BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: Kinh nghiệm rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2
Họ và tên người thực hiện: Lê Thị Ngọc Diễm, Cao Thị Hồng Diễm.
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Ninh Hưng.
1. Lý do chọn đề tài:
Thực trạng học sinh lớp 2A, 2B Trường Tiểu học Ninh Hưng chưa viết đúng
chính tả dẫn đến chất lượng của phân môn Chính tả đầu năm chưa cao, ảnh
hưởng đến môn Tiếng Việt. Do chữ viết đóng vai trò quan trọng trong việc lĩnh
hội tri thức nên chúng ta phải đọc đúng, viết đúng để trang bị vốn kiến thức cần
thiết cho bản thân. Chính vì thế chúng tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Kinh
nghiệm rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2”
2. Mục đích nghiên cứu:
Giúp học sinh viết đúng chính tả nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính
tả.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Kinh nghiệm rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2.
4. Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp đọc tài liệu.
+ Phương pháp điều tra.
+ Phương pháp so sánh, đối chiếu.
5. Đề tài đưa ra giải pháp:
Giúp học sinh biết phân biệt và viết đúng chữ ghi âm đầu và cuối trong các
vần, giải nghĩa từ; vận dụng kiến thức về ngữ âm học Tiếng Việt và phân loại
chính tả.
6. Hiệu quả áp dụng:
- Học sinh rèn được kỹ năng nghe đúng, viết đúng, viết rõ nét, viết bảo đảm
tốc độ.
- Rèn thói quen cẩn thận, trình bày bài viết sạch đẹp.
1
đó rèn luyện các kỹ năng “nghe, nói, đọc, viết” nhằm giúp học sinh sử dụng
Tiếng Việt có hiệu quả trong suy nghĩ và giao tiếp.
Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy còn nhiều em viết sai chính
tả, mà nguyên nhân là do cách phát âm sai nên khi viết các em thường mắc phải
các lỗi về dấu thanh, về phụ âm đầu, phần vần. Vì vậy để khắc phục những lỗi
do phương ngữ tạo ra trên cơ sở nắm vững về chính tả và ngữ nghĩa thì trước hết
là phải học luật chính tả nhằm giúp các em có kiến thức cơ bản, chắc chắn, để có
những kỹ năng viết thành thạo, không sai lỗi chính tả đó là vấn đề rất cần thiết.
Phân môn Chính tả rèn cho học sinh nắm quy tắc và có thói quen đọc đúng,
phát âm đúng chuẩn, còn viết thì viết đúng. Chính tả sắp xếp dạy sau môn Tập
đọc. Cùng với Tập viết, Tập đọc, Chính tả giúp người học chiếm lĩnh được
Tiếng Việt văn hóa giúp cho học sinh có công cụ để giao tiếp, tư duy học tập.
Viết đúng chính tả giúp học sinh sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao. Vì lý do
trên chúng tôi chọn đề tài:“Kinh nghiệm rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho
học sinh lớp 2”, nhằm nâng cao kỹ năng viết đúng chính tả của học sinh nói
riêng và nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt nói chung, đồng thời tạo điều kiện
phát huy kỹ năng nói và viết một cách chính xác tiếng mẹ đẻ.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này nhằm thực hiện tinh thần đổi mới phương pháp
giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, học sinh sẽ có ý thức viết
đúng chính tả và nắm được luật viết chính tả, hiểu được nghĩa của từ và làm bài
tập chính xác. Từ đó các em viết chữ không sai lỗi chính tả.
3. Đối tượng nghiên cứu
Kinh nghiệm rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2.
4. Phạm vi nghiên cứu
3
Thực hiện cho học sinh khối lớp 2 (2A, 2B) Trường Tiểu học Ninh Hưng
năm học 2014 - 2015.
- Trong quá trình giảng dạy phân môn Chính tả, phải cung cấp cho học sinh
về quy tắc chính tả, rèn luyện cách phát âm, giúp học sinh hiểu được nghĩa của
từ, tiếng, trau dồi ngữ pháp góp phần cảm nhận và phát triển tư duy, học sinh
biết nhận xét, so sánh và ghi nhớ những kiến thức đã học. Từ đó các em lĩnh hội
những hiểu biết để bồi dưỡng cho bản thân học tốt phân môn Chính tả, hình
thành cho các em kỹ năng viết đúng, cẩn thận có óc thẩm mỹ, lòng tự trọng và
có tinh thần trách nhiệm trong học tập.
