SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Vĩnh Cửu
Mã số:……………….
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ HỌC TẬP,
ĐỊNH HƯỚNG CHỌN NGHỀ CHO HỌC SINH
TRƯỜNG THPT VĨNH CỬU
Người Thực hiện: Bùi Thị Ngọc Nga
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lí giáo dục………………
Phương pháp dạy học bộ môn…
Phương pháp giáo dục………….
Lĩnh vực khác…………………
Có đính kèm:
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học: 2013- 2014
SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Vĩnh Cửu
Mã số:……………….
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
− Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Thạc sĩ
− Năm nhận bằng: 2011
− Chuyên ngành đào tạo: Tin học
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
− Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Quản lý và giảng dạy môn Tin học.
− Số năm có kinh nghiệm: Giảng dạy từ năm 2007.
− Đạt giải Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Đồng Nai năm 2011.
− Đạt chiến sĩ thi đua cơ sở 2011-2012
− Bằng khen của UBND tỉnh Đồng Nai năm 2012.
− Lao động xuất sắc năm 2012-2013
− Đạt chiến sĩ thi đua cơ sở 2012-2013
− Đạt chiến sĩ thi đua cấp Tỉnh 2012-2013
− Giấy khen Sở GDĐT Đồng Nai 2012-2013
− Giấy khen Công đoàn ngành GDĐT Đồng Nai 2012-2013
− Lao động xuất sắc năm 2013-2014
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến lãnh đạo Trường THPT
Vĩnh Cửu đã tạo điều kiện tốt cho tôi tìm hiểu thực tế tại đơn vị.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể Thầy cô giáo, học sinh Trường THPT
Vĩnh Cửu đã hỗ trợ cho tôi và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt chuyên đề nghiên cứu
này.
Cảm ơn các cấp lãnh đạo đã tạo điều kiện cho tôi có cơ hội đóng góp một
phần kinh nghiệm nhỏ bé của mình cho ngành giáo dục nói chung và cho các
trường bạn nói riêng.
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình tìm
tài liệu, nghiên cứu để tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu cho chuyên đề này.
Chuyên đề này được chuẩn bị với tất cả tâm huyết và nổ lực của bản thân,
trong suốt thời gian giảng dạy và làm quản lý. Tôi đã trang bị cho mình một trình
độ nhận thức nhất định để áp dụng vào thực tiễn công tác và cuộc sống.
Mặc dù, bản thân đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu thực hiện
HIỆN THỰC CỔNG ĐIỆN TỬ TRƯỜNG THPT BẰNG MOODLE 34
HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG INTERNET TRONG DẠY VÀ HỌC TẠI TRƯỜNG PHỔ THÔNG 35
NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG 37
TRẮC NGHIỆM NGHỀ NGHIỆP 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Bùi Thị Ngọc Nga - “Sáng kiến kinh nghiệm” 2013-2014
QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG KIỂM TRA
ĐÁNH GIÁ HỌC TẬP, ĐỊNH HƯỚNG CHỌN NGHỀ CHO HỌC SINH
TRƯỜNG THPT VĨNH CỬU
I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong xã hội thông tin, những ngành công nghệ cao đang phát triển mạnh
mẽ và công nghệ thông tin (CNTT) là một trong những ngành quan trọng hàng
đầu, giữ vai trò nòng cốt cho những ngành công nghệ khác phát triển. Cuộc cách
mạng về CNTT những năm cuối thế kỉ XX đang làm cho nền kinh tế thế giới từ
một nền kinh tế công nghiệp chuyển dần sang một nền kinh tế mới mà nhiều nhà
khoa học gọi đó là nền kinh tế thông tin, và xã hội công nghiệp đang chuyển dần
sang xã hội thông tin. Việc học tập của con người trong xã hội thông tin sẽ trở
thành thường xuyên và suốt đời. Trong những năm gần đây, trước yêu cầu ngày
càng cao của xã hội đối với giáo dục và đào tạo (GD-ĐT), Đảng và Nhà nước đã
tập trung đưa ra những quyết sách lãnh đạo, đầu tư cho giáo dục nhàm đưa chất
lượng GD-ĐT của Việt Nam từng bước phát triển ngang tầm với khu vực và thế
giới.
