Bài tập tình huống về cty cổ phần và cty trách nhiệm hữu hạn - Pdf 25

Bài tập nhóm tháng 1 Môn Luật thương mại 1
Lời nói đầu:
Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình công ty gồm không quá 50 thành viên
góp vốn thành lập công ty và công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
công ty bằng tài sản của mình, thành viên công ty chị trách nhiệm trong phạm vi
số vốn góp vào công ty. Loại hình công ty này có nhiều ưu điểm đáp ứng được
yêu cầu của các nhà đầu tư, hạn chế rủi ro trong kinh doanh bởi vậy ngày càng
nhiều người lựa chọn loại hình doanh nghiệp này để kinh doanh. Để hiểu rõ hơn
về đặc điểm và quy chế pháp lý công ty TNHH, chúng ta cùng tìm hiểu tình
huống sau đây.
1
Bài tập nhóm tháng 1 Môn Luật thương mại 1
Nội dung:
I . Tóm tắt nội dung đề bài:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn ABC được thành lập có vốn điều lệ 2 tỷ VNĐ
trong đó:
+ A cam kết góp 1 tỷ đồng bằng tiền mặt.
+ B góp một số máy móc, thiết bị với giá trị là 600 triệu VNĐ.
+ C góp tiền thuê trụ sở giao dịch trong thời hạn 5 năm trị giá 400 triệu VNĐ.
- Theo điều lệ công ty:
+ A là giám đốc.
+ B là chủ tịch hội đồng thành viên.
+ C là kế toán trưởng của công ty.
+ Mọi thành viên đều là người đại diện theo pháp luật của công ty, có quyền
nhân danh công ty để ký kết các hợp đồng.
- Thực hiện góp vốn vào vốn điều lệ của công ty sau khi được cấp giấy chứng
nhận ĐKKD:
+ C và B thực hiện đúng việc góp vốn.
+ A chỉ nộp 500 triệu đồng, hội đồng thành viên thỏa thuận A phải góp đủ số
tiền còn lại là 500 triệu đồng trước ngày 01/12/2006. Ngày 01/07/2007 A mới
góp đủ số vốn.

thiết bị này, trong trường hợp này không cần thiết phải có sự đồng ý của ai khác
chỉ cần hội đồng thành viên công ty ABC đồng ý nhất trí.
+ Thuê tổ chức định giá chuyên nghiệp đánh giá giá trị số thiết bị máy móc
của B sau đó phải đưa ra hội đồng thành viên để cùng thỏa thuận, nhất trí.
Sau khi định giá cho số máy móc thiết bị này, bắt buộc phải có “biên bản định
giá” có chữ ký của các bên liên quan. Nếu có chênh lệch giá trị định giá so với
3
Bài tập nhóm tháng 1 Môn Luật thương mại 1
giá trị thực tế mà gây ra thiệt hại, nợ nần…các bên có liên quan tới việc định giá
số máy móc này là A, B, C hoặc có thể là tổ chức định giá chuyên nghiệp sẽ phải
liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công
ty bằng phần chênh lệch giá trị đó.
- Bước 2 : Lập bản cam kết góp vốn.
Sau khi đã định giá được tài sản là máy móc, thiết bị mang ra để góp vốn, B
cùng các thành viên trong hội đồng thành viên phải viết một biên bản cam kết
góp vốn trong đó phải ghi rõ tài sản góp vốn là gì, giá trị bao nhiêu căn cứ vào
định giá tài sản trước đó rồi tất cả cùng phải ký vào biên bản đó.
- Bước 3 : Chuyển quyền sở hữu tài sản và biên bản góp vốn
Số máy móc thiết bị vẫn đang thuộc quyền sở hữu của B, do vậy B phải làm
tiếp thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty vào thời điểm: Sau khi công
ty được cấp giấy chứng nhận ĐKKD và tại thời điểm được ghi trong cam kết góp
vốn( theo Điều 29, Luật Doanh nghiệp năm2005).
Theo quy định tại Điều 167 Bộ luật dân sự năm 2005: ”Quyền sở hữu đối với
động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật quy định khác”. Xét
trong tình huống này ta thấy các máy móc, thiết bị của B là động sản vì vậy nó
thuộc nhóm tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu vì vậy việc góp vốn phải
được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản.
Biên bản này là biên bản giao nhận và phải có đầy đủ các thành phần được quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 29 Luật Doanh nghiệp năm 2005 về “Chuyển
quyền sở hữu tài sản” như: họ tên và địa chỉ trụ sở chính của công ty; họ tên, địa

