BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: Kinh nghiệm rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2
Họ và tên người thực hiện: Lê Thị Ngọc Diễm, Cao Thị Hồng Diễm.
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Ninh Hưng.
1. Lý do chọn đề tài:
Thực trạng học sinh lớp 2A, 2B Trường Tiểu học Ninh Hưng chưa viết đúng
chính tả dẫn đến chất lượng của phân môn Chính tả đầu năm chưa cao, ảnh
hưởng đến môn Tiếng Việt. Do chữ viết đóng vai trò quan trọng trong việc lĩnh
hội tri thức nên chúng ta phải đọc đúng, viết đúng để trang bị vốn kiến thức cần
thiết cho bản thân. Chính vì thế chúng tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Kinh
nghiệm rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2”
2. Mục đích nghiên cứu:
Giúp học sinh viết đúng chính tả nhằm nâng cao chất lượng phân môn Chính
tả.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Kinh nghiệm rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2.
4. Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp đọc tài liệu.
+ Phương pháp điều tra.
+ Phương pháp so sánh, đối chiếu.
5. Đề tài đưa ra giải pháp:
Giúp học sinh biết phân biệt và viết đúng chữ ghi âm đầu và cuối trong các
vần, giải nghĩa từ; vận dụng kiến thức về ngữ âm học Tiếng Việt và phân loại
chính tả.
6. Hiệu quả áp dụng:
- Học sinh rèn được kỹ năng nghe đúng, viết đúng, viết rõ nét, viết bảo đảm
tốc độ.
- Rèn thói quen cẩn thận, trình bày bài viết sạch đẹp.
7. Phạm vi áp dụng:
Đề tài áp dụng cho khối 2 ở trường Tiểu học Ninh Hưng năm học 2014 - 2015
và một số trường Tiểu học lân cận trong huyện.
các lỗi về dấu thanh, về phụ âm đầu, phần vần. Vì vậy để khắc phục những lỗi
do phương ngữ tạo ra trên cơ sở nắm vững về chính tả và ngữ nghĩa thì trước hết
là phải học luật chính tả nhằm giúp các em có kiến thức cơ bản, chắc chắn, để có
những kỹ năng viết thành thạo, không sai lỗi chính tả đó là vấn đề rất cần thiết.
Phân môn Chính tả rèn cho học sinh nắm quy tắc và có thói quen đọc đúng,
phát âm đúng chuẩn, còn viết thì viết đúng. Chính tả sắp xếp dạy sau môn Tập
đọc. Cùng với Tập viết, Tập đọc, Chính tả giúp người học chiếm lĩnh được
Tiếng Việt văn hóa giúp cho học sinh có công cụ để giao tiếp, tư duy học tập.
Viết đúng chính tả giúp học sinh sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao. Vì lý do
trên chúng tôi chọn đề tài:“Kinh nghiệm rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho
học sinh lớp 2”, nhằm nâng cao kỹ năng viết đúng chính tả của học sinh nói
riêng và nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt nói chung, đồng thời tạo điều kiện
phát huy kỹ năng nói và viết một cách chính xác tiếng mẹ đẻ.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này nhằm thực hiện tinh thần đổi mới phương pháp
giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, học sinh sẽ có ý thức viết
đúng chính tả và nắm được luật viết chính tả, hiểu được nghĩa của từ và làm bài
tập chính xác. Từ đó các em viết chữ không sai lỗi chính tả.
3. Đối tượng nghiên cứu
Kinh nghiệm rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2.
4. Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện cho học sinh khối lớp 2 (2A, 2B) Trường Tiểu học Ninh Hưng
2
năm học 2014 - 2015.
Trong chương trình chính tả lớp 2 gồm có hai dạng bài chính tả đó là:
Chính tả (tập chép) và Chính tả (nghe viết), nhưng chúng tôi chỉ đi sâu nghiên
cứu về chính tả (nghe viết).
5. Các phương pháp nghiên cứu:
có tinh thần trách nhiệm trong học tập.
- Do đó để đạt được chất lượng phân môn Chính tả thì người giáo viên phải
đầu tư và chuẩn bị kỹ càng về mục tiêu bài dạy, xác định phương pháp và hình
thức tổ chức tiết dạy phù hợp để giúp các em chiếm lĩnh tri thức mới và áp dụng
tri thức đã học vào thực tế.