Với các chủ trương của Bộ Giáo Dục hướng đến việc ứng dụng công nghệ
thông tin trong các đơn vị nhà nước, dần “điện tử hóa” các hoạt động trong lĩnh
vực giáo dục. Riêng trong giáo dục, việc ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ
dừng ở mức quản lý mà còn ứng dụng trong việc giảng dạy và học tập. Bên cạnh
đó, Bộ Giáo Dục còn chủ trương sử dụng các phần mềm mã nguồn mở tại các đơn
vị giáo dục. Việc triển khai sử dụng các phần mềm mã nguồn mở cho công tác
quản lý hoặc hỗ trợ tác nghiệp trong giảng dạy đều được khuyến khích và sự quan
tâm của Bộ Giáo Dục. Từ năm học 2009-2010 Bộ Giáo Dục đã phát động cuộc thi
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
II.1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Internet và CNTT đang làm thay đổi mọi mặt của cuộc sống. Nhờ có các
công nghệ này, hoạt động của con người chuyển biến theo những phương thức
mới. Các tổ chức đang nghiên cứu áp dụng những công nghệ internet và CNTT để
hợp lý hoá các quá trình tổ chức, tạo khả năng trao đổi thông tin kịp thời. CNTT đã
thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội. CNTT được ứng dụng
rộng rãi trong mọi lĩnh vực đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của xã hội và làm
thay đổi căn bản cách quản lý, học tập và làm việc của con người. Theo Luật Công
nghệ thông tin thì: “ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động
thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động
khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”.
Như vậy, ứng dụng CNTT trong lĩnh vực GD-ĐT là việc sử dụng CNTT vào
các hoạt động GD-ĐT nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này.
Tương lai của nền giáo dục sẽ thay đổi rất nhiều bởi những tiến bộ đang diễn
ra của CNTT. Đối với nhà trường, việc ứng dụng CNTT đã trở thành một yêu cầu
cấp thiết, làm cho các hoạt động của nhà trường đạt năng suất, có chất lượng và
hiệu quả hơn. Từ đó, góp phần làm cho nhà trường hoàn thành có chất lượng và
hiệu quả mục tiêu GD-ĐT đề ra.
Nắm bắt được nhu cầu cần thiết của việc đầu tư và áp dụng CNTT vào trong
giáo dục ở Việt Nam, một số công ty và đơn vị đã nhanh chóng giới thiệu một loạt
các kinh nghiệm, giải pháp và phần mềm của mình. Chẳng hạn như, hãng HP với
bài tham luận về công nghệ và học tập; ứng dụng công cụ giảng dạy trực quan
multimedia trong giáo dục của Sony; chương trình đào tạo cho học sinh - học
sinhcủa Microsoft; giải pháp e-Learning của NIIT, SUN, ICOMM; chương trình
"Vui để học" dành cho lứa tuổi mầm non của Công ty Lạc Việt; giải pháp mạng
không dây cho giáo dục của Intel, Canopy Ngoài ra có rất nhiều các công ty phần
mềm, công ty công nghệ giáo dục khác trong nước đã và đang triển khai các phần
mềm quản lý đào tạo đang được ứng dụng trong các cơ sở giáo dục trong cả nước
như: Phần mềm Quản lý Đào tạo UNION của công ty Tinh Vân hiện đang được
người học; tạo điều kiện để người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội
dung học phù hợp; xoá bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do khoảng cách
địa lý đem lại”.
Chỉ thị 3399 /CT-BGDĐT ngày 16/8/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
tiếp tục nhấn mạnh : “…Xây dựng thư viện câu hỏi kiểm tra, bài tập các môn học
để giáo viên, học sinh tham khảo, sử dụng trong dạy và học, tự kiểm tra, đánh giá.
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy và học”.
