A/ PHẦN MỞ ĐẦU:
Lý do chọn đề tài:
Làm nghề dạy học, ai cũng muốn “sản phẩm” của mình đạt chất lượng cao, ai
cũng muốn có học sinh giỏi, đặc biệt là với những người tâm huyết nghề nghiệp, họ luôn
dồn hết sức lực và trí tuệ của mình để đạt được những mong muốn đó. Tuy nhiên, muốn
có được như thế thì đòi hỏi sự nỗ lực từ nhiều phía (kể cả người học, người dạy, và phụ
huynh) chứ không chỉ phía người dạy, do đó mong muốn chính đáng của người thầy giáo
không chỉ dựa vào sự nỗ lực của chủ quan mà thành hiện thực được (và giáo viên văn
cũng không phải là ngoại lệ, đó là chưa nói đến để có được học sinh giỏi văn còn có
nhiều cái khó hơn các môn khác).
Thực tế cho thấy, hiện nay số học sinh giỏi văn có chiều hướng ngày càng giảm đi,
mà chất lượng của những em được công nhận cũng không cao, số bài viết giàu “chất
văn” ngày càng hiếm mà nguyên nhân một phần là do phụ huynh không muốn cho con đi
học môn văn vì sau này ít có cơ hội chọn nghề; học sinh thì không có hứng thú vì không
tìm thấy sự hấp dẫn ở môn văn, hơn nữa học môn văn thường điểm không cao (vì giáo
viên chỉ hay cho thang điểm 5-6-7, hiếm khi được điểm 8 điểm 9 cho dù học sinh đã có
những cố gắng). Còn người dạy thì cứng nhắc, rập khuôn, làm hạn chế sức sáng tạo của
học sinh, (vì em nào viết văn phải theo như đáp án mới cao điểm). Vì thế tôi muốn cùng
các đồng nghiệp trao đổi một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi văn
lớp 9. Tuy nhiên trong khuôn khổ của một đề tài, tôi chỉ dám đề cập đến vấn đề hướng
dẫn cho học sinh cách cảm thụ thơ để từ đó rèn kỹ năng viết văn.
B/PHẦN NỘI DUNG
1/ Thực trạng:
Hiện nay, phần lớn học sinh không thích học văn nên thường học qua loa, đối phó,
không nắm được các giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của các tác phẩm, không nhớ tác
phẩm đó của ai, hoàn cảnh sáng tác như thế nào? thậm chí nếu văn tác phẩm là thơ thì
cũng không thèm học thuộc (cho dù những bài thơ thật hay). Những nét khái quát của tác
phẩm không nắm được thì không có gì để viết, dẫn đến bài viết nghèo ý; văn viết khô
khan, trần trụi; nghĩ sao viết vậy chứ không biết gọt dũa, không biết dùng các biện pháp
1
tu từ thích hợp để cho bài viết sinh động.Thực trạng này đã được nhiều người tâm huyết
linh hoạt, không viết lại những nội dung mà giáo viên đã cho ghi khi học, không theo
khuôn mẫu nào thì giáo viên nên khuyến khích, động viên (có thể cho điểm cao, mặc dù
bài viết chưa xứng đáng như thế) để các em mạnh dạn viết theo cách hiểu, cách cảm của
mình, có như thế mới phát huy được tính sáng tạo trong học sinh. Mà muốn cho học sinh
biết cảm thụ thì trước hết người dạy phải đem được cái hay của văn chương đến cho
