Mét sè biÖn ph¸p GI¸O DôC Kü N¡NG SèNG
TRONG M¤N §¹O §øc líp 3
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, nội dung giáo dục kỹ năng sống đã được nhiều quốc gia trên thế
giới đưa vào dạy cho học sinh trong các trường phổ thông dưới nhiều hình thức
khác nhau. Chương trình hành động Dakar về Giáo dục cho mọi người đã đặt ra
trách nhiệm cho mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận với
chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp và kỹ năng sống cần được coi như
một nội dung của chất lượng giáo dục.
Ở Việt Nam, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng
nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp
ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, giáo dục phổ
thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ
XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kỹ năng sống đó là: “Học để biết Học để làm,
Học để tự khẳng định mình và Học để cùng chung sống”. Mục tiêu giáo dục toàn
diện thế hệ trẻ là trang bị kiến thức, trang bị những năng lực cần thiết cho các em
học sinh làm cho các em: Giỏi về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về
tâm hồn, trong sáng về đạo đức.
Nội dung giáo dục kỹ năng sống được tích hợp trong một số môn học và hoạt
động giáo dục có tiềm năng trong trường phổ thông. Việc giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh phổ thông còn được thực hiện thông qua nhiều chương trình, dự án
như: Giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục phòng chống HIV/AIDS, giáo dục
phòng chống ma túy, giáo dục phòng tránh tai nạn thương tích, Đặc biệt, rèn luyện
kỹ năng sống cho học sinh được xác định là một trong những nội dung cơ bản của
phong trào thi đua: “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các
trường phổ thông, giai đoạn 2008 - 2013 do Bộ giáo dục và đào tạo chỉ đạo.
Học sinh Tiểu học là những học sinh ở lứa tuổi nhi đồng, các em mới đang
hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách, những thói quen cơ bản chưa
có tính ổn định mà đang được hình thành và củng cố. Do đó việc giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh Tiểu học nhằm giúp các em có thể sống một cách an
thói quen ứng xử có văn hóa, hiểu biết và chấp hành pháp luật. Giúp học sinh có
đủ khả năng tự thích ứng với môi trường xung quanh, tự chủ, độc lập, tự tin khi
giải quyết công việc.
2
3. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về quy mô: Là vấn đề giáo dục kỹ năng sống trong môn Đạo đức
lớp 3 trường Tiểu học Phấn Mễ 1.
- Phạm vi về không gian: Toàn bộ học sinh lớp 3 trường Tiểu học Phấn Mễ 1.
- Phạm vi về thời gian: Từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 5 năm 2013.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông
qua môn Đạo đức lớp 3.
- Nghiên cứu thực trạng của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 3
trường Tiểu học Phấn Mễ 1.
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 3
trường Tiểu học Phấn Mễ 1.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết: Thông qua đọc tài liệu, sách
báo, tạp chí và các tài liệu khác có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp quan sát:
+ Quan sát học sinh: Thông qua các giờ học môn Đạo đức (lời nói, hành
động, nét mặt, cử chỉ, ).
+ Quan sát giáo viên: Dự giờ và quan sát giờ dạy Đạo đức của giáo viên.
- Phương pháp đàm thoại: Trực tiếp trò chuyện với giáo viên, học sinh để
tìm hiểu nhận thức như thế nào về vai trò, ý nghĩa của kỹ năng sống, việc thực
hiện các kỹ năng sống như thế nào trong môn Đạo đức lớp 3.
- Phương pháp điều tra: Lấy ý kiến của giáo viên, học sinh để thu thập
thông tin cần nghiên cứu.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Gặp các giáo viên có kinh nghiệm,
các nhà quản lý giỏi xin ý kiến, trao đổi về những vấn đề có liên quan đến đề tài.
* Từ tháng 02/2013 đến tháng 4/2013: Giai đoạn soạn thảo và viết đề tài
+ Viết nháp.
+ Sửa bản thảo sau khi tiếp thu ý kiến của đồng nghiệp, chuyên gia,
+ Viết sạch công trình.
+ Bảo vệ ở hội đồng khoa học trường.
+ Hoàn chỉnh văn bản sau khi tiếp thu ý kiến của hội đồng khoa trường.
4
PHẦN II: NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
I. Lịch sử của vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học:
Kỹ năng sống và vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho con người đã xuất hiện
và được nhiều người quan tâm từ xa xưa như học ăn, học nói, học gói, học mở,
học dăm ba chữ để làm người, học để đối nhân xử thế, học để đối phó với thiên
nhiên. Đó là những kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp
với đời sống và giai cấp của xã hội ở những thời điểm khác nhau.
