Kinh nghiệm
"Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5"
Phần I: Đặt vấn đề:
I. Cơ sở lý luận
Trong quá trình học tập môn Tiếng Việt của học sinh ở trờng tiểu học,
bài tập làm văn là nơi để các em thể hiện vốn sống, vốn văn học, khả năng
cảm thụ văn học, các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt một cách tổng hợp. Tập làm
văn có vai trò quan trọng là trau dồi vốn sống, cảm thụ văn bản, cảm nhận,
diễn tả và luyện cho các em cách thể hiện suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc của
mình bằng ngôn ngữ nói và viết.
Trong phân môn Tập làm văn, thể loại văn miêu tả là thể loại văn dùng lời
có hình ảnh và cảm xúc làm cho ngời đọc, ngời nghe hình dung một cách rõ
nét, cụ thể về đối tợng miêu tả nh nó vốn có trong đời sống. Văn miêu tả có
đặc điểm là giàu cảm xúc, giàu trí tởng tợng và sự đánh giá của ngời viết đối
với đối tợng đợc miêu tả. Tuỳ từng đề bài mà các em nhấn mạnh mặt nào hơn.
Ví dụ: Khi tả ngời chú ý đến cả hình dáng hoạt động, tính tình. Ba mặt này th-
ờng thống nhất với nhau làm rõ hình thái tính cách của ngời đợc tả. Còn tả
cảnh sinh hoạt phải dùng lời nói để vẽ lên bức tranh giàu hình ảnh, màu sắc,
đờng nét, âm thanhvề hoạt động của nhiều ngời trong cùng một thời gian và
địa điểm thì lúc này phong cảnh chỉ là nét phụ.
Năm học 2008-2009 tôi đã tích cực tìm tòi, nghiên cứu sách vở, tài liệu và
học hỏi đồng nghiệp, tích luỹ đợc một số kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết văn
miêu tả cho học sinh lớp 5".
Thể loại văn miêu tả trong chơng trình tập làm văn lớp 5 gồm 43 tiết, trong
đó có 10 tiết ôn tập về tả đồ vật, cây cối, con vật và 33 tiết học bài mới (tả
cảnh: 18 tiết, tả ngời: 15 tiết) .Về thời lợng chiếm
2
1
phân môn của môn Tập
làm văn. Mặt khác ,đối với học sinh tiểu học, việc viết đợc bài văn miêu tả đã
khó, viết đợc bài văn hay lại càng khó. Chính vì vậy, tôi nghiên cứu và sáng
Ngoài việc "sao chép" văn mẫu, trong thực tế còn có tình trạng học sinh
còn lẫn lộn các kiểu bài mặc dù yêu cầu khác nhau. Lỗi dùng từ, viết câu, liên
kết ý cũng rất phổ biến trong quá trình viết văn miêu tả của học sinh tiểu học.
III. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu sâu sắc hơn về yêu cầu, nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn lớp
5, thể loại văn miêu tả .
- Đề xuất một số kinh nghiệm hớng dẫn học sinh lớp 5 luyện tập các kĩ năng
viết văn miêu tả theo hớng đổi mới, phát huy đợc tính tích cực, chủ động và
sáng tạo của học sinh.
- Trao đổi trong tổ chuyên môn cùng áp dụng thực hiện góp phần khắc phục
những hạn chế trong việc hớng dẫn học sinh các kĩ năng viết văn miêu tả (đặc
biệt là kiểu bài tả ngời và tả cảnh)
IV. Phạm vi nghiên cứu
V. Phơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết bài văn miêu tả
cho học sinh lớp 5" tôi đã sử dụng kết hợp nhiều phơng pháp. Đó là:
- Phơng pháp đọc sách, tài liệu.
- Phơng pháp điều tra.
- Phơng pháp thực nghiệm.
- Phơng pháp đối chứng.
- Phơng pháp tổng kết rút kinh nghiệm.
Phần II: nội dung
2
III. Các bớc cơ bản khi làm một bài văn miêu tả :
Đối với bất cứ một bài văn nào , kể cả bài văn miêu tả ,khi viết , các em cũng
cần phải thực hiện 5 bớc sau đây:
1. Tìm hiểu đề.
2. Quan sát.
3. Tìm ý và lập dàn ý.
4Viết bài.
