PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn sáng kiến
Môn Ngữ văn là một trong những môn học có vị trí hết sức
quan trọng trong hệ thống các môn học của Nhà trường phổ
thông. Nhà văn Nga M. Gorki từng nói: “ Văn học là nhân học”.
Học Văn góp phần quan trọng hình thành những con người có ý
thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, căm ghét cái xấu, biết rèn
luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, biết giao tiếp ứng xử
… và bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ
trong nghệ thuật và trong cuộc sống. Vậy mà hiện nay có trường
THPT không có một em học sinh nào đăng kí ban C để học. Là
một giáo viên dạy Ngữ Văn tôi vô cùng đau xót trước việc đó. Hầu
hết các em đều cho rằng học Văn dài, khó, không lí thú. Một trong
những nguyên nhân quan trọng dẫn tới việc đó là do trong những
giờ học văn, người thầy còn thuyết trình nhiều, việc cung cấp kiến
thức còn mang tinh chất áp đặt, trò thụ động tiếp nhận tri thức.
Bởi vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông,
môn Ngữ văn là môn học có nhiều thay đổi nhất trong việc đổi
mới chương trình, phương pháp giảng dạy đến cách đánh giá kết
quả học tập của học sinh. Quan điểm đổi mới phương pháp dạy
học môn Ngữ văn cũng giống như nhiều môn học khác là phải kết
hợp nhiều phương pháp dạy học trong quá trình tổ chức các hoạt
động dạy học theo hướng tích cực, phát huy năng lực chủ động,
sáng tạo ở cả thầy và trò, chú trọng khái quát nội dung kiến thức
tạo điều kiện để người học lĩnh hội và phát triển các thao tác tư
duy khoa học.
Người giáo viên dạy văn là phải dạy cho học sinh bốn kĩ
năng: Nghe, nói, đọc, viết. Trong đó phân môn Tập làm văn là
phân môn có tính chất tích hợp các phân môn khác, giúp học sinh
có khả năng tạo lập một văn bản, đó là bài nói, bài viết. Nói và
PHẦN NỘI DUNG
I.Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu.
Hiện nay trong ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn ở
các khối lớp nói chung và ở khối lớp 8 nói riêng, học sinh ngại học
Tập làm văn nhất. Trong những giờ học chính khóa giáo viên đã
giúp các em có được những kiến thức cơ bản về đặc điểm, cách
làm bài văn tự sự. Tuy nhiên khi làm bài các em lại chưa chủ
động, sáng tạo vận dụng lí thuyết vào thực hành mà chỉ trông chờ
vào những bài văn mẫu. Mỗi khi đi thi các em chỉ mong trúng tủ
và nếu có lệch tủ, phải tự làm bài không có tài liệu thì lúng túng,
hoang mang không biết phải làm như thế nào. Có em lại phóng
bút kể lể lan man, dài dòng, không có cốt truyện hoàn chỉnh, hấp
dẫn và câu chuyện chưa có ý nghĩa sâu sắc…
Số em làm bài tốt, chủ động, sáng tạo chiếm số lượng rất ít:
khoảng dưới 10%.
Số em làm bài thụ động, phụ thuộc vào tài liệu, không tự làm
được bài: khoảng 20.
Số học sinh còn lại làm bài chất lượng không ổn định, có bài
tốt, có bài lại kém.
Như vậy vẫn còn rất nhiều em kĩ năng làm bài kém. Trải qua
nhiều năm giảng dạy trên lớp ở các khối lớp 6,8,9 có Văn tự sự,
tôi đã tìm hiểu được nguyên nhân của việc đó là do học sinh chưa
biết cách xây dựng cốt truyện hợp lí, có ý nghĩa; chưa biết lựa
chọn chi tiết tiêu biểu, quan trọng để kể; cách kể chuyện chưa
chân thực, sinh động; việc dùng từ đặt câu, diễn đạt còn hạn chế;
chưa biết vận dụng kiến thức lí thuyết và những gì mà mình được
chứng kiến, trải qua trong cuộc sống vào bài . Hầu hết các em còn
thiếu sự chủ động, sáng tạo trong học tập.
Ví dụ 2: Dựa vào các sự việc sau và xây dựng một câu
chuyện hoàn chỉnh.
- Là một doanh nhân thành đạt, em trở về quê thăm trường cũ.
- Gặp người thầy dạy em lớp một.
- Chia tay thầy trở về thành phố.
Ví dụ 4: Dựa vào các sự việc sau và xây dựng một câu chuyện
hoàn chỉnh.
- Bác Bàng già cằn nhằn với cô Phượng Vĩ về lão già Mùa đông.
- Chị gió đi qua nghe thấy và cho họ biết nỗi khổ của lão già Mùa
đông.
- Thế rồi nàng Xuân tới.
Ví dụ 5: Dựa vào các sự việc sau và xây dựng một câu
chuyện hoàn chỉnh.
- Đi học về em bất ngờ gặp mẹ.
- Tám năm em ở cùng bà ngoại vì bố mẹ đi làm ăn xa.
- Em kể cho mẹ nghe về những ngày tháng vắng mẹ.
* Hình thức tổ chức: Thi theo nhóm ( mỗi nhóm 5-7 em
trong đó có cả học sinh giỏi, khá và yếu, các em cùng thôn xóm).