- Nếu giáo viên biết áp dụng các biện pháp và phương pháp hợp lý trong
quá trình dạy phân môn Chính tả thì chắc chắn sẽ giúp học sinh viết đúng chính
tả, đạt hiệu quả tốt hơn.
3
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
Thực hiện Công văn số 9832/BGD-ĐT-GDTH ngày 01 tháng 9 năm 2006
về việc thực hiện hướng dẫn chương trình các môn học lớp 1, 2, 3, 4, 5. Để giáo
viên thực hiện tốt kế hoạch đồng thời có phương pháp dạy học thích hợp với nội
dung nhằm phát triển năng lực của học sinh phù hợp với từng loại văn bản.
Thực hiện Quyết định số 16/2006 QĐ-BGD-ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006
về việc ban hành chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học.
Chuẩn kiến thức kỹ năng lớp 2 năm 2009.
Quyết định số 14/2007 QĐ-BGD-ĐT ngày 05 tháng 4 năm 2007 quy định
về chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học.
Công văn số 5842/BGD-ĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011 về việc Hướng
dẫn điều chỉnh nội dung dạy học giáo dục phổ thông.
Thông tư 30/2014/TT-BGD-ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 về việc Ban
hành đánh giá học sinh Tiểu học.
Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 2 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
* Các quan niệm khác về giáo dục:
Theo quan niệm của các bậc phụ huynh cho rằng: môn Toán, Tiếng Anh là
- Từ đó các em sẽ viết sai và các chữ đầu câu, đầu đoạn, tên riêng, các em
vẫn không viết hoa.
Trong khối 2 của trường chúng tôi, lớp 2A có 35 học sinh (trong đó viết
đúng hoàn toàn là 20 em, viết sai phụ âm đầu 5 em, viết sai vần 4 em, viết sai
dấu thanh 6 em), lớp 2B có 35 học sinh (trong đó viết đúng hoàn toàn là 18 em,
viết sai phụ âm đầu 7 em, viết sai vần 5 em, viết sai dấu thanh 5 em). Mỗi học
sinh đều có sự nhận thức khác nhau là do trí thông minh hoặc cần cù, chịu khó,
siêng năng trong học tập. Các em có ý thức được việc học của mình. Hơn nữa
ngôn ngữ tiếng Việt của chúng ta có nhiều nghĩa, nhiều cách phát âm nên các
em dễ nhầm lẫn. Vì vậy viết đúng chính tả ở học sinh Tiểu học nói chung và học
sinh lớp 2 nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn cho nên phần lớn các em viết sai
chính tả rất nhiều.
Viết sai lỗi chính tả rất nhiều sẽ làm sai lệch ý nghĩa của từ hoặc câu đó. Tư
thế ngồi và cách cầm bút chưa đúng, từ đó dẫn đến các em viết chữ xấu không
thẳng hàng, trình bày bài viết chưa đúng, chưa đẹp. Vì vậy đầu năm trong quá
trình giảng dạy còn gặp rất nhiều khó khăn.
Để học sinh viết đúng chính tả theo yêu cầu của lớp 2 là phải đọc đúng,
phát âm chính xác, biết phân biệt lỗi chính tả, biết trình bày bài viết, rèn tư thế
ngồi, viết nắn nót từng nét chữ.
b) Sự cần thiết của đề tài:
* Trong quá trình dạy học sinh rèn kỹ năng nghe, viết, đọc. Người giáo viên
còn bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt cho học sinh, hình thành thói quen giữ gìn sự
trong sáng giàu đẹp của tiếng Việt. Do đó rèn học sinh viết đúng chính tả là cần
thiết trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ viết.
* Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy còn nhiều em mắc lỗi
chính tả rất nhiều, cho nên chúng tôi rất quan tâm về chất lượng dạy - học. Để
nâng cao chất lượng giảng dạy của mình nên chúng tôi muốn tìm ra những
nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phân môn
Chính tả đó là “Kinh nghiệm rèn kỹ năng viết đúng chính tả ở lớp 2A, 2B”.