- Do đó để đạt được chất lượng phân môn Chính tả thì người giáo viên phải
đầu tư và chuẩn bị kỹ càng về mục tiêu bài dạy, xác định phương pháp và hình
thức tổ chức tiết dạy phù hợp để giúp các em chiếm lĩnh tri thức mới và áp dụng
tri thức đã học vào thực tế.
- Nếu giáo viên biết áp dụng các biện pháp và phương pháp hợp lý trong
quá trình dạy phân môn Chính tả thì chắc chắn sẽ giúp học sinh viết đúng chính
tả, đạt hiệu quả tốt hơn.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
Thực hiện Công văn số 9832/BGD-ĐT-GDTH ngày 01 tháng 9 năm 2006
về việc thực hiện hướng dẫn chương trình các môn học lớp 1, 2, 3, 4, 5. Để giáo
viên thực hiện tốt kế hoạch đồng thời có phương pháp dạy học thích hợp với nội
dung nhằm phát triển năng lực của học sinh phù hợp với từng loại văn bản.
Thực hiện Quyết định số 16/2006 QĐ-BGD-ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006
về việc ban hành chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học.
Chuẩn kiến thức kỹ năng lớp 2 năm 2009.
Quyết định số 14/2007 QĐ-BGD-ĐT ngày 05 tháng 4 năm 2007 quy định
về chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học.
Công văn số 5842/BGD-ĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011 về việc Hướng
dẫn điều chỉnh nội dung dạy học giáo dục phổ thông.
5
- Thường sai những chữ viết có âm đầu viết: tr/ch ví dụ: kiểm cha, cá chê,
chứng gà.. v/gi/d: dui dẻ, cá gô, đi dề, những chữ có vần ui/uôi, ăt/ăc, ví dụ: buổi
6
chìu, chặc chẽ…Ngoài ra học sinh còn mắc lỗi về dấu thanh như: thanh hỏi,
thanh ngã ví dụ: suy nghỉ, nghỉ ngợi, sửa chửa…
- Từ đó các em sẽ viết sai và các chữ đầu câu, đầu đoạn, tên riêng, các em
vẫn không viết hoa.
Trong khối 2 của trường chúng tôi, lớp 2A có 35 học sinh (trong đó viết
đúng hoàn toàn là 20 em, viết sai phụ âm đầu 5 em, viết sai vần 4 em, viết sai
dấu thanh 6 em), lớp 2B có 35 học sinh (trong đó viết đúng hoàn toàn là 18 em,
viết sai phụ âm đầu 7 em, viết sai vần 5 em, viết sai dấu thanh 5 em). Mỗi học
sinh đều có sự nhận thức khác nhau là do trí thông minh hoặc cần cù, chịu khó,
siêng năng trong học tập. Các em có ý thức được việc học của mình. Hơn nữa
ngôn ngữ tiếng Việt của chúng ta có nhiều nghĩa, nhiều cách phát âm nên các
em dễ nhầm lẫn. Vì vậy viết đúng chính tả ở học sinh Tiểu học nói chung và học
sinh lớp 2 nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn cho nên phần lớn các em viết sai
chính tả rất nhiều.
Viết sai lỗi chính tả rất nhiều sẽ làm sai lệch ý nghĩa của từ hoặc câu đó. Tư
thế ngồi và cách cầm bút chưa đúng, từ đó dẫn đến các em viết chữ xấu không
thẳng hàng, trình bày bài viết chưa đúng, chưa đẹp. Vì vậy đầu năm trong quá
trình giảng dạy còn gặp rất nhiều khó khăn.
Để học sinh viết đúng chính tả theo yêu cầu của lớp 2 là phải đọc đúng,
phát âm chính xác, biết phân biệt lỗi chính tả, biết trình bày bài viết, rèn tư thế
ngồi, viết nắn nót từng nét chữ.
b) Sự cần thiết của đề tài:
* Trong quá trình dạy học sinh rèn kỹ năng nghe, viết, đọc. Người giáo viên
còn bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt cho học sinh, hình thành thói quen giữ gìn sự
trong sáng giàu đẹp của tiếng Việt. Do đó rèn học sinh viết đúng chính tả là cần
chính tả, người giáo viên cần:
+ Xây dựng kế hoạch dạy học cho phù hợp với trình độ của học sinh, tình
hình học tập của lớp.