kế toán trưởng của công ty. Điều lệ công ty còn quy định “Mọi thành viên đều là
người đại diện theo pháp luật của công ty và có quyền nhân danh công ty ký kết
các hợp đồng”
b . Ý kiến đánh giá của nhóm :
5
Bài tập nhóm tháng 1 Môn Luật thương mại 1
- Theo như quy định của điều lệ công ty thì công ty ABC có tới ba người là đại
diện theo pháp luật, điều này được các thành viên thống nhất ý kiến, đây mới là
điều kiện cần chứ chưa phải đủ để có thể cho rằng điều lệ này đúng. Bởi lẽ:
+ Căn cứ Điều 46 Luật Doanh nghiệp năm 2005: “…Chủ tịch hội đồng thành
viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của
công ty theo quy định tại Điều lệ công ty…”, điều này có nghĩa là trong thực tế
công ty ABC chỉ có hai chức danh được nhắc đến trong điều luật : giám đốc là A
và chủ tịch hội đồng thành viên là B được phép là người đại diện theo pháp luật
của công ty , C với vai trò là kế toán trưởng không thể đảm nhận được vị trí đại
diện theo pháp luật công ty ABC được.
Hơn nữa chúng ta thấy điều luật có quy định: theo quy định tại điều lệ công ty
ai là đại diện theo pháp luật của công ty ABC nhưng trong điều luật sử dụng từ
“hoặc”, tức là A với vai trò là giám đốc, hoặc B với vai trò là chủ tịch hội đồng
thành viên được phép trở thành người đại diện theo pháp luật của công ty ABC.
Nhiệm vụ của hội đồng thành viên là lựa chọn A hoặc B là người đại diện theo
pháp luật của công ty ABC và quy định nó trong Điều lệ công ty.
Pháp luật quy định người đại diện theo pháp luật cho công ty là cá nhân, điều
này tránh được sự tùy tiện trong giải quyết công việc và tránh cả việc đùn đẩy
trách nhiệm khi có sự cố xảy ra. Nhưng, Luật cũng cho phép khi người đại diện
theo pháp luật không trực tiếp đại diện được có thể ủy quyền cho người khác thay
mình, việc này là có sự lựa chọn của người đại diện với những điều kiện cụ thể
được pháp luật quy định.
Như vậy, trong tình huống trên điều lệ của công ty ABC trái với quy định của
pháp luật. Theo Điều 19 LDN 2005 quy định về hồ sơ đăng ký kinh doanh, theo

viên, nên việc B tự ý ra quyết đinh mức chia lợi nhuận cho các thành viên trong
công ty là không đúng thẩm quyển. Điều lệ công ty cũng không quy định việc
7
Bài tập nhóm tháng 1 Môn Luật thương mại 1
Chủ tịch Hội đồng thành viên được phép đặt ra mức chia lợi nhuận cho các thành
viên, nên B không được tự ý đặt ra mức chia lợi nhuận.
- Thứ hai, về quyết định chia đều số lợi nhuận.
+Nếu như: Căn cứ vào các Điều sau: khoản 2 Điều 39: “Trường hợp có thành
viên không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được coi
là nợ của thành viên đó đối với công ty; thành viên đó phải chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết.”;
Điều 41: thành viên trong công ty có quyền: “Được chia lợi nhuận tương ứng với
phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài
chính khác theo quy định của pháp luật”. Điều 61: “Công ty chỉ được chia lợi
nhuận cho các thành viên khi công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa vụ
thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; đồng thời vẫn
phải bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản đến hạn trả khác
sau khi chia lợi nhuận.” của Luật Doanh nghiệp 2005 thì chúng ta có thể nhận
xét như sau: việc chia đều số lợi nhuận cho các thành viên trong công ty là trái
với quy định của pháp luật, lợi nhuận của công ty phải được chia cho các thành
viên tương ứng với phần vốn góp của thành viên đó. Cụ thể A sẽ được chia 50%
lợi nhuận (75 triệu), B được chia 30% lợi nhuận (45 triệu), C được chia 20%
lợi nhuận (30 triệu). Phần vốn mà A chưa góp vào công ty sẽ được coi là nợ của
A đối với công ty.
+ Nhưng nếu căn cứ theo khoản 3 Điều 18 Nghị định 102 ngày 01/10/2010 về
Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp: “3. Trong thời
hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếu biểu quyết và được
chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp trừ trường hợp Điều lệ công ty
quy định khác”. Do kết thúc năm tài chính 2006, điều lệ công ty không có quy
định mà A đã góp vào công ty 500 triệu đồng vì thế lợi nhuận sẽ được chia cho A