2. Kĩ năng quan sát:
3
Điều quyết định sự thành công của một bài văn miêu tả là nội dung bài
văn nên các em phải "có cái gì để viết" mới có thể tả đợc. Một trong những
cách để "có cái gì để viết" là quan sát. Muốn quan sát có hiệu quả, giáo viên
cần phải dạy học sinh xác định mục đích quan sát, hơn thế nữa, các em phải
có tấm lòng, biết yêu, biết ghét, phải có cách nghĩ, cách cảm riêng của mình.
Quan sát sao cho khi làm văn phản ánh đợc đối tợng vừa cụ thể, chi tiết, vừa
có tính khái quát. Chi tiết phải làm cho ngời đọc thấy đợc bản chất của sự vật.
Vì vậy, cần dạy học sinh khi quan sát phải lựa chọn . Bài văn cần có các chi
tiết cụ thể nhng đó không phải là chi tiết rời rạc, hay mang tính liệt kê mà đó
là những chi tiết lột tả đợc cái riêng của ngời và vật.Ví dụ tả ngoại hình của
ngời, không nhất thiết phải tả hết cả mắt, mũi, tai, miệng, da, tóc, mà phải
tập trung vào những nét nổi bật, gây ấn tợng của ngời đó. Thậm chí đối với
những học sinh giỏi, có năng khiếu viết văn, có thể hớng dẫn học sinh cách
đặc tả (quan sát và miêu tả một đặc điểm nổi bật của đối tợng mà vẫn làm nổi
bật đợc hình ảnh của đối tợng). Tôi xin đa ra một ví dụ minh hoạ về đặc tả :
Bố tôi
"Những ngón chân khum khum, lúc nào cũng nh bám vào đất để
khỏi trơn ngã. Ngời ta nói:'' Đây là bàn chân vất vả". Gan bàn chân bao
giờ cũng xám xịt và lỗ rỗ, bao giờ cũng khuyết một miếng, không đầy đặn
nh bàn chân ngời khác. Mu bàn chân mốc trắng bong da từng mảng, lại có
nốt lấm tấm. Đêm nào bố cũng ngâm nớc nóng hoà muối, gãi lấy gãi để rồi
xỏ chân vào đôi guốc mộc. Khi đi ngủ, bố rên, rên vì đau mình nhng cũng
rên vì nhức chân. Rợu tê thấp không tài nào xoa bóp khỏi.
Bố đi chân đất, bố đi ngang dọc đông tây đâu con không hiểu. Con
chỉ thấy ngày nào bố cũng ngâm chân xuống nớc bùn để câu quăng . Bố
tất bật đi từ khi sơng còn đẫm ngọn cây, ngọn cỏ. Khi bố về cũng là lúc cây
cỏ đẫm sơng đêm. Cái thúng câu bao lần chà đi xát lại bằng sắn thuyền.
Cái ống câu nhẵn mòn, cái cần câu bóng do dấu tay cầm. Con chỉ biết cái
khi lập dàn ý, các em phải biết đâu là ý chính của bài. Ví dụ:Tả cảnh gặt lúa
trên cánh đồng thì ý bao trùm ý chính phải là cảnh làm việc nhộn nhịp trên
cánh đồng. Còn tả quang cảnh làng em lúc bắt đầu một ngày mới thì hoạt
động của mọi ngời trong làng bắt đầu một ngày là quan trọng nhất, lúc này
phong cảnh làng xóm chỉ làm nền.