+ Giáo viên tăng cường tham khảo tài liệu, sách báo, từ điển Tiếng Việt,
chuẩn bị thật kỹ bài dạy để thuận tiện trong việc hướng dẫn học sinh viết đúng
chính tả.
8
+ Thường xuyên thay đổi hình thức tổ chức dạy học cho phong phú như tổ
chức trò chơi, thi đua tiếp sức, thảo luận nhóm, … nhằm gây hứng thú học tập
cho học sinh và phát huy tính tích cực của các em.
+ Giáo viên viết chữ trên bảng lớp phải viết chữ đẹp, cẩn thận, rõ ràng và
đúng mẫu.
+ Khi lên lớp giáo viên thường xuyên kiểm tra tập vở của các em, nhắc
nhở tư thế ngồi, cách viết, trình bày tập vở, phát hiện những cái sai để uốn nắn
và sửa chữa kịp thời.
+ Khi sửa lỗi, giáo viên nên cho học sinh tự sửa lỗi của mình, để các em
ghi nhớ lâu dài.
+ Bản thân giáo viên phải đọc chuẩn, phát âm đúng theo phương ngữ từng
địa phương.
+ Trong giờ Chính tả khi viết từ khó, giáo viên cần theo dõi và giúp đỡ
học sinh chậm các kỹ năng ở lớp.
+ Xây dựng tập thể lớp đoàn kết và biết giúp đỡ nhau trong học tập.
+ Sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy phải phù hợp với từng hoạt
động và minh họa khi giải nghĩa từ khó.
* Đối với học sinh:
+ Giáo viên rèn cho các em cầm viết đúng quy định, ngồi viết đúng tư thế,
nắm được độ cao, khoảng cách các con chữ, bỏ dấu thanh chính xác và luôn có ý
+ Ví dụ: Trong học tập, cho các em thi đua để giải quyết các câu hỏi khó
hoặc bài tập nâng cao có trong bài chính tả.
- Nhóm học sinh viết chưa đúng như các em thường viết sai phụ âm đầu, sai
vần, sai dấu thanh thì trong giờ học giáo viên cần quan tâm giúp đỡ nhiều đối
với học sinh chậm kỹ năng viết chính tả, thường xuyên gọi các em đọc bài để
giúp đỡ, sửa sai cách phát âm. Hằng ngày, trong quá trình giảng dạy giáo viên
nên chú ý sửa chữa uốn nắn kịp thời, động viên trước những tiến bộ của các em
dù đó là sự tiến bộ rất nhỏ mà bản thân các em đã cố gắng đạt được.
- Ở nhà, giáo viên thường xuyên tham khảo sách báo, từ điển Tiếng Việt,
chuẩn bị thật kỹ bài dạy để thuận lợi trong việc hướng dẫn học sinh viết đúng
chính tả.
- Xây dựng kế hoạch dạy học phải phù hợp với trình độ của học sinh, tình
hình học tập của các em.
10
- Trong tiết dạy, giáo viên phải thường xuyên thay đổi hình thức tổ chức
dạy học phong phú như: thi đua tiếp sức, thảo luận nhóm, trò chơi học tập để
hướng dẫn các em nhằm giúp học sinh có hứng thú trong giờ học. Đối với học
sinh thường viết sai lỗi chính tả thì giáo viên nên cho học sinh viết lại nhiều lần
từ đó sau bài chính tả để các em khắc sâu hơn, từ đó không mắc lỗi nữa.
- Sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy phải phù hợp với từng hoạt động
và minh họa khi giải nghĩa từ khó.
- Giáo viên viết chữ trên bảng lớp phải viết đúng mẫu, đẹp, rõ ràng; thường
xuyên kiểm tra tập vở của học sinh, cách cầm bút, phát hiện những sai sót của
học sinh để uốn nắn và sửa chữa kịp thời. Trong giờ học chính tả khi luyện viết
từ khó giáo viên nên quan tâm nhiều đến những học sinh viết chậm kỹ năng viết.