Kỹ năng sống có chủ yếu trong các chương trình hành động của UNESCO
(Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc), WHO (tổ chức y tế
thế giới), UNICEF (quỹ Nhi đồng Liên Hiệp quốc) cũng như trong các chương
trình hành động của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước. Trong tài liệu giáo
dục kỹ năng sống, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các kỹ năng của từng
loại hoạt động, mô tả chân dung các kỹ năng cụ thể và các điều kiện, quy trình
hình thành và phát triển hệ thống các kỹ năng đó.
Giáo dục kỹ năng sống ở Lào được bắt đầu quan tâm từ năm 1997 với cách
tiếp cận nội dung quan tâm đến giáo dục phòng chống HIV/AIDS được tích hợp
trong chương trình giáo dục chính quy. Năm 2001 giáo dục kỹ năng sống ở Lào
được mở rộng sang các lĩnh vực như giáo dục dân số, giới tính, sức khỏe sinh
sản, vệ sinh cá nhân, giáo dục môi trường, v.v…
Giáo dục kỹ năng sống ở Campuchia được xem xét dưới góc độ năng lực
sống của con người, kỹ năng làm việc vì vậy giáo dục kỹ năng sống được triển
một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những
tình huống trong cuộc sống.
- Theo chương trình giáo dục kỹ năng sống của Quỹ nhi đồng Liên hiệp
quốc (UNIEF, 1996), kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành
hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình
thành thái độ kỹ năng.
- Theo tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO), kỹ
năng sống gắn với bốn trụ cột của giáo dục, đó là: “Học để biết” gồm các kỹ năng
6
tư duy (tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức
được hậu quả); “Học để làm người” gồm các kỹ năng cá nhân (ứng phó với căng
thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,…); “Học để sống với người khác”
gồm các kỹ năng xã hội (giáo tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc
theo nhóm, thể hiện sự cảm thông); “Học để làm” gồm kỹ năng thực hiện công việc
và các nhiệm vụ (kỹ năng đặt mục tiêu, kỹ năng đảm nhận trách nhiệm,…)
- Các nhà giáo dục Thái Lan xem kỹ năng sống là thực tính hay năng lực
tâm lý xã hội giúp cá nhân đương đầu với tất cả tình huống hang ngày một cách
có hiệu quả và có thể đáp ứng với hoàn cảnh tương lai để có thể sống hạnh phúc.
- Người Ấn Độ hiểu kỹ năng sống là những khả năng tăng cường sự lành
mạnh về tinh thần và năng lực của con người, gồm có: Kỹ năng giải quyết vấn
đề, tư duy phê phán, tư duy sang tạo, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đàm phán, kỹ
năng đối phó với tình trạng căng thẳng, kỹ năng từ chối, kỹ năng kiên định, hài
hòa và kỹ năng ra quyết định.
Từ những quan niệm trên, có thể thấy kỹ năng sống bao gồm một loạt các
kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Bản chất của
kỹ năng sống là kỹ năng tự quản lý bản than và kỹ năng xã hội cần thiết để cá
nhân tự lực trong cuộc sống, học tập, làm việc hiệu quả. Nói cách khác, kỹ năng
sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với
những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tich cực trước các tình huống
của cuộc sống.
nhau mà có liên quan chặt chẽ đến nhau.
III. Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong
nhà trường:
3.1.Kỹ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội:
Thực tế cho thấy, có khoảng cách giữa nhận thức và hành vi của con
người, có nhận thức đúng chưa chắc đã có hành vi đúng.
Ví dụ: Nhiều người biết hút thuốc lá là có hại cho sức khỏe, có thể dẫn đến
ung thư vòm họng, ung thư phổi,…nhưng họ vẫn hút thuốc; có những người là
luật sư, công an, thẩm phán,…có hiểu biết rất rõ về pháp luật nhưng vẫn vi phạm
pháp luật;…Đó chính là vì họ thiếu kỹ năng sống.
8
Có thể nói kỹ năng sống chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến
thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cự, lành mạnh. Người có kỹ năng
sống phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử,
giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp; họ thường thành công hơn trong
cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình. Ngược lại, người
thiếu kỹ năng sống thường bị vấp váp, dễ bị thất bại trong cuộc sống. Ví dụ:
Người không có kỹ năng ra quyết định sẽ dễ mắc sai lầm hoặc chậm trễ trong
việc đưa ra quyết định và phải trả giá cho quyết định sai lầm của mình; người
không có kỹ năng ứng phó với căng thẳng sẽ hay bị căng thẳng hơn những người
khác và thường có cách ứng phó tiêu cực, làm ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe,
học tập, công việc của bản thân. Hoặc người không có kỹ năng giao tiếp sẽ khó
khăn hơn trong xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh, sẽ
khó khăn hơn trong hợp tác cùng làm việc, giải quyết những nhiệm vụ chung.