Bên cạnh việc xác định ý chính của bài, học sinh cần cần biết sắp xếp
các ý theo một trình tự thời gian, trình tự tâm líViệc thực hiện bố cục ba
phần của bài văn cần đợc thực hiện một cách tự nhiên, không gò bó, khuôn
sáo. Để hớng dẫn luyện tập cách lập dàn ý nên hớng dẫn học sinh một số bài
tập lập dàn ý nh: từ một bài văn hoàn chỉnh, hãy lập dàn ý của nó hoặc cho
sẵn những dàn ý cha phù hợp yêu cầu học sinh chữa lại cho đúng. Ví dụ: Dựa
vào bài văn sau đây của nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú, em hãy lập dàn ý cho
bài văn :
Ngày mùa
Các xã viên thức dậy từ lúc trời còn tối. Khói bếp chập chờn. Tiếng
gọi nhau í ới. Tiếng quang liềm va chạm Tiếng kẻng nổi lên, chuyền đều
vào các xóm. Vừa sáng, đã thấy ngời đi từng dãy dài, ồn ào ríu rít một lúc
rồi trong làng vắng ngay. Những tiếng động, tiếng ngời lùi xa tít ngoài
cánh đồng
5
Nắng lên, nắng chan mỡ gà lên những cánh đồng lúa chín. Rất đều ,
rất gọn nhẹ, các xã viên cúi lng xuống, một tay nắm khóm lúa, một tay cắt
gặt. Một nắm, hai nắm xoèn xoẹt xoèn xoẹtlúa chất lại, dồn thành
từng đống. Tiếng xe cút kít nặng nề chở lúa về làng. máy tuốt lúa to lù lù
đứng giữa sân kho, kêu bành bạch. Ngời ta nhét những ôm lúa vào miệng
nó. Nó nhằn nhằn một thoáng rồi phì rơm ra. Bụi mù mịt. Thóc rào rào rơi
xuống gầm máy.
Mệt mỏi, hối hả, lng áo suốt ngày đẫm mồ hôi nhng các xã viên
không giấu niềm vui ánh lên gơng mặy trớc mùa bội thu.
4.Kĩ năng viết bài và hoàn chỉnh bài:
đợc nghe tiếng chào ngọng nghịu của bé Hà, đứa em gái bé bỏng mà tôi yêu
quý".
Ví dụ 2: Tả một cảnh đẹp mà em đã có dịp quan sát:
"Nhân dịp nghỉ hè, em đợc mẹ cho đi nghỉ mát cùng các cô chú trong
cơ quan. Sau khi xuất phát một ngày đờng xe dừng bánh. Chà! Cảnh biển
Nha Trang hiện ra trớc mắt em mới đẹp làm sao !".
Đối với cách mở bài này, đòi hỏi học sinh phải có vốn sống và óc tởng
tợng phong phú nếu không sẽ dễ lan man, lạc đề, không giới thiệu đợc đối t-
ợng cần miêu tả. Vì vậy cần nhắc nhở học sinh viết ngắn gọn.
*. Mở bài bằng cách nêu tình huống:
Với cách này, chúng ta có thể hớng dẫn học sinh sử dụng một từ ngữ
hoặc một câu của một nhân vật để có thể nêu tình huống dẫn tới việc xuất
hiện đối tợng miêu tả .
Ví dụ 1: Tả hình dáng và tính nết của một bạn trong lớp em đợc nhiều
ngời yêu mến.
"- Hà ơi! Đi học thôi!"
Đúng tiếng cái Lan rồi, cô bạn gái hiền lành học giỏi đợc bao nhiêu
ngời quý mến của lớp tôi".
Ví dụ 2: Tả một cô giáo mới về trờng:
"A! Các cậu ơi! Cô giáo mới kìa!"
Nghe tiếng reo của cái Mi, tất cả chúng em không ai bảo ai cùng hớng
mắt về phía tay chỉ của nó".
Ví dụ 3: Tả cảnh học sinh tập thể dục giữa giờ:
"Tùng ! Tùng ! Tùng !
Tiếng trống đã điểm báo hiệu giờ tập thể dục bắt đầu".
Với cách mở bài này, cần hớng dẫn học sinh vận dụng vào các đề yêu
cầu tả những đối tợng ít gặp hoặc bất ngờ gặp.
7
c. Mở bài bằng một đoạn văn miêu tả hoặc kể chuyện:
Ví dụ 1: Hãy tả một bác nông dân đang chăm sóc lúa:
cảm thân mật, gần gũi, có thể sử dụng đại từ "tôi" hoặc mình để xng hô.