Khi sửa lỗi giáo viên nên để học sinh tự phát hiện lỗi sai của mình, để các em
ghi nhớ và sửa lại cho đúng.
- Xây dựng tập thể lớp có ý thức, biết đoàn kết và giúp đỡ nhau trong học
những em viết còn sai chính tả, cho các em viết lại nhiều lần trong những tiết
tăng hay lúc truy bài đầu giờ. Cần cư xử thật tế nhị, nhẹ nhàng khi các em mắc
lỗi.
+ Ví dụ: khi chúng tôi phát hiện học sinh viết không đúng chính tả thì
chúng tôi không tỏ thái độ nóng nảy mà ân cần hỏi thăm để tìm hiểu lý do, sau
đó tìm hướng để khắc phục. Xây dựng kế hoạch và lập ra danh sách học sinh
chậm kỹ năng viết qua khảo sát chất lượng đầu năm để theo dõi và phụ đạo học
sinh kịp thời.
- Để viết đúng chính tả học sinh cần nắm vững một số quy tắc chính tả sau
đây:
12
a) ng và ngh:
+ Viết ngh khi đứng trước các nguyên âm e, ê, i.
Ví dụ: nghỉ hè, nghề nghiệp, nghe nhạc,…
+ Viết ng khi đứng trước các nguyên âm khác:
Ví dụ: ngỡ ngàng, ngơ ngác, ngân nga,…
b) g/gh:
+ Viết gh khi đứng trước các nguyên âm e, ê, i.
Ví dụ: ghi nhớ, bàn ghế, chèo ghe, con ghẹ,…
+ Viết g khi đứng trước các nguyên âm khác:
Ví dụ: nhà ga, con gà, …
c) k/c/q:
+ Viết k khi đứng trước các nguyên âm: e, ê, i, ia, iê,…
Ví dụ: kín đáo, kế hoạch, kén chọn, kia, kiến thức,…
+ Viết c khi đứng trước các nguyên âm khác:
Ví dụ: cần câu, cây cỏ, cầm đồ, cơ cấu,…
+ Viết q khi nguyên âm có thêm âm đệm:
Ví dụ: quy tắc, quyền lực, quý báu, cơ quan,…
+ Với n: nỗ lực, nữ công, nõn nà,…
+ Với l: lễ phép, lão làng,…
+ Với v: vững bền, vĩ đại,…
+ Với d: dũng cảm, kiều diễm,…
+ Ngang hỏi: run rẩy, vui vẻ, nho nhỏ, trong trẻo,…
+ Sắc hỏi: mát mẻ, nhí nhảnh, lúc lỉu,…
+ Huyền ngã: thẫn thờ, rõ ràng, ầm ĩ, dễ dàng, sẵn sàng,…
+ Nặng ngã: rực rỡ, nũng nịu, lặng lẽ, vội vã,…
+ Hỏi hỏi: lỏng lẻo, thủ thỉ,…
+ Ngã ngã: mãi mãi, dễ dãi,…
b) Mẹo viết ch/tr:
- Viết ch trong những trường hợp:
+ Từ chỉ quan hệ họ hàng, gia đình.
Ví dụ: cha, chú, chồng, chị, cháu,…
+ Từ chỉ đồ dùng thường gặp trong gia đình.
Ví dụ: chai, chảo, chậu, chén, chổi,…
14
- Viết tr trong những trường hợp sau:
+ Từ chỉ ý không có sự che đậy.
Ví dụ: trần trụi, trống trãi, trơ trọi,…
+ Từ chỉ tính chất xấu.
Ví dụ: tráo trở, trơ trơ, trâng tráo,…
c) Mẹo viết phụ âm đầu s/x:
- Viết s trong các trường hợp sau:
+ Từ chỉ trạng thái tốt.
Ví dụ: sáng suốt, sạch sẽ, sung sướng.
+ Từ chỉ người, động vật, cây cối, đồ vật, hiện tượng, thiên nhiên.
Ví dụ: sứ thần, chim sáo, con sò, ngôi sao, dòng suối,…
kể chuyện,… hay là một công việc cụ thể như: chưa làm nên chuyện).
Ví dụ:
Kể chuyện phải trung thành với truyện, phải kể đúng các tình tiết của câu
chuyện, các nhân vật có trong truyện. Đừng biến giờ kể chuyện thành giờ đọc
truyện.