người học, giúp cho học sinh kỹ năng cảm thụ cái hay cái đẹp của tác phẩm qua những
biện pháp tu từ mà tác giả đã dụng công sử dụng.(lưu ý là những em đạt điểm cao trong
các bài kiểm tra và các bài làm văn không đồng nhất với những em ta sẽ chọn đi bồi
dưỡng văn. Vì điểm cao là chỉ mới biểu hiện của việc nắm được kiến thức và đạt chuẩn
theo đáp án chứ chưa hẳn là biết cảm thụ)
Khi chọn nên lấy rộng hơn một chút để tránh bỏ sót. Sau khi đã bồi dưỡng một thời
gian,giáo viên đã phần nào biết được sức học của các em; biết được em nào nhạy cảm,
tinh tế trong cách hiểu, cách cảm thì có thể tổ chức thi đợt 1 để loại dần (để dành thời
gian tập trung cho việc bồi dưỡng những em còn lại)
Thường, những em học giỏi là những em luôn khát khao bay vào thế giới tri thức, ham
hiểu biết, muốn khám phá và đó cũng chính là những em biết thưởng thức cái đẹp, có
tâm hồn trong sáng, lãng mạn nên bài viết thường đậm chất nhân văn, vì thế sau khi được
tiếp xúc với những tác phẩm giàu tính nghệ thuật, thấm đẫm tinh thần nhân đạo thì các
em đã phần nào cảm thụ được cái hay của tác phẩm, chỉ cần giáo viên hướng dẫn các em
cách tiếp cận, cách khai thác là các em có thể chiếm lĩnh tác phẩm(ở đây chỉ bàn về việc
tiếp cận các tác phẩm là thơ).
-Bước 2: Giúp học sinh nhận biết một số “tín hiệu”để có cơ sở hiểu các tầng nghĩa
mà người viết muốn gửi gắm:
Để có quan điểm đúng khi tiếp cận tác phẩm, giáo viên cần cho học sinh thấy được mối
quan hệ giữa “cảnh” và “tình” trong dụng ý tả cảnh của tác giả.
Quan điểm đó đã được đại thi hào Nguyễn Du viết:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
3
Ví dụ, khi miêu tả cái buồn, muốn làm cho người đọc thấy được cái buồn đang từng ngày
Nếu không nắm được tiểu sử tác giả và hoàn cảnh sáng tác thì khi phân tích dễ có sự lệch
lạc, không hiểu đúng tác phẩm và nhất là không có kiến thức để viết phần mở bài (nếu
không nhớ năm sinh –năm mất thì cũng phải nhớ được thời đại tác giả sống). Còn nếú
không nắm được các mốc lịch sử thì sẽ không có cơ sở để hiểu một số tác phẩm. Ví dụ:
nếu không biết năm 1954,nước ta tạm thời chia làm hai miền bằng giới tuyến quân sự
tạm thời ở sông Bến Hải thì sẽ không hiểu được những câu thơ trong bài ta đi tới của Tố
Hữu : Lòng ta không giới tuyến
Lòng ta chung một Cụ Hồ
Lòng ta chung một thủ đô
Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam.
Hoặc không nắm được nhân dân ta phải trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ
từ 1946-1954 thì cũng không hiểu tại sao lại có “Chín năm làm một Điện Biên/Nên vành
hoa đỏ nên thiên sử vàng” và cũng không hiểu đầy đủ “56 ngày đêm khoét núi ngủ hầm
mưa dầm cơm vắt/ máu trộn bùn non gan không núng chí không mòn” của quân dân ta
trong chiến dịch Điện Biên phủ lịch sử.