Không chỉ ở cách xng hô, các từ ngữ nối nh : vâng, đúng vậy, chà, này nhé, ôi
chao, quả thật, gớm, ấy vậy mà,cũng góp phần tạo nên ấn tợng nh học sinh
đang nhận xét và đối thoại trực tiếp với ngời đọc khiến đoạn văn trở nên tự
nhiên hơn
Ví dụ: Tả một bạn trong lớp đợc mọi ngời yêu quý.
8
" Nói tới một bạn trong lớp tôi đợc nhiều ngời quý mến không ai không
nghĩ tới bạn Vũ Việt Nam. nhng tôi dám cam đoan rằng nếu bạn gặp Nam lần
đầu mà không đợc ai giới thiệu, bạn sẽ không thể ngờ đợc đó lại là ngời đã
đem lại vinh dự giải nhì kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh cho lớp tôi. Bề ngoài,
Nam rất bình thờng, chẳng có gì biểu hiện tinh anh, thông minh tuấn tú nh
ngời ta thờng nói về một học sinh giỏi. Này nhé: trán chẳng cao, mắt không
sâu, nét mặt chẳng có gì là thanh tú, lanh lẹ. Chỉ đợc cái hiền, rất hiền! Có ai
nói gì cũng chỉ cời lỏn lẻn nh con gái. Các bạn có tán gẫu thì cũng chỉ biết im
lặng nghe chứ chẳng bao giờ tham gia đợc một câu. ấy thế nhng có ai bàn
đến bài vở thì Nam lại có thể thao thao cả ngày không dứt".
Để hớng dẫn học sinh luyện tập cách lựa chọn các đại từ, liên từ và giới
từ giáo viên có thể hớng dẫn học sinh làm bài tập sau:
Bài tập 1: Đọc từng đoạn văn sau:
*. "Ông nội em đã già yếu lắm rồi! Chân lẩy bẩy, đi đứng không vững
nữa, tay lóng ngóng, cầm chén, chén rơi; cầm gậy thì gậy đổ. Răng ông đã
rụng gần hết, mỗi bữa ông chỉ ăn nửa bát cơm thôi mà lâu đến hàng tiếng
đồng hồ. Lúc ăn, tay cầm thìa của ông cứ rung lên bần bật. Đấy! Cơm lại vãi
cả ra xung quanh , ông chả dám bng bát lên vì sợ rơi vỡ. Tội nghiệp! Nhìn
ông ăn cơm mà sao mắt em lại cay xè, cổ họng cứ nghẹn lại."
*. " Bé Giang nhà tôi vừa tròn một tuổi, trông bé mới đáng yêu làm sao.
Hãy chạm thử vào làn da bé! Nó mịn màng lại trắng hồng nữa chứ! Nhìn kìa!
Trên khuôn mặt bụ sữa của bé, đôi mắt trong veo đang mở to ngơ ngác nhìn
mọi ngời. Kia nữa, mái tóc hoe vàng của bé chỉ lơ thơ vài sợi rủ xuống vầng
tự tìm từ thích hợp ( từ láy, từ tợng thanh, từ tợng hình từ gần nghĩa ) điền
vào chỗ trống. Hoặc có thể cho đoạn văn có gạch chân các từ đơn yêu cầu
học sinh tìm từ láy, từ tợng thanh , từ tợng hình để thay thế.
Ví dụ1 :Thay các từ gạch chân dới đây bằng các từ tợng thanh, tợng
hình thích hợp.
*. Vầng trăng tròn quá, ánh trăng trong xanh toả khắp khu rừng.
*. Gió bắt đầu thổi mạnh, lá cây rơi nhiều , từng đàn cò bay nhanh theo
mây.
Ví dụ 2: Viết một đoạn văn ngắn nói về trận ma rào, trong đoạn có sử
dụng từ tợng thanh, từ tợng hình.
L u ý cần nhấn mạnh cho học sinh hiểu từ mang tính hai mặt, sử dụng
đúng lúc, đúng chỗ sẽ làm cho câu văn, đoạn văn hay, ngợc lại sẽ rơi vào tình
trạng "sáo rỗng" và khoe chữ. Đó là cha kể học sinh không hiểu từ mà vẫn
dùng bừa, dùng ẩu.