Bài tập nhóm tháng 1 Môn Luật thương mại 1
Kết thúc:
Loại hình công ty TNHH là loại hình công ty phổ biến và ngày càng phát triển
ở nước ta. Nó là sự kết hợp những ưu điểm của loại hình công ty hợp danh và
công ty cổ phần phù hợp cho quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhưng trên thực
tế cho thấy bên cạnh sự phát triển không ngừng về số lượng loại hình công ty này
thì nảy sinh một số vấn đề phát sinh trong thực tế nhưng luật lại chưa thể khái
quát để giải quyết đặc biệt là trong vấn đề về lộ trình góp vốn và phân chia lợi
nhuận…như tình huống ở trên. Do đó cần có sựu nghiên cứu để hoàn thiện luật
tạo điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động của doanh nghiệp cũng như sự phát triển
của ngành kinh tế.
Trên đây là cách giải quyết tình huống cũng như một số ý kiến đánh giá của
nhóm chúng em về bài tập tình huống liên quan đến công ty TNHH, trong quá
trình giải quyết do còn hạn chế về mặt nhận thức nên không thể tránh khỏi thiếu
sót, chúng em mong nhân được sự góp ý của thầy cô và các bạn để bài tập của
nhóm chúng em hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
10
Bài tập nhóm tháng 1 Môn Luật thương mại 1
Danh mục tài liệu tham khảo:
* Sách:
1. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thương mại - tập 1, NXB
Công an nhân dân, Hà Nội 2006.
2. Nguyễn Thị Dung (chủ biên), Đoàn Trung Kiên, Vũ Phương Đông, Trần
Quỳnh Anh, Nguyễn Như Chính, Hỏi đáp luật thương mại, Nxb. Chính trị
- hành chính, 2011.
3. Nguyễn Thị Khế, Pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh, Nxb. Tư
pháp, Hà Nội, 2007.
4. Trường Đại học Luật Hà Nội, Tù điển giải thích thuật ngữ luật học (thuật
ngữ kinh tế), Nxb. CAND, Hà Nội, 2000.