Các nhóm hoạt động trong giờ ra chơi hoặc trong thời gian nghỉ ở
nhà. Mỗi nhóm tự cử một nhóm trưởng làm nhiệm vụ tổ chức
thời gian làm việc cho nhóm và hoàn thành bài thi hoàn chỉnh sau
khi nhóm làm việc xong. Nhóm trưởng cũng là người chuẩn bị tốt
bài thi để trình bày trước lớp.
* Thời gian: Ba tuần đầu của tháng các nhóm hoạt động
riêng.
- Trong tuần cuối tháng giáo viên tổ chức hoạt động chung cả lớp
vào một buổi chiều. Trong buổi này các nhóm trình bày bày thi
của mình. Ban giám khảo( Ba bạn học sinh học giỏi lớp khác),
giáo viên và các em nhóm khác nhận xét. Giáo viên, Ban giám
khảo cho điểm. Đội nào chiến thắng sẽ được nhận quà ( do GV
* Mục đích: Tiếp tục rèn kĩ năng xây dựng cốt truyện cho
bài văn tự sự, rèn kĩ năng dùng từ, đặt câu, diễn đạt và rèn thêm
kĩ năng sử dụng yếu tố miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự
lớp 8. Nâng cao khả năng tư duy, sáng tạo cho học sinh.
* Nội dung: Giáo viên đưa ra chủ đề, nhân vật hoặc tranh,
học sinh xây dựng một câu chuyện hoàn toàn do mình sáng tạo
ra, không có gợi ý về cốt truyện và nhân vật. Đây là bài thi mức
độ yêu cầu cao hơn hai bài thi trước và đó cũng là bài văn tự luận
mà học sinh tham gia thi kiểm tra cuối kì. Nó đòi hỏi học sinh phải
vận dụng kiến thức tổng hợp về văn tự sự và đã nắm vững kĩ
năng xây dựng cốt truyện, nhân vật ở hai lần thi trước để xây
dựng câu chuyện hấp dẫn nhất.
Ví dụ 1: Hãy kể một câu chuyện về tình thầy trò (về tình
mẫu tử, tấm gương vượt khó, về tấm gương giúp bạn, tình bạn,
một cuộc gặp gỡ bất ngờ, đầy ý nghĩa nghĩa…).
Ví dụ 2: Hãy kể một câu chuyện về chủ đề mà một trong
những bức tranh sau đề cập đến.
Ví dụ 3: Đóng vai một nhân vật em yêu thích và kể lại kết
thúc truyện mới cho tác phẩm văn học.
* Hình thức tổ chức: Tổ chức thi như hai tháng trước.
* Thời gian: Ba tuần đầu của tháng các nhóm hoạt động
riêng.
- Ở tuần cuối tháng giáo viên tổ chức hoạt động chung cả lớp
vào một buổi chiều. Trong buổi này các nhóm trình bày bày thi
của mình. Ban giám khảo( Ba bạn học sinh học giỏi lớp khác),
giáo viên và các em nhóm khác nhận xét. Giáo viên, Ban giám
hình, lời nói, nội tâm, cử chỉ hành động của nhân vật, lời của các
nhân vật khác nói về nhân vật.
- Những bài thi của học sinh giáo viên thu lại và sửa chữa
cho hoàn chỉnh hơn và treo tại lớp để học sinh tham khảo lại.
* Kết quả sau khi thực hiện giải pháp:
Trải qua một năm áp dụng thực hiện giải pháp này với đối
tượng học sinh lớp 8 trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh
củng cố được kiến thức trên lớp, biết vận dụng lí thuyết vào thực
hành, nắm vững hơn kĩ năng làm văn tự sự. Điều đó sẽ giảm bớt
số học sinh sợ viết văn, lúng túng khi gặp những bài văn mới. Đã
có một số em sáng tạo được những tác phẩm “ bé con”. Sau đây
tôi xin đưa ra kết quả mà bản thân theo dõi, đánh giá qua bài viết
của các em sau khi đã tham gia hoạt động thi kể chuyện:
- Số học sinh làm bài tốt: 15-20%
- Số học sinh lúng túng khi làm bài, còn phụ thuộc vào tài
liệu: 5%
- Số học sinh làm bài mức khá, cũng tăng nhiều.PHẦN KẾT LUẬN
I. Ý nghĩa, phạm vi ứng dụng của giải pháp.
1. Ý nghĩa của giải pháp.
Hoạt động thi kể chuyện để rèn kĩ năng làm văn tự sự lớp
8 được tổ chức làm ba đợt. Mỗi đợt học sinh được rèn một kĩ năng
chủ yếu: tháng 9 rèn kĩ năng xây dựng nhân vật, tháng 10 rèn kĩ
năng xây dựng cốt truyện, tháng 11 rèn tổng hợp nhiều kĩ năng
làm bài. Các em chủ động, sáng tạo hơn trong học tập, rèn được
nhiều kĩ năng sống: kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng lắng nghe,
kĩ năng giải quyết tình huống, kĩ năng làm việc theo nhóm …Nhiều
sinh. Để đạt được những điều vô cùng quí giá đó mỗi giáo viên
chúng tôi đâu chỉ có say mê nhiệt tình với công tác giảng dạy mà
còn phải tìm tòi hướng đi hiệu quả nhất .
Trên đây chỉ là một vài kinh nghiệm nhỏ bé của riêng tôi . Rất
mong sự đóng góp chỉ bảo của lãnh đạo chuyên môn và các thầy cô
đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn,
có hiệu quả hơn trong những năm dạy sau .
Xin chân thành cảm ơn !XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG
Tác giả sáng kiến kinh nghiệm
Vũ Thị Điều