Thông tư 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của Thứ trưởng Bộ Giáo
Dục và Đào Tạo quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ
sở giáo dục nhằm hạn chế và hướng tới việc xóa bỏ việc vi phạm bản quyền phần
mềm; tiết kiệm chi phí bản quyền; đảm bảo an ninh cho hạ tầng hệ thống thông tin
và dữ liệu; định hướng sử dụng các chuẩn mở.
Đặc biệt là chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 17 tháng 10 năm 2000 về đẩy mạnh
ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Chỉ thị đã nêu rõ “Công nghệ thông tin là một trong các công cụ và
động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao
khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện
đại. Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải
phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc
đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an
Trang 3/49
Bùi Thị Ngọc Nga - “Sáng kiến kinh nghiệm” 2013-2014
ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Chỉ thị số 15/ 2000/CT- BGDĐT ngày 17/05/ 2000 của Bộ Trưởng Bộ Giáo
Dục và Đào Tạo về “Các biện pháp cấp bách tăng cường quản lý dạy thêm, học
thêm”.
II.3. Lý do lý luận
nghiệm hoạt động thực tiễn của thế hệ trước cho thế hệ sau, nhằm phát triển và
hoàn thiện nhân cách cá nhân, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội. Như
vậy, có thể hiểu giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nó được sinh ra, tồn tại
và phát triển cùng với xã hội loài người.
Quản lý giáo dục (QLGD) là một bộ phận quan trọng của quản lý xã hội. Tuy
nhiên, khái niệm QLGD còn nhiều quan điểm khác nhau. Các nhà nghiên cứu lý
luận cho rằng QLGD là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được kết
quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất.
Quản lý nhà trường
Nhà trường là một thể chế xã hội - nhà nước, là một đơn vị tổ chức hoàn chỉnh,
một cơ quan giáo dục chuyên biệt thực hiện chức năng giáo dục-đào tạo của Nhà
nước và của cộng đồng xã hội chuẩn bị cho thế hệ mới bước vào cuộc sống.
Theo GS -TSKH Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối
giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành
theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với
ngành Giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”.
“Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học. Có tổ
chức được hoạt động dạy-học, thực hiện được tính chất của nhà trường phổ thông
Việt Nam XHCN mới quản lý được giáo dục”.
Từ đó, quản lý nhà trường được hiểu là một hệ thống những hoạt động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho nhà trường vận
hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thể hiện tính chất nhà trường
XHCN, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ.
Thông tin:
“Thông tin là tất cả những gì có thể cung cấp cho con người những hiểu biết về
đối tượng được quan tâm trong tự nhiên và xã hội, về những sự kiện diễn ra trong
không gian và thời gian, về những vấn đề chủ quan và khách quan” (Hoàng Lê
Minh (2005), Công nghệ thông tin và con người, NXB Văn hóa thông tin).
Công nghệ thông tin (CNTT):
Đánh giá
Trong giáo dục, khi nói đến vấn đề đánh giá có lẽ hầu hết các nhà khoa học,
các nhà giáo dục đều thừa nhận đó là một phạm trù của lý luận dạy học và là một
lĩnh vực vô cùng quan trọng. Có nhiều định nghĩa về đánh giá và tùy thuộc vào
mỗi cấp độ đánh giá, đối tượng, mục đích đánh giá mà mỗi định nghĩa thiên về một
khía cạnh nào đó của lĩnh vực cần đánh giá.
Đánh giá được hiểu là một quá trình hình thành những nhận định, những
phán đoán về thực trạng dựa vào sự phân tích thông tin thu được trên cơ sở đối
chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định
thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công
việc.
Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lý giải kịp thời, có hệ thống
những thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu
quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu giáo dục làm cơ sở cho những chủ trương, biện
pháp và hành động giáo dục tiếp theo.
Đánh giá là việc nhận định sự xứng đáng của một cái gì đó, chẳng hạn việc
đánh giá một chương trình, một nhà trường, một chính sách. Lượng giá thành quả
học tập hay năng lực của người học thường là các thành tố của đánh giá giáo dục.