Mặt khác, từ ngữ vốn rất phong phú, vì thế cần nhắc nhở các em trong
quá trình học tập nên có sổ tay văn học và hớng dẫn học sinh cách ghi sổ. Các
em có thể ghi chép các từ ngữ, câu văn, đoạn văn hay để làm vốn từ ngữ, vốn
văn học. Việc làm này sẽ giúp các em thuận lợi hơn trong việc lựa chọn từ
ngữ để viết văn.
c. Hớng dẫn học sinh viết câu văn có hình ảnh:
Văn miêu tả (đặc biệt là kiểu bài tả ngời và kiểu bài tả cảnh sinh hoạt)
là loại văn ghi lại những nét tiêu biểu về hình dáng hay hoạt động của cảnh
vật hay con ngời. Khi viết học sinh dễ sa vào kể lể một cách khô khan không
có cảm giác thích thú cho ngời đọc.
Có thể đa ra các đoạn văn có những hình ảnh sinh động, yêu cầu học
sinh phát hiện hoặc yêu cầu học sinh dùng biện pháp so sánh, nhân hoá đẻ
viết đoạn văn.
10
Ví dụ 1: chỉ ra các biện pháp nghệ thuật đặc sắc dùng trong các đoạn
văn sau:
sắp xếp lại thành một đoạn văn thích hợp.
11
Ví dụ 1: Sắp xếp các câu văn sau đây thành một đoạn văn thích hợp .
*. Không lúc nào nó thèm bay bổng, thèm ca hát nh lúc này.
*. Bọ ve rạo rực cả ngời .
*. Từ tít trên cao kia, mùi hoa lí toả xuống thơm ngát và tiếng những
bạn ve inh ỏi.
Ví dụ 2: Sắp xếp các câu văn trong đoạn văn sau cho thích hợp:
"Hằng xuống xe, rẽ vào phố Bà Triệu, chiều thu, gió dìu dịu , hoa sữa
thơm nồng. Chiếc ô tô buýt chạy chậm dần rồi đỗ lại bên bờ Hồ Gơm. Chiều
nào về đến phố nhà mình, Hằng cũng đều đợc hít thở ngay mùi thơm quen
thuộc ấy!"
Một bài văn bao giờ cũng là một thể thống nhất hoàn chỉnh đợc tạo bởi
các đoạn .Vì vậy cần hớng dẫn học sinh biết cách chuyển câu, chuyển đoạn.
Có thể dùng các từ nối: tuy thế, ấy vậy mà, chả là, thế này, này nhé, chính vì
vậy, thực ra, thảo nào,có thể dùng câu hỏi hoặc tạo ra các thế tơng ứng giữa
hai đoạn: nếu nh thì
Ví dụ: Hãy chọn các từ quan hệ và từ nối thích hợp điền vào chỗ trống
để cho các câu các đoạn đợc chuyển tiếp một cách tự nhiên, mạch lạc:
*. Khắp vờn, cha cây nào ra hoamận đã ra hoa. Bông hoa trắng xinh,
giản dị, hiền lành mà ngời sáng cả bầu trời đông giá rét.
*. Có ngời bảo cây đa, cây đề là cây tiêu biểu của nớc tatôi thấy cây
bàng là đặc biệt nhất: Cành lá đã xum xuê, đứng xa trông về lại đẹpcả cái
cây, từ lá cho đến rễ, từ búp cho đến cành đều dùng đợc việc không có một
cái gì bỏ phí.
*. Tối về thầy bảo:
- Ngày xa, có tục hễ đẻ con giai thì ngời bố lấy cành dâu làm cung lấy
cỏ bông làm tên , chạy ra giữa sân bắn về bốn phơng để sau này lớn lên ngời
con giai sẽ có chí tung hoành . Bây giờ bỏ tục ấy. Bố nghĩ ra cách chôn rau
của các con ở xa, giữa đờng chính để lớn lên mà có chí làm trai.
nhẹ những giọt mồ hôi lấm tấm trên vầng trán mịn màng.