- Ngoài ra giáo viên cần phải rèn cho học sinh có thói quen viết đúng, sử
dụng đúng phương ngữ.
- Học sinh thuộc phương ngữ Bắc Bộ có ưu điểm là ít viết sai thanh điệu và
16
vần, nhưng lại thường hay viết lẫn lộn một số chữ phụ âm đầu như: “ch/tr”,
“s/x”, “r/d/gi”, “l/n”,…
Ví dụ: ch/tr
Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm
Đỗ Trung Quân
Ví dụ: s/x
Cây xanh thì lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con
Tục ngữ
Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm.
Ví dụ: r/d/gi
Hòa dỗ em đội mũ để đi ăn giỗ ông ngoại.
Chúng tôi lênh đênh trên dòng sông ròng rã ba ngày.
Tiếng chim cùng bé tưới hoa
Mát trong từng giọt nước hòa tiếng chim.
Đêm đã khuya. Bốn bề yên tĩnh. Ve đã lặng yên vì mệt và gió cũng thôi trò
chuyện cùng cây. Nhưng từ gian nhà nhỏ vẫn vẳng ra tiếng võng kẽo kẹt, tiếng
mẹ ru con.
Ví dụ: Thanh hỏi/ thanh ngã
Làng tôi có lũy tre xanh
Có sông Tô Lịch chảy quanh xóm làng
Trên bờ, vải, nhãn, hai hàng
Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng.
Ca dao
Muốn cho lúa nảy bông to
Cày sâu, bừa kĩ, phân gio cho nhiều
Tục ngữ
Kiến cánh vỡ tổ bay ra
Bão táp mưa sa gần tới.
Vẳng từ vườn xa
18
Chim cành thỏ thẻ
Ríu rít đầu nhà
Tiếng bầy se sẻ.
Em đứng ngẩn ngơ
Nghe bầy chim hót.
Bầu trời cao vút
Trong lời chim ca
Thanh Quế
Ví dụ: ươn/ương
- Thương người như thể thương thân.
Cá không ăn muối cá ươn
Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư.
Mới vừa nắng quái
Sân hãy rực vàng
Bỗng chiều sẫm lại
Mờ mịt sương giăng.
Cây cối trong vườn
Rủ nhau thức dậy
Đêm như loãng ra
Trong mùi hoa ấy.
Quang Huy
Ví dụ: g/gh
- Lên thác xuống ghềnh.
- Con gà cục tác lá chanh.
- Gạo trắng nước trong.
- Ghi lòng tạc dạ.
Để khắc phục được những tình trạng này chúng tôi áp dụng theo nguyên
tắc kết hợp ghi nhớ hình thức chữ viết của từ và nghĩa của chúng biểu hiện.
Muốn vậy cần đặt từ đó trong ngữ cảnh để học sinh dễ hiểu.
Ngoài ra chúng tôi còn thường xuyên cho các em luyện tập qua các dạng
bài tập như: điền vào chỗ trống trong câu, chọn những chữ viết đúng trong
20
ngoặc đơn để hoàn chỉnh đoạn văn,… điều này có tác dụng rất lớn trong việc rèn
kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh.
Ví dụ: Điền vào chỗ trống c hay k ?
Con cá, con kiến, cây cầu, dòng kênh
Ví dụ: Em chọn chữ nào trong ngoặc đơn để điền vào chỗ trống ?
(ngờ, nghiêng): nghiêng ngả, nghi ngờ.
(ngon, nghe): nghe ngóng, ngon ngọt
- Khi dạy bài Chính tả (nghe viết): đây là kiểu bài chính tả thể hiện đặc
trưng của phân môn Chính tả. Kiểu bài này yêu cầu học sinh nghe từng từ, cụm
từ, câu do giáo viên đọc. Học sinh muốn viết đúng chính tả phải gắn với việc
hiểu nội dung của từ, cụm từ, câu. Trước khi học sinh viết, giáo viên đọc thong
thả và diễn cảm đoạn viết nhằm giúp học sinh có cái nhìn bao quát hơn về đoạn
viết. Như vậy học sinh sẽ viết đúng chính tả trên cơ sở hiểu nội dung văn bản và
tránh được các lỗi do không hiểu những gì mình viết.