Đánh giá có thể là định lượng dựa vào con số hoặc định tính dựa vào các ý kiến và
giá trị.
Như vậy, xét tương quan giữa kiểm tra và đánh giá trong quá trình kiểm tra,
đánh giá kết quả giáo dục, chúng ta thấy kiểm tra là cách thức, là công cụ thực
Trang 6/49
Bùi Thị Ngọc Nga - “Sáng kiến kinh nghiệm” 2013-2014
hiện, còn đánh giá là kết quả, là mục đích. Do vậy, trên thực tế, đánh giá thường
được dùng như một hình thức gọi tắt của thuật ngữ kiểm tra đánh giá. Và nhiều khi
từ “đánh giá” được dùng thay thế để chỉ hoạt động kiểm tra. Tuy nhiên, không có
trường hợp dùng từ “kiểm tra” để chỉ hoạt động “đánh giá”.
II.4. Lý do thực tiễn
Giáo dục và Đào tạo ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm nhiều hơn,
tạo.
Trong quá trình giáo dục và đào tạo nói chung, quá trình dạy học nói riêng,
việc tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là khâu hết sức quan
trọng. Nó vừa là động lực, vừa là nhân tố quản lý, để nâng cao chất lượng dạy và
học trong các nhà trường. Nếu coi quá trình dạy học là một hệ thống, thì kiểm tra
đánh giá là khâu đóng vai trò tích cực trong việc điều chỉnh hệ thống, là động lực
để đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp quản lý. Theo lý thuyết dạy học
hiện đại, đánh giá kết quả học tập của học sinh trước hết nhằm tìm hiểu quá trình
hoạt động học tập của người học. Việc đánh giá chính xác mức độ kiểm tra đánh giá
Trang 7/49
Bùi Thị Ngọc Nga - “Sáng kiến kinh nghiệm” 2013-2014
của học sinh là cơ sở quan trọng để có những quyết định đúng đắn trong dạy học,
nâng cao chất lượng đào tạo.
Nhiệm vụ cơ bản của kiểm tra đánh giá là tìm công cụ đánh giá hiệu quả
của hoạt động đào tạo, qua đó nhằm phát hiện kịp thời, điều chỉnh những lệch lạc,
cung cấp những thông tin phản hồi, giúp giáo viên, học sinh điều chỉnh kế hoạch,
phương pháp dạy học, giúp các cấp quản lý giáo dục có những biện pháp quản lý
phù hợp.
Sự cần thiết kiểm tra - đánh giá
- Đối với CBQL:
+ Kiểm tra hoạt động học tập của học sinh trong trường, nếu thực hiện tốt sẽ giúp
nhà quản lý thu thập thông tin phản hồi về tình hình học tập, quá trình phấn đấu
rèn luyện cũng như những năng lực tiềm tàng của học sinh nhằm cung cấp những
dữ liệu giá trị cho hoạch định đào tạo và ra quyết định (kịp thời điều chỉnh hệ
thống các tác động quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường).
+ Tổ chức kiểm tra tốt không chỉ giúp nhà quản lý đánh giá chính xác quá trình
hoạt động sư phạm, mà qua đó còn giúp chủ thể quản lý tự kiểm tra tính hiệu quả
của các quyết định quản lý.
- Đối với người dạy:
Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy phù hợp với đào tạo, thông qua kiểm
giáo dục.
- Web Portal và công nghệ portal.
- Tìm hiểu phần mềm MNM Moodle để hiện thực cổng điện tử và xây dựng
ứng dụng mở rộng (giảm chi phí cho trường).
- Cơ cấu tổ chức và quản lý tại trường phổ thông tổ chức thông tin và phân
quyền người dùng trên Moodle.
- Khảo sát hiện trạng sử dụng internet của học sinh và giáo viên tại trường phổ
thông.
- Tìm hiểu hệ lập luận dựa trên tình huống giải thuật k-NN để tích hợp vào
ứng dụng mở rộng nhằm cho phép đánh giá kết quả bài kiểm tra của học
sinh và đưa ra các nhận xét, phương hướng học tập dựa trên các tình huống
xây dựng bởi các giáo viên. Mặt khác cho phép học sinh làm bài kiểm tra
chọn nghề.