*Đối với các tác giả: tương tự như vậy, nếu ta không hiểu về quá trình hoạt động; về thời
đại tác giả sống; về phong cách, thể loại viết; về những đóng góp cho nền văn học nước
nhà thì cũng hạn chế đến việc hiểu đúng tác phẩm. Ví dụ: nếu như Tố Hữu là người sớm
bắt gặp lý tưởng Đảng,, sớm đi theo cách mạng thì Chế Lan Viên lại phải mất một thời
gian để “tìm đường, nhận đường” cho nên khi đến với cách mạng, khi được trở về với
vòng tay dang rộng của nhân dân đã phải thốt lên:
Con lại gặp nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
Hoặc cái ngông của nhà thơ Tản Đà lại được thể hiện qua:
Trời sinh ra bác Tản Đà
5
Quê hương thì có cửa nhà thì không
Suốt đời Nam-Bắc-Tây-Đông
“ Quê tôi hạt thóc đã gầy
Củ khoai cũng ốm, chưa đầy bát cơm”
Đọc lên, ta như thấy thấp thoáng bóng dáng vất vả của người nông dân với “chân đất,
nón cời”; với “bóng cha lam lũ đi mở những đường cày”; với người mẹ “phơi lưng cả
ngày” dưới cái nắng như nung của miền trung khô cằn; với “bão tháng bảy” với “mưa
tháng ba” Và cũng vì thế mà giúp ta liên trưởng đến câu thơ của Nguyễn Bùi Vợi để từ
đó mà biết nâng niu trân trọng những dé lúa, những củ khoai mà người nông dân đã phải
một nắng hai sương mới làm ra:
“Thầy đã giảng cho con về đất nước, nhân dân
Để khi mặc lành không quên người áo vá
Bưng bát cơm nhớ người trồng khoai, dỡ củ.
Câu ca dao đau đáu một đời”.
Và “câu ca dao đau đáu một đời” đó phải chăng là lời nhắc nhở: “ai ơi bưng bát cơm
đầy/ Dẻo thơm một hạt đứng cay muôn phần! mà ông cha ta từng đúc kết?
Ta biết “Trong thơ có hoạ” nên cách miêu tả màu sắc, âm thanh, đường nét, hình
khối cũng góp phần làm nên hình tượng thơ thật đặc sắc. Thử đọc khổ đầu của bài
“Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
Ta như thấy trước mắt ta là một bức tranh của mùa xuân xứ Huế với hoa nở, chim
hót, sông xanh, trời rộng cùng với những “giọt âm thanh long lanh” của con chim chiền
chiện đang chao liệng trên bầu trời thanh bình, yên ả. Vẻ đẹp nao lòng đó chính là lời
7
mời gọi tha thiết của những người con xứ Huế dành cho những ai chưa một đặt chân đến
mảnh đất thơ mộng này.
Còn đây là tác dụng của cách miêu tả màu sắc (màu xanh). Ta sẽ thấy các gam
sao chết uất thôi/ Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu”, thì ta lại nghĩ đến hình ảnh “Đốt
cho tiêu kiếp tù đày/ Cho bừng lửa hận, biết tay anh hùng/ Có về không, có về không?/
Bước mau, mau bước non sông đợi chờ” của Sóng Hồng. Cũng nhờ sự liên tưởng, giúp
ta thấy được điểm chung của những người tù cách mạng ở đây là muốn được ra tù để trở
lại hoạt động cách mạng (khác với việc mong muốn được ra tù của những người bình
thường khác (vì “Nhất nhật ngục trung-thiên thu tại ngoại”), mặc dù họ đã biết “ Đời
cách mạng từ khi tôi đã hiểu/ Dấn thân vô là phải chịu tù đày/ Là gươm kề tận cổ, súng
kề tai/ Là thân sống chỉ coi còn một nửa” nhưng họ vẫn sẵn sàng đi theo cách mạng và
nếu phải hy sinh thì họ vẫn:“Vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng/ Lòng khoẻ nhẹ anh
dân quê sung sướng/ Ngửa mình trên liếp cỏ ngủ ngon lành/ Và trong mơ thơm ngát lúa
đồng xanh/ Vui nhẹ đến trên môi cười hy vọng” (Tố Hữu – Trăng trối)
Trong sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta, biết bao thế hệ đã nối tiếp nhau để ra
trận, để diễn tả ý này thì mỗi nhà thơ cũng có một cách nói thể hiện sự độc đáo của riêng
mình, nếu như Hoàng Trung Thông là :
“Tôi lại viết bài thơ trên báng súng.