Với kinh nghiệm của mình, chúng tôi hy vọng rằng sẽ giúp cho học sinh khối
chức trò chơi, thi đua tiếp sức, thảo luận nhóm, … nhằm gây hứng thú học tập
cho học sinh và phát huy tính tích cực của các em.
+ Giáo viên viết chữ trên bảng lớp phải viết chữ đẹp, cẩn thận, rõ ràng và
đúng mẫu.
+ Khi lên lớp giáo viên thường xuyên kiểm tra tập vở của các em, nhắc
nhở tư thế ngồi, cách viết, trình bày tập vở, phát hiện những cái sai để uốn nắn
và sửa chữa kịp thời.
+ Khi sửa lỗi, giáo viên nên cho học sinh tự sửa lỗi của mình, để các em
ghi nhớ lâu dài.
+ Bản thân giáo viên phải đọc chuẩn, phát âm đúng theo phương ngữ từng
địa phương.
+ Trong giờ Chính tả khi viết từ khó, giáo viên cần theo dõi và giúp đỡ
học sinh chậm các kỹ năng ở lớp.
+ Xây dựng tập thể lớp đoàn kết và biết giúp đỡ nhau trong học tập.
+ Sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy phải phù hợp với từng hoạt
động và minh họa khi giải nghĩa từ khó.
* Đối với học sinh:
+ Giáo viên rèn cho các em cầm viết đúng quy định, ngồi viết đúng tư thế,
nắm được độ cao, khoảng cách các con chữ, bỏ dấu thanh chính xác và luôn có ý
thức tự giác hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo viên giao.
+ Rèn học sinh có thói quen khi chuẩn bị bài, các em phải tự tìm những từ
khó mà các em hay nhầm lẫn.
+ Hướng dẫn các em biết cách cầm bút và nắm vững quy tắc chính tả.
+ Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động học tập bằng nhiều hình
thức khác nhau như: đôi bạn cùng tiến, học tổ, học nhóm, thảo luận nhóm, rèn
cho học sinh kỹ năng phát âm thật chuẩn, chính xác và biết tập trung nghe giảng
bài trên lớp, nắm được nghĩa của các từ, tự kiểm tra lại các từ khi viết. Ngoài ra,
các em còn phải có ý thức tự học, tự rèn ở nhà.
+ Hình thành cho học sinh kỹ năng viết đúng chính tả trên cơ sở nắm luật
viết chính tả về viết hoa danh từ riêng, phân tích mở rộng, so sánh từ…
hình học tập của các em.
- Trong tiết dạy, giáo viên phải thường xuyên thay đổi hình thức tổ chức
dạy học phong phú như: thi đua tiếp sức, thảo luận nhóm, trò chơi học tập để
hướng dẫn các em nhằm giúp học sinh có hứng thú trong giờ học. Đối với học
sinh thường viết sai lỗi chính tả thì giáo viên nên cho học sinh viết lại nhiều lần
từ đó sau bài chính tả để các em khắc sâu hơn, từ đó không mắc lỗi nữa.
- Sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy phải phù hợp với từng hoạt động
và minh họa khi giải nghĩa từ khó.
- Giáo viên viết chữ trên bảng lớp phải viết đúng mẫu, đẹp, rõ ràng; thường
xuyên kiểm tra tập vở của học sinh, cách cầm bút, phát hiện những sai sót của
học sinh để uốn nắn và sửa chữa kịp thời. Trong giờ học chính tả khi luyện viết
từ khó giáo viên nên quan tâm nhiều đến những học sinh viết chậm kỹ năng viết.
Khi sửa lỗi giáo viên nên để học sinh tự phát hiện lỗi sai của mình, để các em
ghi nhớ và sửa lại cho đúng.
- Xây dựng tập thể lớp có ý thức, biết đoàn kết và giúp đỡ nhau trong học
tập.
- Giáo viên phải tự rèn cho mình thói quen phát âm chuẩn.
7
- Trong giờ chính tả giáo viên hướng dẫn cho các em biết cách sử dụng
sách giáo khoa trong suốt giờ học, cho học sinh tự tìm ra những từ khó trong bài
viết, đoạn viết và cho các em viết vào bảng con các từ khó; hướng dẫn cho các
em phát âm đúng các từ khó và biết phân biệt nghĩa của từ, tùy theo tiết học mà
8
giáo viên cho học sinh chép lại chính xác, trình bày đúng một đoạn văn, bài thơ.