II.6. Thực trang ứng dụng CNTT trong công tác quản lý của trường THPT
Vĩnh Cửu
Trong những năm gần đây, có nhiều chủ trương ứng dụng CNTT trong các
đơn vị trường học và giảng dạy – học tập, đặc biệt là việc khuyến khích sử dụng
các phần mềm mã nguồn mở của Bộ Giáo Dục. Các ứng dụng CNTT trong giảng
dạy thì việc khai thác mạng internet như một phương tiện hiện đại hỗ trợ tác
nghiệp là một xu hướng thịnh hành. Học tập trực tuyến thu hút được sự quan tâm
ngày càng nhiều của các tổ chức giáo dục đào tạo, các đơn vị nghiên cứu triển khai
công nghệ thông tin, đặc biệt là sự quan tâm của các trường đại học và các viện
nghiên cứu.
Giới thiệu khái quát về trường
Trường THPT Vĩnh Cửu tọa lạc trên một khuôn viên rộng rãi, thoáng mát,
hiện nay trước sân trường còn có cây cổ thụ già. Địa chỉ hiện tại của trường: Ấp 1,
xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Cùng với bao chặng đường, với bao thế hệ, ngôi trường Huyện ban đầu được
tiếp nhận từ cơ sở vật chất của UBND huyện Vĩnh Cửu. Đến năm 2002, được sự
quan tâm của các cấp ủy, ban ngành, ngôi trường THPT Vĩnh Cửu được xây dựng
Giáo viên môn Anh 9
Giáo viên môn CN 4
Giáo viên môn TD-QP 7
Giáo viên môn GDCD 3
Giáo viên môn Tin học
Tổng số giáo vên:
4
80
- Về học sinh:
+ Tuyển sinh lớp 10 năm học 2013 – 2014: Nhà trường tổ chức xét tuyển,
điểm trúng tuyển: 29,5. Tổng số học sinh trúng tuyển: 525.
+ Tổng số học sinh: 1487
Khối 10: 505
Khối 11: 496
Khối 12: 486
Thuận lợi và khó khăn:
* Về thuận lợi:
+ Đơn vị được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, sâu sát, kịp thời của Sở
GD&ĐT Đồng Nai, Huyện uỷ, UBND huyện Vĩnh Cửu.
+ Đội ngũ giáo viên trẻ, năng động, nhiệt tình trong giảng dạy và giáo dục
học sinh. Phương tiện, thiết bị dạy học khá đầy đủ.
+ Học sinh phần lớn ngoan, hiền và cố gắng trong học tập.
+ Chính quyền địa phương, Ban đại diện CMHS quan tâm phối hợp chặt chẽ
với nhà trường trong quản lý, giáo dục học sinh
* Về khó khăn:
+ Tuyển sinh đầu vào chất lượng thấp.
+ Trường chưa đầy đủ các phòng học chức năng.
+ Sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, một số CMHS thiếu sự
quan tâm và hợp tác với nhà trường trong việc giáo dục học sinh.