- Yêu cầu quan trọng của việc dạy Chính tả là giáo viên phải kiểm tra nhận
xét và sửa bài cho học sinh thật tỉ mỉ và chu đáo. Đối tượng được nhận xét và
sửa bài là học sinh cả lớp song cần chú ý đến những học sinh viết chậm hay mắc
lỗi thường xuyên. Qua đánh giá giáo viên có điều kiện rút ra nhận xét kịp thời
tuyên dương những học sinh có tiến bộ, phát hiện những lỗi học sinh thường
mắc để các em chú ý sửa chữa.
- Việc đánh giá đòi hỏi giáo viên đầu tư nhiều thời gian tránh nhận xét
chung chung không cụ thể. Cần động viên khen ngợi kịp thời những em có tiến
bộ dù rất nhỏ của học sinh, có biện pháp giúp đỡ kịp thời đối với học sinh chậm
kỹ năng viết để các em theo kịp các bạn, không chán nản. Việc soát lỗi chính tả,
giáo viên cần đọc từng câu cho học sinh soát lỗi, kết hợp chỉ dẫn các chữ viết sai
lên bảng.
* Về phía phụ huynh học sinh:
- Tăng cường công tác kết hợp giữa nhà trường, gia đình, giáo viên và phụ
huynh học sinh trong việc học tập của các em.
- Giáo viên liên hệ thường xuyên với phụ huynh hay ngược lại để cùng
phối hợp nhắc nhở các em tích cực trong học tập.
- Phụ huynh cần trang bị cho các em góc học tập riêng ở nhà.
- Phụ huynh phải thường xuyên kiểm tra kết quả học tập của con em mình.
22
- Động viên nhắc nhở các em đọc thêm sách báo, truyện thiếu nhi để bồi
việc đọc mẫu của giáo viên phải chính xác, đúng với âm, giáo viên đọc thong
thả, rõ ràng ngắt nghỉ hợp lý. Tốc độ đọc phù hợp với tốc độ viết của học sinh.
+ Để viết đúng Chính tả việc đọc của giáo viên lớp 2 cũng rất quan trọng.
Vì vậy khi đọc cho học sinh viết bài giáo viên cần thức hiện các bước sau:
24
- Đọc lần 1: Giáo viên đọc đúng ngữ điệu, phát âm đúng chuẩn, nhấn giọng
các từ khó trong bài.
- Đọc lần 2: Giáo viên đọc từng cụm từ và nhấn mạnh các từ khó trong bài
để các em viết vào tập.
- Đọc lần 3: Giáo viên đọc cho học sinh rà soát lại, bổ sung thêm.
- Giáo viên nhận xét hướng dẫn sửa sai. Giáo viên tuyên dương những học
sinh viết đúng chính tả, trình bày đẹp.
Từ những kinh nghiệm trên mà chúng tôi áp dụng trong các môn học và
nhất là phân môn Chính tả một cách nhẹ nhàng, giúp cho các em say mê học tập
rèn luyện chữ viết, chữ viết đúng chính tả, đẹp, đúng mẫu, tốc độ viết ngày càng
nhanh theo đúng quy định.
4. Kết quả đề tài:
- Từ kết quả thực tiễn ở đầu năm học, chúng tôi đã nghiên cứu mục tiêu,
phương pháp dạy chính tả mới, vận dụng trong giờ dạy sao cho phù hợp với
từng đối tượng học sinh lớp mình. Kết quả khảo sát cho thấy sau khi áp dụng đề
tài kỹ năng viết chính tả của các em đã có nhiều tiến bộ, các em viết đúng hơn,
trình bày sạch đẹp hơn và hiệu quả cao hơn so với khi chưa áp dụng đề tài.
- Trong năm học này, nhờ kiên trì thực hiện các giải pháp rèn chính tả nêu
trên mà chất lượng viết của học sinh đã có nhiều chuyển biến rõ rệt. Chúng tôi
đã tiến hành khảo sát và có số liệu như sau:
BẢNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ QUA CÁC THỜI ĐIỂM
Thời
điểm
dụng đề
2A
35
20 57,1%
5
14,3%
4
11,5%
6
17,1%
35
18 51,4%
7
20%
5