doanh chính là hàng thủ công mỹ nghệ. Vốn điều lệ của công ty là 2 tỷ đồng,
trong đó cổ phần phổ thông là 1 tỷ đồng, cổ phần ưu đãi cổ tức là 500 triệu, cổ
phần ưu đãi biểu quyết là 500 triệu. Công ty phát hành 200.000 cổ phần (mỗi cổ
phần có mệnh giá là 10.000 đồng).
12
Bài tập nhóm tháng 1 Môn Luật thương mại 1
Bằng các quy định của Luật Doanh nghiệp (2005), hãy cho biết có những
vấn đề pháp lý nào cần phải lưu ý khi diễn ra các sự kiện sau đây:
a. Đại hội cổ đông(ĐHCĐ) bầu thành viên HĐQT (điều kiện hợp lệ, điều
kiện thông qua quyết định).
b. Cổ đông Trần T nắm giữ 10% cổ phần của công ty (trong đó có 5% là cổ
phần ưu đãi biểu quyết và 5% là cổ phần phổ thông) muốn chuyển nhượng toàn bộ
cổ phần cho người khác.
c. Công ty tiến hành phân chia cổ tức cho các cổ đông.
d. Nguyễn H nắm giữ 20.000 cổ phần phổ thông của công ty, đề nghị công ty
chuyển đổi toàn bộ cổ phần của mình thành cổ phần ưu đãi cổ tức nhưng không
được công ty chấp nhận, vì vậy, H yêu cầu công ty mua lại toàn bộ cổ phần của
mình.
e. Giả sử khi thành lập, vốn điều lệ của công ty ghi là 2 tỷ đồng nhưng các
cổ đông sáng lập chỉ mua và trả tiền mua 100.000 cổ phần tương đương với 1 tỷ
đồng.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1. Đại hội cổ đông (ĐHCĐ) bầu thành viên hội đồng quản trị
(HĐQT).
"Đại hội đồng cổ đông bao gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ
quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần" (Khoản 1 Điều 96 Luật Doanh
nghiệp).
"Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh
công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc
thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông" (Khoản 1 Điều 108 Luật Doanh nghiệp).

tại ĐIều lệ công ty.
Nếu điều lệ công ty không có quy định thì thể thức tiến hành họp và biểu
quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ được tiến hành theo quy định tại Điều 103 Luật
Doanh nghiệp 2005: Trước ngày khai mạc cuộc họp phải tiến hành đăng kí việc
14
Bài tập nhóm tháng 1 Môn Luật thương mại 1
dự họp ĐHĐCĐ cho đến khi bảo đảm việc đăng ký đầy đủ các cổ đông có quyền
dự họp. Người đăng ký dự họp sẽ được cấp thẻ biểu quyết tương ứng với số vấn
đề cần biểu quyết trong chương trình họp. Việc biểu quyết được tiến hành bằng
cách thu thẻ biểu quyết tán thành nghị quyết, sau đó thu thẻ biểu quyết không tán
thành, cuối cùng kiểm phiếu tập hợp số phiếu tán thành, không tán thành, không
có ý kiến. Kết quả kiểm phiếu được chủ tọa công bố ngay trước khi bế mạc cuộc
họp.
Tiêu chuẩn và điều kiện để là thành viên HĐQT của Công ty Long Thành
(theo Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2005) :
- Có đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc các đối tượng bị cấm quản lý
doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005;
- Là cổ đông cá nhân sở hữu ít nhất 5 % tổng số cổ phần phổ thông hoặc
người khác có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh hoặc
trong ngành, nghề kinh doanh chủ yếu của công ty hoặc tiêu chuẩn, điều kiện
khác quy định tại Điều lệ công ty Long Thành.
1.2. Điều kiện thông qua quyết định của ĐHĐCĐ bầu HĐQT.
Điều kiện thông qua quyết định của ĐHĐCĐ được quy định rõ tại Điều 104
Luật Doanh năm 2005. Theo đó, ĐHĐCĐ thông qua các quyết định thuộc thẩm
quyền bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến tại bằng văn bản,
cụ thể như sau :
•Trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì quyết định của Đại hội
đồng cổ đông về bầu thành viên HĐQT phải được thông qua bằng hình thức biểu
quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ.
Quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua tại cuộc họp khi có các điều kiện

lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.
“Quyết định của ĐHĐCĐ bầu HĐQT phải được thông báo đến cổ đông có quyền dự họp
ĐHĐC trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày quyết định được thông qua.” (Khoản 6 Điều
104 Luật Doanh nghiệp 2005)
16
Bài tập nhóm tháng 1 Môn Luật thương mại 1
2. Cổ đông Trần T nắm giữ 10% cổ phần của công ty (trong đó có 5% là
cổ phần ưu đãi biểu quyết và 5% là cổ phần phổ thông) muốn chuyển
nhượng toàn bộ cổ phần cho người khác.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 78 Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì: "Chỉ có tổ chức
được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết".
Như vậy, với tư cách cá nhân nắm giữ 5% cổ phần ưu đãi biểu quyết, Trần T là một trong
những cổ đông sáng lập của công ty cổ phần Long Thành. Trần T sở hữu hai loại cổ phần là cổ
phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông mà vấn đề chuyển nhượng hai loại cổ phần này có
những đặc trưng pháp lí riêng.
2.1. Việc chuyển nhượng đối với 5% cổ phần phổ thông.