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM HỌC 2013 – 2014
HS
HỌC LỰC
GIỎI KHÁ TB YẾU KÉM
SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL
10 505 48 9,5% 103 20,5% 210 41,5% 141 27,9% 3 0,6%
11 496 50 10,1% 128 25,8% 208 41,9% 110 22,2%
12 486 32 6,6% 177 36,4% 240 49,4% 37 7,6%
1487 130 8,7% 408 27,4% 658 44,3% 288 19,4% 3 0,2%
* Kết quả kỳ thi HSG cấp tỉnh khối 10,12
- Thi học sinh giỏi tỉnh đạt 16 giải
- Thi học sinh giỏi cấp trường đạt: 17 giải
- Thi kể chuyện "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh" do Sở GD tổ chức đạt giải KK
*Thành tích trong giảng dạy của giáo viên:
Trang 11/49
KHỐI
TỔNG
HS
HẠNH KIỂM
TỐT KHÁ TB YẾU
SL TL SL TL SL TL SL TL
10 505
394 78% 95 18, 9% 13 2,6% 3 0,5%
11
496
404 81.4% 74 14,9% 16 3,2% 2 0,5%
12
486 465 91,7% 21 4,1%
1487 1263 84,9% 190 12,8% 28 1,9% 5 0,3%
Bùi Thị Ngọc Nga - “Sáng kiến kinh nghiệm” 2013-2014
Trong những năm qua, bằng nhiều nguồn lực khác nhau như Hiệu trưởng nhà
trường đã tham mưu với Ủy ban nhân dân Huyện Vĩnh Cửu thực hiện chủ trương
kiên cố hóa trường học, phát huy sức mạnh toàn dân, tăng cường cơ sở hạ tầng
CNTT của trường. Hầu hết các máy tính ở các phòng ban trong trường và phòng
thực hành của học sinh đã được kết nối internet.
Đội ngũ giáo viên trường đa số là giáo viên trẻ nên rất nhiệt tình tham gia
soạn bài giảng có ứng dụng CNTT.
Việc quản lý qua mạng của trường trong năm học 2012-2013 thông qua hệ
thống website đã mang lại những hiệu quả cao trong công tác quản lý và điều hành
của nhà trường:
- Cho phép giáo viên, học sinh, cán bộ quản lý có thể làm việc ở mọi nơi, mọi
lúc chỉ cần máy tính có kết nối Internet.
- Cha mẹ học sinh có thể biết được thông tin của nhà trường và kết quả học tập
của con em mọi lúc, mọi nơi thông qua Internet hoặc qua tin nhắn điện thoại di
động.
Trang 12/49
Bùi Thị Ngọc Nga - “Sáng kiến kinh nghiệm” 2013-2014
- Các cấp quản lý như Bộ giáo dục, Sở giáo dục có thể nắm được tình hình, số
liệu thống kê của các nhà trường một cách nhanh chóng, kịp thời. Thông qua sử
dụng phần mềm PMIS và VMIS nên cơ sở dữ liệu thống nhất, đồng bộ, dễ đảm
bảo an toàn.
- Khi triển khai hệ thống quản lý qua mạng, trường đã tiết kiệm đáng kể trong
chi phí xây dựng, sửa chữa, nâng cấp phần mềm (sử dụng phần mềm mã nguồn
mở).
Khó khăn
- Việc triển khai quản lý qua mạng internet cũng nảy sinh một số vấn đề: Đòi
hỏi phải có hạ tầng công nghệ thông tin đủ mạnh, triển khai đồng bộ ở các
cấp, phải có sự chỉ đạo thống nhất từ trên xuống, cán bộ quản lý, giáo viên,
nhân viên phải có trình độ tin học nhất định.
- Một số giáo viên chưa hiểu đầy đủ về công tác ứng dụng CNTT trong giảng
Tôi chọn giải pháp phần mềm nguồn mở Moodle để xây dựng trang web cho
trường THPT Vĩnh Cửu dựa trên các cơ sở sau:
Trang 13/49
Bùi Thị Ngọc Nga - “Sáng kiến kinh nghiệm” 2013-2014
- E-learning ngày càng phổ biến, là xu thế phát triển tất yếu tại các trường phổ
thông. Moodle là một e-learning portal, là sản phẩm được phát triển cho mục
tiêu giáo dục.
- Moodle tích hợp sẵn các ứng dụng như: quản lý tin tức, diễn đàn, các dịch
vụ download/upload tập tin, đọc tin RSS, … và cho phép phát triển mở rộng
thêm. Các chức năng này cho phép tùy biến Moodle thành một cổng thông tin
cung cấp các thông tin, hoạt động của trường phổ thông, tổ chức các nguồn tin
tức từ các trang web khác.
- Moodle được phát triển trên nền tảng PHP quen thuộc và rộng rãi trên
internet.