Con đứng lên viết tiếp thay cha
Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống
Người hôm nay viết tiếp người hôm qua”
Thì Trinh Đường lại: “Cha còn đeo quân hàm
Con đã ra nhập ngũ
Một hòn đá Trường Sơn
Cha- con cùng gối ngủ”
Hoặc: “Xưa tiễn chồng cứu nước rười rượi tóc xanh
Giờ lại tiễn con đi rung rinh đầu bạc”
Hay: “Mười năm trước mẹ tiễn anh con
Có giống hôm nay vằng vặc nửa trăng tròn?”
9
Tương tự như thế, trong ngữ văn 9, ở “Viếng lăng Bác”- khổ cuối, tác giả thể hiện ước
nguyện sống có ích và sự cống hiến. hình ảnh này lại giúp ta liên tưởng đến khát vọng
của Thanh Hải trong “ Mùa xuân nho nhỏ” (một mùa xuân nho nhỏ/lặng lẽ dâng cho đời/
chèo lái con thuyền Việt Nam vượt qua những thác ghềnh của bão tố để cập bến vinh
quang v.v.
Sau khi cho học sinh đọc kỹ và so sánh 2 cách diễn đạt thì học sinh sẽ nhận ra những câu
(b) có cách diễn đạt giàu hình ảnh,gợi cảm và gây ấn tượng hơn.
Vậy nhờ đâu, do cách viết như thế nào mà cách viết thứ 2 lại sinh động hơn?
Giáo viên giúp học sinh thấy: do sử dụng linh hoạt, nhuần nhuyễn các biện pháp tu từ; do
sử dụng hợp lý các hình ảnh v.v.
Đặc biệt phép tu từ được sử dụng rộng rãi hơn khi làm thơ, nên ta thấy đọc thơ bao giờ
cũng hay hơn, giàu hình tượng hơn. Ta thử đọc và cùng tìm hiểu cái hay của các phép tu
từ được sử dụng trong thơ để tìm ra cái hay của thơ (đây là lúc để cho học sinh bước đầu
thực hành):
Ví du: “Vì con, cơm áo mẹ nhường
Vì con, cha phải thất thường nắng mưa
Vắt mình đến kiệt sớm trưa
Dạ còn thắc thỏm lo chưa đủ đầy?
Xác ve mẹ tóp teo gầy,
Để tròn trịa nét thơ ngây con cười
Kể gì lặn ngọc biển khơi
Vì con, cha sẽ lên trời hái sao.
( Cho con- Nguyễn Ngọc Hưng)
Giáo viên cho học sinh nhận biết các “tín hiệu” cần thiết (có thể có các ý kiến khác nhau)
sau đó cùng các em thống nhất và chốt lại một số dấu hiệu như sau:
Cách dùng từ thật đắt: vắt, kiệt, thắc thỏm, xác ve, hái sao.
Cách sử dụng các biện pháp tu từ:
Biện pháp đảo ngữ: cơm áo mẹ nhường, tóp teo.
Dùng các điệp từ: vì con
11
Cách nói thậm xưng: lặn ngọc biển khơi, lên trời hái sao
Cách dùng từ láy giàu tính tượng hình (mà lại đối lập): tóp teo-tròn trịa…v…v
sau đó cho học sinh tập phân tích để làm rõ cái hay của đoạn thơ
sinh được chọn dự thi cấp tỉnh). Tính từ năm học 1990- 1991 đến năm học 2006- 2007
(là những năm trực tiếp giảng dạy và bồi dưỡng, mặc dù vẫn làm công tác quản lý) thì số
học sinh giỏi huyện và giỏi tỉnh là khoảng hơn 40 em. Qua mỗi kỳ thi, khi mà các em đạt
giải thì trong mỗi giáo viên niềm vui cũng nhân lên gấp bội, nhờ thế mà mình càng tận
tụy với nghề hơn. Ngoài ra, những em chưa có may mắn để đạt giải thì cũng sẽ có những
trưởng thành nhất định, kết quả của môn học khá hẳn lên, đặc biệt là góp phần làm giàu
về các mặt từ kiến thức đến kỹ năng để giúp các em thêm hành trang vào đời cũng như
làm bệ phóng để học lên các lớp trên.