* Đối với học sinh:
Ví dụ: nghỉ hè, nghề nghiệp, nghe nhạc,…
+ Viết ng khi đứng trước các nguyên âm khác:
Ví dụ: ngỡ ngàng, ngơ ngác, ngân nga,…
b) g/gh:
+ Viết gh khi đứng trước các nguyên âm e, ê, i.
Ví dụ: ghi nhớ, bàn ghế, chèo ghe, con ghẹ,…
+ Viết g khi đứng trước các nguyên âm khác:
Ví dụ: nhà ga, con gà, …
c) k/c/q:
+ Viết k khi đứng trước các nguyên âm: e, ê, i, ia, iê,…
Ví dụ: kín đáo, kế hoạch, kén chọn, kia, kiến thức,…
+ Viết c khi đứng trước các nguyên âm khác:
Ví dụ: cần câu, cây cỏ, cầm đồ, cơ cấu,…
9
+ Viết q khi nguyên âm có thêm âm đệm:
Ví dụ: quy tắc, quyền lực, quý báu, cơ quan,…
- Trong giảng dạy chúng tôi nhận thấy đa số các em phát âm theo địa
phương không phân biệt được âm đầu như: v/d, d/gi, tr/ch,…Vần như: ưu/ươu,
ươn/ương,… do vậy khi viết các em thường viết sai nên giáo viên cần chú ý và
hướng dẫn cho các em phát âm đúng và viết đúng.
Ví dụ: Vội vàng đọc thành dội dàng
Con hươu đọc thành con hưu
Cái giếng đọc thành cái diếng
Con vượn đọc thành con dượng
Cây tre đọc thành cây che
- Ngoài việc cung cấp cho các em kiến thức về những quy luật chính tả cụ
thể trên giáo viên cần kết hợp với các môn học khác để hỗ trợ các em viết đúng
chính tả.
- Viết tr trong những trường hợp sau:
10
+ Từ chỉ ý không có sự che đậy.
Ví dụ: trần trụi, trống trãi, trơ trọi,…
+ Từ chỉ tính chất xấu.
Ví dụ: tráo trở, trơ trơ, trâng tráo,…
c) Mẹo viết phụ âm đầu s/x:
- Viết s trong các trường hợp sau:
+ Từ chỉ trạng thái tốt.
Ví dụ: sáng suốt, sạch sẽ, sung sướng.
+ Từ chỉ người, động vật, cây cối, đồ vật, hiện tượng, thiên nhiên.
Ví dụ: sứ thần, chim sáo, con sò, ngôi sao, dòng suối,…
- Viết x trong các trường hợp sau:
+ Từ chỉ tên thức ăn.
Ví dụ: xôi gấc, xúc xích, xá xị, lạp xưởng,…
+ Từ chỉ sự nhỏ đi.
Ví dụ: xì, xẹp, xốp,…
d) Mẹo viết vần ăc/ăt:
+ Từ có vần ăc thường có nghĩa chỉ sự lung lay, dao động.
Ví dụ: lúc lắc, ngắc ngư,…
+ Từ có vần ăt thường có nghĩa là tách rời hay túm lại một vật.
Ví dụ: chặt, nhặt, cắt cỏ, bắt,…
e) Mẹo viết vần ai/ay:
+ Từ có vần ai thường có nghĩa chỉ đặc điểm của con người.
Ví dụ: mái tóc, lỗ tai, …
+ Từ có vần ay thường chỉ hoạt động của các sự vật.
Ví dụ: máy cày, máy bay, máy quạt,…
- Biện pháp tiếp theo để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giải nghĩa
Ví dụ: s/x
Cây xanh thì lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con
Tục ngữ
Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm.
Ví dụ: r/d/gi
Hòa dỗ em đội mũ để đi ăn giỗ ông ngoại.
Chúng tôi lênh đênh trên dòng sông ròng rã ba ngày.
Tiếng chim cùng bé tưới hoa
Mát trong từng giọt nước hòa tiếng chim.
Vòm cây xanh, đố bé tìm
Tiếng nào riêng giữa trăm nghìn tiếng chung.