III.1.2. Giới thiệu phần mềm mã nguồn mở
Phần mềm nguồn mở (mã nguồn mở) là phần mềm với mã nguồn được công
bố và sử dụng một giấy phép nguồn mở. Giấy phép này cho phép bất cứ ai cũng có
thể nghiên cứu, thay đổi và cải tiến phần mềm, và phân phối phần mềm ở dạng
chưa thay đổi hoặc đã thay đổi, ví dụ Giấy phép công cộng GNU (GPL) [9]. Giấy
phép nguồn mở cho phép tác giả điều chỉnh cách công chúng truy cập vào nguồn
của phần mềm.
Moodle (viết tắt của Modular Object-Oriented Dynamic Learning
Environment) được sáng lập năm 1999 bởi Martin Dougiamas, là một hệ thống
quản lý học tập (Learning Management System - LMS hoặc người ta còn gọi là
Course Management System hoặc VLE - Virtual Learning Environment) mã nguồn
mở (do đó miễn phí và có thể chỉnh sửa được mã nguồn), cho phép tạo các khóa
học trên mạng Internet hay các website học tập trực tuyến.
- Moodle nổi bật là thiết kế hướng tới giáo dục, dành cho những người làm trong
lĩnh vực giáo dục.
- Moodle rất dễ dùng với giao diện trực quan, giáo viên chỉ mất một thời gian
hồi dựa trên phương pháp lập luận theo tình huống CBR (Case – Base
Reasoning) và thuật toán K-NN (K – Nearest Neightbors)
Vai trò của đánh giá, định hướng
Quá trình học tập, kiểm tra cần sự tương tác của nhiều bên, trong đó việc
đánh giá kết quả học tập là cần thiết vì thông qua đó học sinh biết được sự tiến bộ
trong học tập. Bên cạnh đó, việc định ra hướng học tập sẽ giúp cho học sinh trao
dồi kiến thức. Việc đánh giá và định hướng phù hợp với từng trường hợp sẽ làm
học sinh học tập hăng say hơn.
Hệ thống đánh giá, định hướng kiểm tra, chọn nghề phù hợp
Xét LMS Moodle, hệ thống này cho phép phản hồi dựa trên các bài kiểm tra
với khả năng:
- Phản hồi trên từng đáp án trả lời của câu hỏi: khi thí sinh chọn đáp án, phản hồi
sẽ xuất hiện trên đáp án vừa được chọn.
- Phản hồi trên từng câu hỏi: khi thí sinh trả lời câu hỏi đúng hoặc sai, phản hồi
tương ứng xuất hiện.
- Trên toàn bộ bài kiểm tra: khi hoàn tất bài kiểm tra, tùy theo các tỉ lệ phần trăm
điểm đạt được một phản hồi sẽ xuất hiện theo tỉ lệ đó, do người lập
bài kiểm tra tạo ra.
Với các cách đánh giá trên sẽ gặp khó khăn trong việc đánh giá những motif
kết quả học tập của học sinh, ví dụ một bài kiểm tra có 10 câu hỏi trong đó, học
sinh hỏng kiến thức A,B thì thường có điểm kém ở các câu hỏi 1,2,5,6 chẳng hạn;
những học sinh có năng khiếu C,D thường có điểm cao ở câu 9, 10 chẳng hạn. Tức
là hệ thống Moodle hiện tại không cho phép đánh giá theo trường hợp. Chính vì
vậy cho chọn giải pháp phát triển việc đánh giá, định hướng học tập cho học sinh
theo từng trường hợp dựa trên kiến thức về hệ lập luận theo tình huống CBR
(Case-base reasoning), sử dụng giải thuật k-NN để đánh giá độ tương tự giữa các
tình huống.