Cổ phần phổ thông của Trần T là cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập. Mà công ty
Long Thành thành lập vào tháng 7/2011, tức là tính đến thời điểm hiện tại là tháng 9/ 2011 thì
công ty mới thành lập được khoảng 2 tháng.
Khoản 5 Điều 84 Luật doanh nghiệp năm 2005 : "Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công
ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển
nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển
nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự
chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông…".
Như thế theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005, việc chuyển nhượng đối với 5% cổ
phần phổ thông này phải chịu một số quy định về hạn chế về chuyển nhượng. Cụ thể:
•Nếu đối tượng nhận chuyển nhượng là cổ đông sáng lập khác thì Trần T
được tự do chuyển nhượng toàn bộ 5% cổ phần phổ thông của mình cho họ. Luật
Doanh nghiệp năm 2005 không hạn chế việc chuyển nhượng cổ phần phổ thông

chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết định của ĐHĐCĐ ". Theo đó, Trần T có thể
thuyết phục ĐHĐCĐ quyết định chuyển đổi 5% cổ phần ưu đãi biểu quyết của mình thành cổ
phần phổ thông. Khi đó, với sự quyết định của ĐHĐCĐ sẽ xảy ra 2 trường hợp:
- Trường hợp 1: ĐHĐCĐ thông qua việc chuyển đổi 5% cổ phần ưu đãi biểu
quyết của Trần T thành cổ phần phổ thông. Khi đó việc chuyển nhượng cổ phần
của Trần T sẽ áp dụng như với trường hợp chuyển nhượng cổ phần phổ thông của
cổ đông sáng lập đã nêu ở trên.
- Trường hợp 2: ĐHĐCĐ không thông qua việc chuyển đổi 5% cổ phần ưu
đãi biểu quyết của Trần T thành cổ phần phổ thông. Thì Trần T không thể chuyển
nhượng 5% cổ phần ưu đãi biểu quyết của mình cho đến khi được thong qua hay
muộn nhất là sau tháng 7/2014.
Sau tháng 7/2014, nếu Trần T vẫn giữ ý định chuyển nhượng 5% cổ phần ưu đãi biểu
quyết này thì: Trần T có thể tự do chuyển nhượng 5% cổ phần đó cho bất kì cổ đông nào hoặc
cho người không phải cổ đông mà không chịu bất cứ ràng buộc nào từ phía ĐHĐCĐ, nhưng
khi đó danh nghĩa 5% cổ phần này khi được chuyển nhượng không còn là cổ phần ưu đãi biểu
quyết nữa mà sẽ trở thành cổ phần phô thông theo quy định của pháp luật. Bởi:
"Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công
ty được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết
của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông" (Khoản 3 Điều 78 Luật Doanh
nghiệp năm 2005). Và khi đó, các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của Trần T đều được bãi
bỏ.
2.3. Đánh giá chung về việc chuyển nhượng 10% cổ phần của Trần T
18
Bài tập nhóm tháng 1 Môn Luật thương mại 1
Nhìn chung, vào thời điểm hiện tại việc chuyển nhượng 10% cổ phần của Trần T có được
thực hiện hay phụ thuộc nhiều vào sự quyết định của ĐHĐCĐ. Nếu Trần T muốn thực hiện
việc chuyển nhượng cổ phần hoàn toàn theo ý chí của bản thân thì chỉ có thể thực hiện sau
tháng 7/2014.
Ngoài ra, việc chuyển nhượng cổ phần phải được thực hiện bằng văn bản theo cách thông
thường hoặc bằng cách trao tay cổ phiếu. Giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển

luật và Điều lệ công ty;
- Sau khi trả hết số cổ tức đã định, công ty vẫn phải bảo đảm thanh toán đủ
các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn.
b. Xác định giá trị cổ tức:
19
Bài tập nhóm tháng 1 Môn Luật thương mại 1
Cổ tức được tính toán chủ yếu trên cơ sở của lợi nhuận chưa sử dụng đến của công ty
cũng như viễn cảnh kinh doanh trong những năm kế tiếp. Sau đó nó được đề xuất bởi Hội đồng
quản trị và Ban kiểm soát (Ủy ban, hay Hội đồng Kiểm soát) trước Đại hội cổ đông hàng năm.
Tuy nhiên, phần lớn các công ty cổ phần cố gắng duy trì cổ tức không thay đổi. Điều này giúp
cho công ty có được sự tái bảo đảm của các nhà đầu tư, đặc biệt khi thu nhập ở mức thấp do
suy thoái kinh tế hay các nguyên nhân khác (phần bổ sung sẽ được lấy ra từ các quỹ dự phòng)
cũng như để gửi thông điệp tới các cổ đông là công ty đang lạc quan về viễn cảnh của nó trong
tương lai.
Giá trị của cổ tức được xác định theo từng năm tại đại hội cổ đông hàng năm của công ty,
và nó được thông báo cho các cổ đông hoặc là bằng lượng tiền mặt mà họ sẽ nhận được tính
theo số cổ phiếu mà họ đang sở hữu hay số phần trăm trong lợi nhuận của công ty.
Khi phân chia cổ tức, một nguyên tắc luật định là phải căn cứ vào số lượng và loại cổ
phần để chia. Cổ tức là như nhau cho mọi cổ phiếu của cùng một loại, hoặc cổ phiếu ưu đãi
hoặc cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường). Sau khi đã được thông báo, cổ tức trở thành khoản
phải trả của công ty.
c. Cách thức trả cổ tức cho cổ đông: Điều 93 Luật Doanh nghiệp 2005
quy định:
“ 2. …Cổ tức có thể được chi trả bằng tiền mặt, bằng cổ phần của công ty hoặc bằng tài
sản khác theo quy định tại Điều lệ công ty. Nếu chi trả bằng tiền mặt thì phải được thực hiện
bằng đồng Việt Nam và có thể được thanh toán bằng séc hoặc lệnh trả tiền gửi bằng bưu điện
đến địa chỉ thường trú của cổ đông.
Cổ tức có thể được thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng khi công ty đã có đủ
chi tiết về ngân hàng của cổ đông để có thể chuyển trực tiếp được vào tài khoản ngân hàng
của cổ đông. Nếu công ty đã chuyển khoản theo đúng các thông tin chi tiết về ngân hàng như

chuyển đổi toàn bộ cổ phần của mình thành cổ phần ưu đãi cổ tức nhưng
không được công ty chấp nhận, vì vậy, H yêu cầu công ty mua lại toàn bộ
cổ phần của mình.
4.1. Nguyễn H đề nghị công ty chuyển đổi toàn bộ cổ phần của mình
thành cổ phần ưu đãi cổ tức nhưng không được công ty chấp nhận.
Khoản 6 Điều 78 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: "Cổ phần phổ thông không thể
chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi. Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông
theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông.". Như vậy H nắm giữ 20.000 cổ phần phổ thông
của công ty, nếu anh yêu cầu chyển số cổ phần phổ thông nầy thành cổ phần ưu đãi thì yêu cầu
của anh không thể đáp ứng được. Nhưng nếu anh nắm giữ cổ phần ưu đãi và muốn chuyển số
cổ phần ưu đãi đó thành cổ phần phổ thông thì yêu cầu đó sẽ được công ty chấp thuận
4.2. Nguyễn H yêu cầu công ty mua lại toàn bộ số cổ phần của mình.
Điều 90 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định về việc mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ
đông như sau:
“1. Cổ đông biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi
quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ
phần của mình. Yêu cầu phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng
cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại. Yêu cầu phải được gửi đến
công ty trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết
định về các vấn đề quy định tại khoản này.
2. Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông quy định tại khoản 1 Điều này
với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời
hạn chín mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp không thoả thuận được về giá
thì cổ đông đó có thể bán cổ phần cho người khác hoặc các bên có thể yêu cầu một tổ chức
định giá chuyên nghiệp định giá. Công ty giới thiệu ít nhất ba tổ chức định giá chuyên nghiệp
để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng.”
Vậy điều kiện để cổ đông yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình là:
- Cổ đông biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại công ty.
21
Bài tập nhóm tháng 1 Môn Luật thương mại 1