Định Hải
Dung dăng dung dẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến ngõ nhà giời
Lạy cậu, lạy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
Đồng dao
Ví dụ: l/n
Năm gian lều cỏ thấp le te
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Nguyễn Khuyến
Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy.
Tục ngữ
Long lanh đáy nước in trời
Bầu trời cao vút
Trong lời chim ca
Thanh Quế
Ví dụ: ươn/ương
- Thương người như thể thương thân.
Cá không ăn muối cá ươn
Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư.
Tục ngữ
Ví dụ: uôn/uông
- Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học
- Không phải bò
Không phải trâu
Uống nước ao sâu
Lên cày ruộng cạn.
Câu đố
- Đồng ruộng quê em luôn xanh tốt.
- Nước từ trên nguồn đổ xuống, chảy cuồn cuộn.
Ví dụ: ân/âng
Tôi viết những vần thơ về vầng trăng quê hương.
Dân làng dâng lên nhà vua nhiều của ngon vật lạ.
Ví dụ: en/eng
Đêm hội, ngoài đường người và xe chen chúc. Chuông xe xích lô leng
keng, còi ô tô inh ỏi. Vì sợ lỡ hẹn với bạn, Hùng cố len qua dòng người đang đổ
về sân vận động.
Ví dụ: i/iê
13
Cây bàng lá nõn xanh ngời
Ngày ngày chim đến tìm mồi chíp chiu
Ví dụ: Em chọn chữ nào trong ngoặc đơn để điền vào chỗ trống ?
(ngờ, nghiêng): nghiêng ngả, nghi ngờ.
(ngon, nghe): nghe ngóng, ngon ngọt
(chở, trò): trò chuyện, che chở
(trắng, chăm): trắng tinh, chăm chỉ
(gổ, gỗ): cây gỗ, gây gổ
(mỡ, mở): màu mỡ, cửa mở
Ví dụ: Điền vào chỗ trống:
(sa, xa): xa xôi, sa suống
(sá, xá): phố xá, đường sá
(ngả, ngã): ngã ba đường, ba ngả đường
(vẻ,vẽ): vẽ tranh, có vẻ
14
Ví dụ: Chọn từ trong ngoặc đơn thích hợp với mỗi chỗ trống:
(giơ, đuổi, chạy, nhe, luồn)
Con mèo, con mèo
Đuổi theo con chuột
Giơ vuốt, nhe nanh
Con chuột chạy quanh
Luồn hang luồn hốc
Đồng dao
Ví dụ: Em chọn chữ nào trong ngoặc đơn để điền vào chỗ trống ?
(sương, xương): sương mù, cây xương rồng
(sa, xa): đất phù sa, đường xa
(sót, xót): xót xa, thiếu sót
(chiết, chiếc): chiết cành, chiếc lá
(tiết, tiếc): nhớ tiếc, tiết kiệm
(biết, biếc): hiểu biết, xanh biếc
15
dưỡng thêm kiến thức để từ đó học sinh sẽ đọc đúng và viết đúng chính tả hơn.
* Vận dụng đổi mới trong dạy học
- Để đổi mới phương pháp dạy học khi dạy chính tả, ngay từ đầu năm học,
chúng tôi đã nghiên cứu vận dụng phương pháp dạy học mới trong tiết dạy.
- Nếu cùng một lúc đòi hỏi các em viết đẹp và viết đúng, chính xác ngay là
điều khó có thể thực hiện được. Do vậy, ngay từ đầu năm học riêng với phân
môn Chính tả chúng tôi đã yêu cầu học sinh mỗi em có hai quyển vở, một quyển
để viết bài ở lớp, một quyển dành rèn viết vào buổi chiều. Chúng tôi giao việc
cho học sinh mỗi tuần rèn một bài trong sách giáo khoa và làm bài tập còn lại
của bài chính tả trong tuần đó, ví dụ như: nghe viết bài “Sự tích cây vú sữa”,
làm tại lớp bài tập 2, 3a; bài 3b làm buổi chiều để rèn chữ viết và trau dồi kiến
thức về vốn từ cho các em. Giáo viên nhận xét cụ thể, rõ ràng. Từ đó giáo viên
phát hiện ra nguyên nhân học sinh viết chưa đúng. Bên cạnh đó giáo viên cần
nhắc nhở học sinh tư thế ngồi viết và cách cầm bút.
