LỜI NÓI ĐẦU
Tiến lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cách mạng lớn lao nhất và quan
trọng nhất của Đảng và nhân dân ta hiện nay vì chỉ có thực hiện được mục
tiêu này, chúng ta mới có thể xây dựng được một nước Việt Nam mà theo
cách nói của Hồ Chí Minh là: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân
chủ, văn minh”. Và cũng chỉ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chúng ta
mới có thể làm thoả mãn ham muốn tột cùng, ham muốn cuối đời của Người
đó là : “Làm sao cho dân ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học
hành
”. Vậy chúng ta phải làm thế nào để thực hiện mục tiêu trên? Từ thực
tế hiện nay cùng với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là bỏ qua
chế độ chủ nghĩa tư bản, mà tại đại hội VII của Đảng ta lần đầu tiên đã khẳng
định: Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là
kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng. Tức là, chúng ta phải: dùng lập trường,
quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh
nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước
ta. Có như thế chúng ta mới có thể dần dần tìm hiểu được quy luật phát triển
của Cách mạng Việt Nam, định ra được đường lối, phương châm, bước đi cụ
thể của Cách mạng xã hội chủ nghĩa phù hợp với tình hình nước ta.
Làm đề tài tiểu luận này, vơí tư cách là một sinh viên, một công dân
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một mặt tôi muốn cùng mọi
người tìm hiểu sâu hơn và kĩ hơn về Triết học Mác - Lênin phần chủ nghĩa
duy vật biện chứng. Cụ thể hơn, đó là mối quan hệ biện chứng giữa vật chất
với ý thức. Mặt khác, tôi cũng muốn góp một phần công sức nhỏ bé của mình
vào sự nghiệp cách mạng lớn lao của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay- sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội- mà nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác -
Lênin. Đó là, mọi sách lược, chiến lược cách mạng của chúng ta phải được
xuất phát từ thực tế khách quan, phát huy được tính năng động chủ quan và
đồng thời chống chủ quan duy ý chí. Đây được coi là một vấn đề hết sức quan
trọng, bởi nó quyết định sự thành công hay thất bại trên con đường đi tới chủ
2
bộ não người. Bộ não người bao gồm khoảng 15 đến 17 tỉ tế bào thần kinh,
các tế bào này tạo nên vô số các mối liên hệ nhằm thu nhận, xử lý, truyền dẫn
và điều khiển toàn bộ các hoạt động của cơ thể trong quan hệ đối với thế giới
bên ngoài qua cơ chế phản xạ không điều kiện và có điều kiện.
Không chỉ có thế, vận động của ý thức, tư duy trên thực tế cũng là sản
phẩm của sự vận động của vật chất. Điều đó được chứng minh một cách khá
rõ ràng ở hình thức vận động xã hội của vật chất. Đó là sự thay thế lẫn nhau
của các hình thái kinh tế- xã hội, từ đó sớm hay muộn cũng dẫn đến sự thay
đổi của ý thức, của cách nghĩ, bởi tồn tại xã hội bao giờ cũng quyết định ý
thức xã hội.
Vai trò cơ sở, quyết định của vật chất còn được thể hiện ở chỗ nó quyết
định nội dung phản ánh, quyết định sự biến đổi của ý thức.
Từ nội dung thứ hai trong định nghĩa vật chất của Lênin rằng: Vật chất
mà cái cảm giác, tư duy, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó, mà ta
thấy rằng nội dung phản ánh của ý thức là thế giới bên ngoài, là hiện thực
khách quan. Hay nói như chủ nghĩa duy vật macxit : Ý thức là sự phản ánh
thế giới khách quan vào trong bộ óc của con người. Chính vì vậy mà thế giới
khách quan như thế nào thì ý thức phản ánh như thế ấy, không nên phản ánh
một cách xuyên tạc, hư ảo, bóp méo sự thật về thế giới khách quan như việc
tô vẽ hình tượng các vị thần linh. Nói cách khác, nội dung phản ánh của ý
thức phải lấy cái khách quan làm tiền đề và bị cái khách quan quy định.
Vật chất quyết định sự biến đổi của ý thức. Do ý thức là chức năng của
bộ não người. Hoạt động ý thức không diễn ra ở đâu ngoài những hoạt động
sinh lý thần kinh của bộ não. Ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ não, do
đó khi bộ não bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ không được bình thường
hoặc bị rối loạn.
Mặt khác, trong hoạt động của con người, nhu cầu vật chất bao giờ
cũng giữ vai trò quyết định, chi phối và quy định mục đích hoạt động bởi vì
con người trước hết phải được thoả mãn nhu cầu vật chất tối thiểu : ăn, ở,
Do đó nó có tác động tích cực, làm biến đổi hiện thực, vật chất khách quan
theo nhu cầu của mình.