Không những thúc đẩy sự phát triển cá nhân, kỹ năng sống còn góp phần
thúc đẩy sự phát triển của xã hội, gúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội và bảo vệ
quyền con người. Việc thiếu kỹ năng sống của cá nhân là một nguyên nhân làm
nảy sinh nhiều vấn đề xã hội khác như: nghiện rượu, nghiện ma túy, mại dâm, cờ
bạc…Việc giáo dục kỹ năng sống sẽ thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội
tích cực, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội. Giáo dục kỹ năng sống còn
nhằm giáo dục học sinh bước đầu biết cách sống và ứng xử phù hợp với các
chuẩn mực xã hội. Dạy học môn Đạo đức kết hợp hài hòa giữa việc trang bị kiến
thức với bồi dưỡng tình cảm, niềm tin và hình thành kỹ năng, hành vi cho học
sinh. Chương trình môn Đạo đức bao gồm một hệ thống các chuẩn mực hành vi
đạo đức và pháp luật cơ bản, phù hợp với bản thân, với người khác, với công
việc, với cộng đồng, đất nước, nhân loại, với môi trường tự nhiên.
Bản thân nội dung môn Đạo đức đã chứa đựng nhiều nội dung liên quan đến
kỹ năng sống như: kỹ năng giao tiếp, ứng xử (với ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn
bè, thầy cô giáo và mọi người xung quanh); kỹ năng bày tỏ ý kiến của bản thân, kỹ
năng ra quyết định và giải quyết vấn đề phù hợp với lứa tuổi (trong các tình huống ở
gia đình, nhà trường, xã hội); kỹ năng giữ gìn vệ sinh cá nhân, kỹ năng tự phục vụ
10
và tự quản lý thời gian, kỹ năng xử lý thông tin về các vấn đề trong thực tiễn đời
sống ở nhà trường, cộng đồng có liên quan đến chuẩn mực hành vi đạo đức.
Khả năng giáo dục kỹ năng sống của môn Đạo đức không những thể hiện ở
nội dung môn học mà còn được thể hiện ở phương pháp dạy học đặc trưng của
môn học. Để các chuẩn mực đạo đức, pháp luật xã hội trở thành tình cảm, niềm tin,
hành vi và thói quen của học sinh, phương pháp dạy học môn Đạo đức đã được đổi
mới theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Quả trình
dạy học tiết đạo đức là quá trình tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động học
tập phong phú, đa dạng như: kể chuyện theo tranh; quan sát tranh ảnh, băng hình,
tiểu phẩm; phân tích, xử lý tình huống; chơi trò chơi, đóng tiểu phẩm, múa hát, đọc
thơ, vẽ tranh, tô màu tranh,…Thông qua các hoạt động đó, sự tương tác giữa giáo
viên - học sinh, học sinh - giáo viên được tăng cường và học sinh có thể tự phát
hiện và chiếm lĩnh tri thức mới. Các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực như:
theo nhóm, theo dự án, nghiên cứu trường hợp điển hình, giải quyết vấn đề, đóng
vai, trò chơi, động não, hỏi chuyên gia,…và chính thông qua việc sử dụng các
phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực đó, học sinh đã được tạo cơ hội để thực
hành, trải nghiệm nhiều kỹ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi.
3.4. Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống trong môn Đạo Đức
- Có 12 học sinh giỏi cấp trường; 10 học sinh tiên tiến.
Với những thành tích nổi bật trên, đội ngũ giáo viên của khối 3 đều thường
xuyên quan tâm đến chất lượng dạy và chất lượng giáo dục toàn diện học sinh, đặc
biệt quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Đây là một trong những
yếu tố thuận lợi cho việc triển khai chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
II. Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong môn Đạo đức lớp 3:
2.1. Nhận thức của giáo viên trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
Gặp trực tiếp 3 giáo viên chủ nhiệm của 3 lớp nêu trên tôi nhận thấy cả 3
nhà giáo đều có ý kiến rằng: giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là việc làm rất
12
cần thiết trong xã hội hiện nay, nhằm giúp học sinh có thể thích ứng với cuộc
sống không ngừng biến đổi và chủ động sáng tạo trước những thay đổi của môi
trường sống.
Trong cuộc sống hàng ngày mỗi chúng ta phải đối mặt với rất nhiều tình
huống, có những tình huống rất đơn giản nhưng ngược lại có những tình huống lại
rất phức tạp đòi hỏi con người ta phải có một kỹ năng sống tối thiểu. Qua điều tra
nghiên cứu nhận thức của giáo viên về vai trò, ý nghĩa của kỹ năng sống có 100%
giáo viên đều đánh giá kỹ năng sống có vai trò, ỹ nghĩa rất quan trọng cho mỗi cá
nhân học sinh. Khi tôi tiến hành phỏng vấn cô giáo Bàng Thị Hoàng Hạnh - Khối
trưởng khối lớp 3 cô trả lời rằng: Trong hoàn cảnh hội nhập hiện nay và hướng tới
thực hiện 4 mục tiêu lớn mà giáo dục đề ra đó là:
- Học để biết, đòi hỏi người học phải giỏi về tri thức.