Trang 15/49
Bùi Thị Ngọc Nga - “Sáng kiến kinh nghiệm” 2013-2014
Hoạt động hệ thống đánh giá dựa trên CBR:
11
, x
12
, …, x
1n
và X
2
= x
21
, x
22
,
…, x
2n
được xác định bằng công thức:
∑
=
−=
n
i
ii
xxXXd
1
2
2121
)(),(
Ngoài hàm khoảng cách Euclid, các hàm khoảng cách khác như
Mahalanobis, Hamming, … được sử dụng tùy vào đặc trưng dữ liệu của các thuộc
tính x
i
em chưa nắm rõ các kiến thức trước đó đã học ở lớp 10, đó là kiến thức về ngôn
ngữ lập trình, thuật toán, và các kiến thức liên quan trong đó chủ yếu là toán học
gồm tính toán số học và logic.
Bài trắc nghiệm xây dựng gồm 4 chủ đề, chia thành 10 câu hỏi trắc nghiệm:
ngôn ngữ lập trình, thuật toán, và toán học. Mức độ các chủ đề này là vận dụng,
nội dung các câu hỏi thuộc kiến thức đã học và tích lũy trong quá trình học các
môn học. Ma trận đề, ngân hàng câu hỏi và đáp án xem thêm phụ lục.
IV.1.1. Xây dựng các tình huống phản hồi
Mục tiêu bài kiểm tra chất lượng nhằm đánh giá được kiến thức đã học của
học sinh và đưa ra các phản hồi cho các học sinh bị mất kiến thức để rèn luyện
thêm khi học môn Tin học 11.
Dựa vào mục tiêu và ma trận đề, bài kiểm tra tập trung đánh giá và đưa giải
pháp định hướng học tập cho các trường hợp sau:
- Mất kiến thức căn bản (kiến thức về thuật toán và ngôn ngữ lập trình),
giải pháp đưa ra là ôn lại kiến thức căn bản và bài tập rèn luyện.
- Kiến thức căn bản đạt nhưng vận dụng kém, giải pháp là rèn luyện bài
tập thêm.
- Khả năng vận dụng toán học kém, giải pháp đưa ra phải dựa trên bộ
môn liên quan. Trong bài kiểm tra này, Tôi chọn giải pháp là rèn luyện bài
tập thêm.
- Học sinh đạt khi có điểm trung bình từ 5 trở lên.
- Học sinh xuất sắc khi có điểm cao nhất.
Các tình huống tạo ra:
TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tổng Phản hồi Định hướng
1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Hỏng
nhiều kiến
thức
Đăng ký khóa
học Thuật toán
sau đó là khóa
trình
6 0 0 0 0 2.5 Vận dụng
toán kém
Ôn tập thêm các
bài tập về toán,
theo học các
khóa học toán
của Thầy …
7 7.5 Đạt
8 10 Xuất sắc
Giải thích một số tình huống:
- Tình huống 1: tất cả các câu đều 0 điểm nên thông tin phản hồi là hỏng
nhiều kiến thức và định hướng học là phải đăng ký học lại.
- Tình huống 2: mất kiến thức ở phần thuật toán nên điểm câu 1 là 0, kèm
theo là tổng điểm thấp trong khoảng từ 0 đến 5 nên tổng điểm là 2.5. Các
tình huống có tổng điểm lớn hơn 5 được xem là đạt.
- Tình huống 8: điểm gần 9-10 được xem là xuất sắc, 8 điểm vẫn xem là đạt
vì nó gần với 7.5 điểm hơn.
IV.1.2. Triển khai
Nhập bài kiểm tra, nhập câu hỏi. Sau đó tạo activity k-NN feedback và nhập
các tình huống.
Nhập câu hỏi cho trắc nghiệm khảo sát chất lượng
Trang 18/49
Bùi Thị Ngọc Nga - “Sáng kiến kinh nghiệm” 2013-2014
Các tình huống cho bài kiểm tra
Một số kết quả phản hồi kết quả kiểm tra
IV.2. Trắc nghiệm nghề nghiệp
Xây dựng câu hỏi: câu hỏi nhiều lựa chọn, mỗi lựa chọn đều có điểm. Có 4
lựa chọn cho một câu hỏi, như vậy một câu hỏi có thang điểm là 1, điểm các đáp
án a-b-c-d lần lượt là 0.25-0.5-0.75-1.0.