Ý thức sai lầm, trái quy luật khách quan của con người có tác động tiêu
cực thậm chí phá hoại các điều kiện khách quan, hoàn cảnh khách quan, kéo
lùi lịch sử. Bởi mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ tác động
qua lại. Không nhận thức được điều này sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầm
thườngvà bệnh nảo thủ trì trệ trong nhận thức và hành động.
Nói tới vai trò của ý thức về thực cất là nói tới vai trò của con người
bởi ý thức là ý thức của con người.
Trái với các nhà triết học duy tâm muốn biến ý thức của con người
thành động lực của lịch sử, Cácmac và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Xưa nay,
tư tưởng không thể đưa người ta vượt ra ngoài trật tự thế giới cũ được, trong
bất cứ tình huống nào, tư tưởng cũng chỉ có thể đưa người ta vượt ra ngoài
phạm vi tư tưởng của trật tự thế giới cũ mà thôi”. Thật vậy, tư tưởng căn bản
không thể thực hiện được cái gì hết. Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có
những con người sử dụng lực lượng thực tiễn. Điều đó cũng có nghĩa là con
người muốn thực hiện các quy luật khách quan thì phải nhận thức, vận dụng
đúng đắn các quy luật đó, phải có ý chí và phương pháp để tổ chức hành
động. Như vậy vai trò của ý thức là ở chỗ nó giúp con người đề ra chủ trương,
đường lối, chính sách, những mục đích, kế hoạch, biện pháp, phương hướng
phù hợp với thực tế khách quan. Nói như vậy có nghĩa là cũng có những ý
thức khoa họcvà những ý thức không khoa học so với hiện thực khách quan,
tương ứng với nó là hai tác động trái ngược nhau tích cực và tiêu cực của ý
thức đối với vật chất.
Vai trò tích cực của ý thức, tư tưởng không phải ở chỗ nó trực tiếp tạo
ra hay thay đổi thế giới vật chất mà là nhận thức thế khách quan từ đó hình
thành được mục đích, phương hướng, biện pháp đúng đắn đồng thời có ý chí,
quyết tâm cần thiết cho hoạt dộng của mình. Sức mạnh cuả ý thức con người
5
không phải ở chỗ tách rời điều kiện vật chất, thoát ly hiện thực khách quan,
luật vốn có của nó – tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con
người thì trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế
khách quan, lấy thực thể khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình.
Chính vì vậy, Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, không được lấy ý muốn
chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất
phát cho chiến lược và sách lược cách mạng. Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ
quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ
mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.
Không chỉ có thế, khi vai trò chỉ đạo của ý thức phạm sai lầm thì tinh
thần, dũng cảm, lòng nhiệt tình, chí quyết tâm cũng làm cho hoạt động thực
tiễn thất bại một cách nhanh chóng.
Qua những điều vừa trình bày ở trên về mối quan hệ giữa vật chất với ý
thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chúng ta có thể rút ra một ý nghĩa hết
sức quan trọng trong hoạt động thực tiễn của con người như sau: Mọi hoạt
động của con người ( cả hoạt động nhận thức lẫn hoạt động thực tiễn) đều
phải xuất phát từ thực tế khách quan, phát huy được tính năng động sáng tạo
của ý thức, tư tưởng, của nhân tố chủ quan của con người và đồng thời chống
chủ quan duy ý chí.
2. Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất
với ý thức vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
2.1. Xuất phát từ thực tế khách quan từ đó đề ra đường lối, chủ trương,
chính sách, kế hoạch, phương hướng, mục tiêu…đúng đắn cho sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Chúng ta khẳng định: Chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ thay thế chủ nghĩa
tư bản như chủ nghĩa tư bản đã thay thế chế độ phong kiến. Đó là quy luật
khách quan của lịch sử loài người. ở nước ta, chủ nghĩa xã hội cũng nhất định
sẽ được xây dựng thành công trong sự gắn bó giữa độc lập dân tộc với chủ
nghĩa xã hội.
7
Xuất phát từ đâu và đi theo con đường nào? Chỉ có thể và phải xuất
tin hiện nay, chúng ta không có sự lựa chọn nào khác
là phải tiếp cận nhanh chóng với tri thức và công nghệ mới của thời đại để
từng bước phát triển kinh tế trí thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh
tinh thần của người Việt Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo là nền tảng
và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bởi nhân tố con
người đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển lực lượng sản xuất.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: Con
đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập hệ thống chính trị của
quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu,
kế thừa những thành tựu mà mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ
nghĩa, đặc biệt là về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản
xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực
là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp cho nên phải trải qua một thời kì quá độ
lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính
chất quá độ. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu
tranh giữa cái mới và cái cũ.