Bài tập nhóm tháng 1 Môn Luật thương mại 1
Khi thành lập, vốn điều lệ của công ty ghi là 2 tỷ đồng nhưng các cổ đông sáng lập chỉ
mua và trả tiền mua 100.000 cổ phần tương đương với 1 tỷ đồng. Có hai trường hợp sẽ xảy ra:
- Trường hợp thứ nhất : Các cổ đông sáng lập mua và trả tiền 100.000 cổ
phần tương đương với 1 tỷ đồng có ít nhất hoặc nhiều hơn 20.000 cổ phần phổ
thông (20%). Có các vấn đề pháp lý sau nảy sinh:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 84 Luật Doanh nghiệp :“Các cổ đông sáng
lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được
quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn
chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh”
Thứ nhất, với 100.000 cổ phần tương đương với 1 tỷ đồng mà các cổ đông sáng lập đã mua
đã có ít nhất hoặc nhiều hơn 20.000 (20%) cổ phần phổ thông. Các cổ phần phổ thông được các
cổ đông sáng lập mua đã thỏa mãn quy định về việc mua cổ phần phổ thông của cổ đông sáng
lập theo Luật định.
Thứ hai, với 100.000 cổ phần còn lại mà công ty Long Thành đã chào bán nhưng không
được các cổ đông sáng lập đăng ký mua thì "phải được chào bán và bán hết trong thời hạn ba
năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh" ( khoản 4 Điều 84 Luật
Doanh nghiệp 2005).
- Trường hợp thứ hai : Các cổ đông sáng lập mua 100.000 cổ phần tương
đương với 1 tỷ đồng nhưng không đủ ít nhất 20.000 (20%) cổ phần phổ thông.
Khi đó các vấn đề pháp lý nảy sinh đó là :
Thứ nhất, với 100.000 cổ phần được mua ít hơn 20% cổ phần phổ thông chào bán thì các
cổ đông sáng lập phải thực hiện các biện pháp để có ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông chào
bán. Số cổ phần chưa góp đủ của cổ đông sáng lập phải được bù lại theo một trong các cách sau
đây :
- Các cổ đông sáng lập phải tiếp tục góp đủ số cổ phần đó theo tỷ lệ sở hữu cổ
phần của họ trong công ty;
- Một hoặc một số cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó ;
- Huy động người khác không phải là cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cỏ

D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
5. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thương mại - tập 1, NXB Công an
nhân dân, Hà Nội 2006.
6. Nguyễn Thị Dung (chủ biên), Đoàn Trung Kiên, Vũ Phương Đông, Trần Quỳnh
Anh, Nguyễn Như Chính, Hỏi đáp luật thương mại, Nxb. Chính trị - hành chính, 2011.
7. Nguyễn Thị Khế, Pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh, Nxb. Tư pháp,
Hà Nội, 2007.
8. Trường Đại học Luật Hà Nội, Tù điển giải thích thuật ngữ luật học (thuật ngữ
kinh tế), Nxb. CAND, Hà Nội, 2000.
9. PTS. Đoàn Văn Hạnh, Hướng dẫn thành lập-tổ chức-hoạt động của doanh
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, NXB lao động, Hà Nội,
1997.
10. Văn bản quy phạm pháp luật:
- Luật Doanh nghiệp năm 2005.
- Luật dân sự 2005.
- Nghị định của Chính phủ số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 hướng
dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp.
- Nghị định của chính phủ số 139/2007/NĐ-CP ngày 5 tháng 9 năm 2007
hướng dẫn thi hành một số điều của luật doanh nghiệp.
11. Tài liệu trên internet :
+ http://vi.wikipedia.org
+ http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/
+ http://tailieu.vn
+ http://www.luatdaiviet.vn
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status