- Giáo viên cần giải thích cho học sinh hiểu muốn viết đúng và đẹp thì phải
rèn luyện và nắm vững nghĩa của từ cũng như các luật chính tả.
- Dạy phân môn Chính tả việc hướng dẫn học sinh là cần thiết, vì đây là
môn học rèn kỹ năng. Muốn vậy giáo viên phải nắm vững khả năng chữ viết của
từng em. Đặc biệt là những em hay viết sai, viết chậm của tất cả các môn học và
có hướng dẫn cụ thể với từng em đó.
- Đối với chính tả “nghe - viết” tại lớp. Yêu cầu học sinh nghe từng từ,
từng cụm, câu do giáo viên đọc, vừa nghe vừa tái hiện lại hình thức chữ viết của
từ, cụm từ và câu.
- Khi viết giáo viên nhắc nhở học sinh viết đủ số lượng tiếng đã nghe, viết
đúng và theo tốc độ quy định. Do đó, giáo viên phải hướng dẫn học sinh biết về
các quy tắc Chính tả, học sinh còn phải hiểu nghĩa của từ. Khi dạy kiểu bài này,
việc đọc mẫu của giáo viên phải chính xác, đúng với âm, giáo viên đọc thong
dụng đề
tài
Sau khi
áp dụng
đề tài
Lớp
TS
HS
Đúng hoàn
Sai phụ
toàn
âm đầu
SL
TL
SL
TL
Sai vần
SL
TL
Sai dấu
thanh
SL
TL
14,3%
5
14,3%
2A
35
33 94,2%
0
0%
1
2,9%
1
2,9%
2B
35
32 91,4%
- Để dạy tốt phân môn Chính tả giáo viên phải đọc rõ giọng, phát âm chuẩn
trước và trong lúc lên lớp, học sinh nắm vững luật chính tả, cách so sánh, phân
biệt từ một cách dễ dàng.
- Trong giảng dạy giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức để giúp các em
tự tìm ra kiến thức. Giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học, nội dung
bài dạy, phương pháp giảng dạy phù hợp với thực tế của lớp. Linh hoạt, sáng tạo
trong việc phối hợp và vận dụng các phương pháp dạy học, đồ dùng dạy học.
- Thường xuyên giải nghĩa từ cho học sinh.
- Để việc viết chính tả đạt hiệu quả cao ngay từ khi các em mới bắt đầu làm
quen với Tiếng Việt, giáo viên cần hướng dẫn cho các em thật tỉ mỉ về các quy
tắc chính tả, quy tắc kết hợp từ, quy tắc ghi âm chữ quốc ngữ…tránh trường hợp
học sinh vì thiếu hiểu biết dẫn đến sai sót.
- Rèn cho học sinh một số phẩm chất như tính cẩn thận, óc thẩm mỹ, bồi
dưỡng cho các em lòng yêu quý Tiếng Việt và chữ viết Tiếng Việt.
- Giúp học sinh nắm vững “mẹo” chính tả, nắm nguyên tắc viết hoa, quy tắc
viết chính tả.
- Học sinh tự học và phát huy tư duy sáng tạo qua các hình thức thi đua trò
chơi.
- Rèn kỹ năng viết đúng chính tả cũng là cơ sở, nền tảng để hình thành 4 kỹ
năng cơ bản cho học sinh: nghe, nói, đọc, viết.
- Đề tài này mang tính thiết thực và được áp dụng có hiệu quả cho học sinh
khối 2 Trường Tiểu học Ninh Hưng và được phổ biến ở các trường lân cận trong
huyện.
- Với kinh nghiệm này chúng tôi sẽ tích cực giảng dạy, nghiên cứu tìm ra
phương pháp hữu hiệu hơn để mở rộng và nâng cao cho năm tới.
Dương Minh Châu, ngày 13 tháng 3 năm 2015
Nhóm thực hiện
Lê Thị Ngọc Diễm
Cao Thị Hồng Diễm
1. Cấp trường:
Nhận xét:
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
Xếp loại:
............................................................................................................................
............................................................................................................................
2.Cấp phòng:
Nhận xét:
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
Xếp loại:
............................................................................................................................
............................................................................................................................
3. Cấp ngành:
Nhận xét:
............................................................................................................................
.................................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................