Khi khẳng định: chúng ta phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà
nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là, chúng ta lựa chọn,
sử dụng những thành tựu có lợi cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên
phương diện này cần phải xem chủ nghĩa tư bản không chỉ là một đối trọng
mà quan trọng hơn đồng thời là một đối tác.
Đây là một vấn đề rất quan trọng đối với nước ta đi lên chủ nghĩa xã
hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Muốn chủ nghĩa xã hội thành công thì
không thể không sử dụng chủ nghĩa tư bản với tư cách là một nấc thang văn
minh nhân loại. Như Mac đã nói: “ chúng ta đau khổ vì chủ nghĩa tư bản và
cũng đau khổ vì không có nó”. Tức là, chúng ta đau khổ vì quan hệ sản xuất
9
sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nhưng có lẽ chúng ta còn
hệ thống pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ
chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của
kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy
được mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường,
bảo vệ lợi ích của người lao động, của toàn thể nhân dân.
Muốn đảm bảo cho nền kinh tế thị trường có điều kiện tồn tại và phát
triển, chúng ta phải thừa nhận sự tồn tại một cách tất nhiên và khách quan của
các quy luật: quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh… trong
nền kinh tế. Vì nó là cái khách quan nên chúng ta phải chú ý không nên đi
ngược lại nếu không thì chẳng bao giờ có thể xây dựng nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhưng bên cạnh những mặt tích cực của nền kinh tế thị trường là: phát
triển nhanh lực lượng sản xuất, nâng cao mức sống, mức thu nhập của người
lao động lên thì mặt trái của nó trong một vài năm trở lại đây đang được phát
huy một cách mạnh mẽ, sự chênh lệch thu nhập dẫn đến sự phân hoá giàu
nghèo trong lao động, tệ nạn quan liêu, tham nhũng, suy thoái phẩm chất đạo
đức của một số cán bộ, công chức nhà nước…
Trước thực tế đó, Đảng và nhà nước cần có những biện pháp phân phối
hợp lý, không chỉ có phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế mà còn
phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh
doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Ngoài ra chúng ta cần có những biện
pháp khuyến khích làm giàu một cách chính đáng. Đối với thu nhập, nhà nước
cần có cơ sở điều tiết thu nhập (thuế thu nhập), cải cách cơ bản chế độ tiền
lương. Đối với người nghèo và có hoàn cảnh khó khăn cần có chính sách xã
hội hợp lý: bàn cách làm giàu… mặt khác cần kiên quyết chống những thu
nhập bất chính.
Đáng sợ hơn đó là tệ nạn quan liêu, tham nhũng, suy thoái phẩm chất
đạo đức của nhiều cán bộ, công chức nhà nước nằm ngay trong bộ máy nàh
11
nước, nó gây ra bất công xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh
Thứ nhất, cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông
tin, công nghệ sinh học tiếp tục có những bước nhảy vọt, ngày càng trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tri thức. Nước
ta một mặt có cơ hội rút ngắn khoảng cách so với các nước phát triển, cải
thiện vị thế của mình. Đồng thời đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn nếu
không tranh thủ được cơ hội, khắc phục được những yếu kém để vươn lên.
Điều này đòi hỏi các nhà doanh nghiệp phải hết sức nhanh nhạy nắm bắt
thông tin, áp dụng những thành tựu của khoa học công nghệ vào trong kinh
doanh, có như thế mới mong có cơ hội phát triển.
Thứ hai, toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước,
bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh
tranh và tính tuỳ thuộc nhau giữa các nền kinh tế. Nước ta cũng không thể
nằm ngoài vòng xoáy đó.
Vậy chúng ta phải làm thế nào để vừa có thể hội nhập kinh tế quốc tế,
tham gia vào xu thế toàn cầu hoá lại vừa có thể giữ vững được nền kinh tế độc
lập tự chủ.
Trước tiên phải tính đến vai trò của bộ máy nhà nước. Theo chỉ dẫn của
Lênin thì bộ máy nhà nước cần phải vừa mềm dẻo vừa hết sức cứng rắn:
“Ngày nay cần có sự mềm dẻo tối đa, mà muốn thế, muốn ứng biến một cách
mềm dẻo thì bộ máy phải thực sự cứng rắn”. Phải mềm dẻo vì đây là thời kỳ
quá độ, biện pháp quá độ. Phải cứng rắn vì đây là cuộc “chiến tranh kinh tế”,
cuộc chiến tranh “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Bởi
kẻ nào nắm thống trị về kinh tế thì dần dần sớm muộn cũng sẽ thống trị cả về
chính trị (áp dụng mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc
thượng tầng).