4.4. Hớng dẫn học sinh hoàn chỉnh bài:
Để hoàn chỉnh đợc bài viết, sau khi viết nháp, học sinh phải biết đọc lại
bài làm và tự sửa chữa. Giáo viên có thể dùng cho từng cặp học sinh tự
chấm bài của nhau để tìm ra khuyết điểm của bạn. Lúc ấy, giáo viên đóng vai
trò trọng tài, giám sát chặt chẽ việc kiểm tra đánh giá của học sinh, giải đáp
các thắc mắc của học sinh cả về cách chọn ý, dùng từ diễn đạt trên cơ sở tôn
trọng những ý tởng sáng tạo của học sinh.
V. Kết quả :
13
Trong quá trình áp dụng kinh nghiệm rèn cho học sinh viết văn miêu tả,
tôi đã theo dõi kết quả một số bài làm của học sinh lớp 5a để làm nổi bật kết
quả khi áp dụng SKKN này trong giảng dạy.
Bài làm 1: Đề yêu cầu: Tả một buổi trong ngày (Thực hiện đầu năm
học)
Bài làm 2: Đề yêu cầu: Tả hình dáng và tính nết thơ ngây của một em
bé đang tuổi tập nói, tập đi(Thực hiện giữa kì I)
Bài làm 3: Đề yêu cầu:
Tả cô giáo, thầy giáo cũ ( hực hiện cuối kì I)
Kết quả cụ thể nh sau:
Sĩ số Điểm bài lần 1 Điểm bài lần 2 Điểm bài lần 3
26
G K TB
2 5 19
7,7% 19,2% 73,1%
G K TB
4 6 16
15,3% 22,9% 61,8%
G K TB
Tôi yêu bé Trang lắm! Từ khi có bé, cả nhà tôi vui hẳn lên và tôi cũng
có ngời để yêu thơng , nhờng nhịn."
VI. Bài học kinh nghiệm:
Qua thực tế áp dụng SKKN vào giảng dạy, tôi đã rút ra bài học kinh
nghiệm : Để học sinh lớp 5 có thể viết tốt một bài văn miêu tả ( đặc biệt là
kiểu bài tả ngời, tả cảnh sinh hoạt) mỗi giáo viên cần :
1. Hớng dẫn học sinh một cách tỉ mỉ các kĩ năng :
- Phân tích, tìm hiểu đề : Tránh lan man lạc đề.
- Quan sát : Yêu cầu học sinh huy động các giác quan (mắt, mũi, tai, óc
tởng tợng) để quan sát. Đặc biệt rèn học sinh khả năng tởng tợng về đối tợng
miêu tả .
- Tìm ý, lập dàn ý: Chọn ý tiêu biểu, sắp xếp ý hợp lí .
- Viết bài và hoàn chỉnh bài : Lu ý với học sinh cách viết câu văn bộc lộ
đợc cảm xúc với đối tợng đợc miêu tả .
2. Khi lên lớp, giáo viên cần biết sử dụng phối hợp các phơng pháp dạy
học thích hợp để phát huy tính tích cực chủ động trong học tập của học sinh.
3. Trong các giờ Tập làm văn kể cả giờ tìm ý, lập dàn ý, làm văn miệng,
làm văn viết và giờ trả bài, giáo viên cần biết tổ chức điều khiển lớp học, khéo
léo gây bầu không khí vui tơi thoải mái, kích thích hứng thú học tập, trí tởng
tợng sáng tạo của học sinh.
4. Hớng dẫn các em biết tự đánh giá rút kinh nghiệm sau mỗi bài viết.
Việc làm này sẽ là nhân tố quan trọng đảm bảo thành công cho các bài viết
sau.
Phần III: Kết luận
Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi về việc rèn kĩ năng viết văn
miêu tả cho học sinh lớp 5 . Tôi đã áp dụng vào thực tế giảng dạy và đem lại
hiệu quả tốt. Thông qua việc rèn các kĩ năng đó, học sinh không còn lúng
15
túng và tránh đợc tình trạng "sao chép" trớc mỗi vấn đề tập làm văn. Các em
học sinh cũng cảm thấy yêu thích và ham mê việc học môn tập làm văn.