C/ PHẦN KẾT LUẬN:
Có thể nói công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và giỏi môn văn nói riêng
là việc làm rất khó. Có khi, có giáo viên giỏi nhưng không có “hồ” mà “gột”, ngược lại
khi có “bột” nhưng không phải ai cũng dễ dàng “gột nên hồ”. Cho nên để có hai yếu tố
đó đã khó, và làm cho hai yếu tố đó giao thoa với nhau lại càng khó hơn (cứ giả sử,
người dạy đã có tâm huyết, đủ tri thức để giảng dạy nhưng người học không cùng đồng
hành thì sẽ không có kết quả như mong muốn. Có thể coi đó là hai yếu tố cần và đủ để
làm nên thành công, nhưng thiết nghĩ yếu tố : năng lực chuyên môn và trách nhiệm của
người thầy vẫn là đòi hỏi trước tiên và cấp bách hơn, vì khi người thầy giỏi, biết cảm thụ
văn chương, biết truyền cái hay của tác phẩm đến cho người học thì sẽ giúp cho tâm hồn
các em được thanh lọc, được bừng tỉnh, dần dần các em sẽ tìm thấy hứng thú trong các
giờ văn, từ đó mà yêu thích môn văn Muốn vậy, người thầy phải nêu cao vai trò “tự
học, sáng tạo” để tích luỹ kiến thức cần thiết để vừa có kiến thức giảng dạy vừa đáp ứng
với nhu cầu của xã hội.
Trên đây là một chút kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn của bản thân, xin được mạo
muội chia sẻ cùng đồng nghiệp để cùng nhau trao đổi nhằm đạt được hiệu quả cao hơn
trong lĩnh vực đầy khó khăn này./.
13
Có thể nói công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và giỏi môn văn nói riêng
là việc làm rất khó. Có khi, có giáo viên giỏi nhưng không có “hồ” mà “gột”, ngược lại
khi có “bột” nhưng không phải ai cũng dễ dàng “gột nên hồ”. Cho nên để có hai yếu tố
đó đã khó, và làm cho hai yếu tố đó giao thoa với nhau lại càng khó hơn (cứ giả sử,
là việc làm rất khó. Có khi, có giáo viên giỏi nhưng không có “hồ” mà “gột”, ngược lại
khi có “bột” nhưng không phải ai cũng dễ dàng “gột nên hồ”. Cho nên để có hai yếu tố
đó đã khó, và làm cho hai yếu tố đó giao thoa với nhau lại càng khó hơn (cứ giả sử,
người dạy đã có tâm huyết, đủ tri thức để giảng dạy nhưng người học không cùng đồng
hành thì sẽ không có kết quả như mong muốn. Có thể coi đó là hai yếu tố cần và đủ để
làm nên thành công, nhưng thiết nghĩ yếu tố : năng lực chuyên môn và trách nhiệm của
người thầy vẫn là đòi hỏi trước tiên và cấp bách hơn, vì khi người thầy giỏi, biết cảm thụ
văn chương, biết truyền cái hay của tác phẩm đến cho người học thì sẽ giúp cho tâm hồn
các em được thanh lọc, được bừng tỉnh, dần dần các em sẽ tìm thấy hứng thú trong các
giờ văn, từ đó mà yêu thích môn văn Muốn vậy, người thầy phải nêu cao vai trò “tự
học, sáng tạo” để tích luỹ kiến thức cần thiết để vừa có kiến thức giảng dạy vừa đáp ứng
với nhu cầu của xã hội.
Trên đây là một chút kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn của bản thân, xin được mạo
muội chia sẻ cùng đồng nghiệp để cùng nhau trao đổi nhằm đạt được hiệu quả cao hơn
trong lĩnh vực đầy khó khăn này./.
15