàn áp đẫm máu (4-1908); Yên Thế bị bao vây đánh phá (1-
1909); phong trào đông du tan rã, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông bị trục
xuất khỏi nước Nhật (2-1909); các lãnh tụ duy tân bị bắt, người thì bị giết, người
thì bị đày ra Côn Đảo
2. Bối cảnh quê hương và gia đình
2.1. Gia đình
Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, gần gũi với
nhân dân, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của người là một nhà nho cấp
tiến, có lòng yêu nước thương dân sâu sắc. Tấm gương lao động cần cù, tấm
gương về ý chí kiên cường vượt qua gian khổ, khó khăn để đạt được mục tiêu,
đặc biệt là tư tưởng thương dân, chủ trương lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải
cách chính trị – xã hội của cụ phó bảng Sắc đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự
hình thành nhân cách của Nguyễn Tất Thành. Sau này, cái chủ thuyết học được ở
người cha bắt gặp trào lưu tư tưởng mới, của thời đại đã được Nguyễn Ái Quốc
nâng lên thành tư tưởng cốt lõi trong đường lối chính trị của mình.
2.2. Quê hương
Nghệ Tĩnh – “địa sinh linh kiệt”, quê hương của Hồ Chí Minh là mảnh đất
giàu truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm; đó cũng là quê hương của nhiều
anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam như Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu,
Đặng Dung; các lãnh tụ Yêu nước cận đại như Phan Đình Phùng, Phan Bội
Châu, và biết bao con người ưu tú khác của dân tộc Việt Nam.
Dương Thị Khánh Ly/ DS33C044
3
Bài tập học kì/ Môn Tư tưởng Hồ Chí Minh
Ngay mảnh đất Kim Liên cũng đã thấm máu anh hùng của bao liệt sỹ
tộc nhỏ yếu tròn vòng kìm kẹp thuộc địa của chúng.
Vì vậy, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sang thế kỷ XX không còn là
hành động riêng rẽ của nước này chống lại sự xâm lược và thống trị của nước
khác như kia, mà đã trở thành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa
chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân gắn liền với cuộc đấu tranh của
giai cấp vô sản quốc tế.
Trong điều kiện lịch sử mới, mỗi thuộc địa là một mắt khâu của hệ thống
đế quốc, do đó cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của mỗi nước nếu chỉ tiến hành
riêng rẽ thì không thể nào giành được thắng lợi. Sự thất bại của các phong trào
cứu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX không phải do nhân dân ta thiếu anh
hùng, các lãnh tụ phong trào kém nhiệt huyết mà vì họ không nhận thức được
đặc điểm của thời đại nên vẫn tiến hành đấu tranh theo đường lối và phương
pháp cũ: tự mình nổi dậy đấu tranh như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám;
đấu tranh không thắng nổi thì đi cầu ngoại viện, như trường hợp của Phan Bội
Châu và nhiều người khác.
Khi còn ở trong nước, Nguyễn Tất Thành tuy chưa nhận thức được đặc
điểm của thời đại, nhưng từ thực tế lịch sử, Người đã thấy rõ con đường của các
bậc cha anh là cũ kỹ, không đem lại kết quả. Người phải đi tìm một con đường
mới. Người đã vượt qua ba đại dương, bốn châu lục, đặt chân lên khoảng gần 30
nước, là một trong những nhà hoạt động chính trị đã đi nhiều nhất, có vốn hiểu
biết phong phú nhất về thực tế các thuộc địa cũng như các nước tư bản đế quốc
chủ yếu nhất trong những thập niên đầu của thế kỉ XX. Nhờ đó, Người đã hiểu
được bản chất chung của chủ nghĩa đế quốc và màu sắc riêng của từng nước đế
quốc khác nhau; đã hiểu được trình độ phát triển cụ thể về kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội, của nhiều nước thuộc địa cùng cảnh ngộ.
Dương Thị Khánh Ly/ DS33C044
5
Bài tập học kì/ Môn Tư tưởng Hồ Chí Minh
Khoảng cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ Anh về Pháp, đến sống và
hoạt động tại Pari, thủ đô nước Pháp, một trung tâm văn hóa, khoa học và chính
phân biệt không tránh khỏi trong nội bộ các Đảng dân chủ xã hội – quốc tế II. Sự
phân hóa về đường lối diễn ra trên hầu khắp các vấn đề cơ bản: đấu tranh giải
phóng, cách mạng xã hội, chuyên chính vô sản, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa
quốc tế, trong đó có vấn đề dân tộc thuộc địa.
Là một đảng viên hoạt động tích cực trong đảng xã hội Pháp, Nguyễn Ái
Quốc không thể đứng ngoài cuộc tranh luận: muốn tham gia đấu tranh phải tìm
hiểu về lý luận. Tháng 7-1920, báo Luymanitê đăng trên sơ thảo lần thứ nhất
những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin, Nguyễn Ái
Quốc đã sơ bộ đi đến kết luận: chủ nghĩa tư bản, đế quốc ở đâu cũng tàn bạo, độc
ác bất công; người lao động ở đâu cũng bị áp bức, bóc lột. Mà cũng chỉ có một
mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”.
Như vậy là từ nhận thức về quan hệ áp bức dân tộc Người đã đi tới nhận
thức về quan hệ áp bức giai cấp,từ quyền của các dân tộc, Người đã đi tới quyền
của con người, trước hết là của những người lao động; từ xác định rõ kẻ thù là
chủ nghĩa đế quốc, Người đã thấy được bạn đồng minh là nhân dân lao động ở
các chính quốc và thuộc địa.
Có thể nói, trước Đại hội Tua, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp cận gần kề với
chân lý của Lênin, Người suy nghĩ về những vấn đề mà Lênin đã viết, tuy chưa
rõ ràng và sáng tỏ. Đến khi đọc luận cương của Lênin, thấy Lênin diễn đạt một
cách đầy đủ và sâu sắc những điều mình đang nung nấu, do vậy Người đã mừng
rỡ đến trào nước mắt, đã reo lên như tìm thấy một phát kiến vĩ đại. Ngồi một
mình trong buồng tối mà nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo:
“Hỡi đồng bào bị đày đọa đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con
đường giải phóng của chúng ta!”. Chính luận cương của Lênin đã giúp Người
tìm ra con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Người
Dương Thị Khánh Ly/ DS33C044
7
Bài tập học kì/ Môn Tư tưởng Hồ Chí Minh
cũng đã nói rằng: trên thế giới bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều, nhưng
học thuyết chân chính nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác – Lênin.
Nội, 2005.
4. Nguyễn Mạnh Tường, "Về những nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí
Minh", Tạp chí triết học, 5/2005.
5. />6.
7. />Dương Thị Khánh Ly/ DS33C044
9