Thứ hai, đó là chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội mang bản sắc dân
tộc vận hành trước xu thế toàn cầu hoá, chủ động mở cửa hội nhập kinh tế
13
quốc tế nhưng phải giữ vững nền kinh tế độc lập tự chủ. Bởi vì không có bản
lĩnh và không có bản sắc độc đáo riêng được giữ gìn, bảo vệ và phát huy thì
mẻ, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò của nhân tố chủ
quan, của tính năng động chủ quan. Đó chính là những phát minh vĩ đại,
những đường lối chính sách đứng đắn có tính chất quyết thắng của toàn thể
dân tộc Việt Nam.
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp sáng tạo vĩ đại của
đông đảo quần chúng. Không có ý chí, hoài bão lớn, nghị lực lớn thì không
thể thực hiện được những nhiệm vụ trọng đại, khó khăn phức tạp chưa từng
có trong lịch sử dân tộc. Vấn đề là ở chỗ mọi nhiệt tình và ý chí cách mạng
hiện nay phải gắn liền với chi thức, hiểu biết, đặt trên cơ sở khoa học, sự phát
triển tiềm lực trí tuệ của cả dân tộc.
Không có khoa học, không có sự phát triển mạnh mẽ nguồn lực trí tuệ
thì không thể dẫn dắt xã hội đi tới văn minh, hiện đại. Do đó, phải quy tụ mọi
tài năng của công dân, tập hợp trí tuệ và phát huy sức mạnh trí tuệ của cả dân
tộc. Đây phải đứng ở đỉnh cao và là chỗ kết tinh tài năng ý chí chỉ đạo, bản
lĩnh giai cấp và dân tộc, biểu hiện tinh thần thời đại.
Bước vào thế kỷ XXI, chúng ta tin chắc vào thắng lợi của sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, tin chắc chủ nghĩa xã hội nhất
định thành công, nhất định tiếp tục đi theo con đường đã chọn, dù một thế kỷ
hay lâu hơn nữa cũng không nao núng. Đó phải chăng là sự khẳng định một ý
chí lớn, một niềm tin lớn, một quyết tâm lớn mà nếu không có thì sẽ không
tiếp tục cụ thể hoá và từng bước đưa vào cuộc sống những điều ghi trong
cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ qua độ lên chủ nghĩa xã hội cũng
như trong Đại hội Đảng lần thứ IX.
Với ý chí “quyết tâm đưa nước ta thoát khỏi nghèo làn, lạc hậu”, thhì
không thể chậm chễ trong công nghiệp hoá, hiện đại hhoá đất nước, để nhanh
chóng thu hẹp khoảng cách giữa nước ta với các nước phát triển.
15
Trong khi đề cao vai trò của nhân tố chủ quan, của ý chí, nhiệt tình,
cách mạng cũng cần phải phân biệt với tư tưởng chủ quan duy ý chí. Chủ
nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
hệ động lực tinh thần mạnh mẽ cổ vũ lớn lao cho sự nghiệp cách mạng vĩ đaịo
của toàn Đảng và nhân dân ta. Đó chính là “xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc”, đó là “khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của
người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo làm lạc hậu”. Đồng
thời, chúng ta cũng cần tránh tư tưởng chủ quan duy ý chí, nóng vội trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Một điều hết sức quan trọng đó là làm sao
để vừa xây dựng nền kinh tế có sự tham gia của các thành phần kinh tư bản
lại vừa tránh được nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Đây cũng là một
vấn đề cấp thiết mà Đảng và nhà nước ta cần có phương hướng đi sao cho phù
hợp.
Gần đây có một số ý kiến cho rằng: Mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ
bản trở thành một nước công nghiệp của Đảng ta là chủ quan duy ý chí, là
nóng vội, không tuân theo chủ nghĩa Mác – Lê nin, rằng nước ta chưa đủ điều
17
kiện để có thể đề ra một mục tiêu không tưởng như vậy. Đứng trước tình hình
này, Đảng và nhà nước ta cần có biện pháp, bước đi như thế nào?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình triết học Mác - Lênin (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội)
2. Triết học Mác - Lênin (NXB giáo dục)
3.Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
NXB Sự thật, Hà Nội, năm 1991.
4. Chủ nghĩa Lênin và công cuộc đổi mới trong sự nghiệp xây dựng
CNXH ở nước ta (NXB Thông tin lý luận, năm 1995).
5. Lê Khả Phiêu: “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng…” (NXB
Chính trị quốc gia, năm 2001).
6. Lý luận chính trị số 1- 2002.
7. Tạp chí Cộng sản số 22 - 2000.
8. Tạp chí Cộng sản số 5 - 2001.
9. Tạp chí Cộng sản số 6 - 2001.
10. Tạp chí Cộng sản số 8 - 2001.