- Học để làm, đòi hổi người học không những chỉ giỏi về tri thức mà còn
thành thạo về kỹ năng thực hành.
- Học để chung sống, đòi hỏi người học phải có kỹ năng sống, kỹ năng hòa
nhập, kỹ năng hợp tác.
- Học để làm người, đòi hỏi người học phải có sự hội tụ của tất cả các mục
tiêu nêu trên.
Do việc trang bị cho học sinh vốn tri thức về kỹ năng sống là vấn đề rất quan
trọng cần được quan tâm ngay từ khi trẻ mới sinh và thường xuyên phát triển trong
Nhìn vào bảng số liệu tôi thấy 57 học sinh (chiếm 64.1%) các em rất thích tham
gia xử lý những tình huống trong bài học đạo đức, có 20.2% các em thích tham gia xử
lý tình huống, như vậy có thể khẳng định phần lớn học sinh lớp 3 đều thích và rất thích
tham gia xử lý tình huống. Đây là một thông tin rất quan trọng bởi hiệu quả của việc
giáo dục kỹ năng sống nói chung, kỹ năng xử lý tình huống nói riêng phụ thuộc không
nhỏ vào hứng thú tập luyện và rèn luyện của học sinh đặc biệt lớp 3A có 86.7% học
sinh thích và rất thích tham gia xử ký tình huống chiếm tỉ lệ cao nhất trong lớp 3. Tuy
nhiên bên cạnh đó vẫn còn tỉ lệ học sinh có thái độ không thích còn chiếm tỉ lệ 3.4%,
như vậy hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho họ sinh chưa được các em tham gia một
cách triệt để với thái độ tích cực và tự giác. Khi được hỏi vì sao mà các em có nhận
thức như vậy? Các em trả lời rằng: Chúng em rất thích tham gia xử lý tình huống trong
các bài học đạo đức nhưng do lớp em tương đối đông nên chúng em ít được trực tiếp
tham gia nên chỉ thấy bình thường thôi. Bên cạnh đó còn có một số nguyên nhân học
sinh không có thái độ tích cực tham gia xr lý tình huống là do thái độ ngại tham gia,
biết nhưng không dám nói, nhút nhát khi đứng trước đông người.
Để hiểu sâu về thái độ của các em tôi đã tiến hành khảo sát câu hỏi: Mức độ
tham gia xử lý tình huống thông qua dạy học môn Đạo đức được thực hiện như thế
nào? Kết quả thu được như sau:
Mức độ
Lớp 3A Lớp 3B Lớp 3C Tổng cộng
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
14
Thường xuyên
b. Mục tiêu, nội dung môn Đạo đức gắn liền với mục tiêu giáo dục kỹ năng sống.
c. Nội dung bài học Đạo đức có thể rút ra những kết luận về giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh.
15
d. Các lí do khác.
Tóm lại, qua tìm hiểu thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 3
thông qua môn Đạo tôi có nhận xét như sau:
- Phần lớn giáo viên đều nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh, đa số giáo viên đều cho rằng cần thiết phải giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh một cách thường xuyên.
- Giáo viên đã quan tâm giáo dục kỹ năng sống cho học sinh nhưng phương
pháp, hình thức thực hiện còn hạn chế, đặc biệt là môi trường rèn luyện kỹ năng
sống cho học sinh chưa được quan tâm.
- Tính tự chủ trong việc xử lý tình huống chưa cao, học sinh còn thiếu tự tin,
nhút nhát khi xử lý tình huống, vì vậy phần lớn các em không tự quyết định mà phụ
thuộc vào ý kiến của bạn, nhóm bạn.
- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện kỹ năng sống của học sinh
chưa cao, thiếu tự tin do chưa có sự kết hợp giữa nhà trường - Gia đình trong việc
giáo dục kỹ năng sống. Gia đình phải đóng vai trò nền tảng để tiến hành giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh, nhưng thực tế cho thấy hầu hết các gia đình hiện nay chưa
quan tâm đến điều đó là ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh trong nhà trường. Do giáo viên chưa có thói quen rèn kỹ năng sống cho học
sinh trong các giờ lên lớp mà chủ yếu quan tâm tới việc trang bị kiến thức và một số
kỹ năng thực hành của nội dung chương trình dạy học đã xây dựng. Các hoạt động
ngoại khóa theo môn học nhằm giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ít được nhà
trường và giáo viên quan tâm.
Chương 3
MỘT SỐ BIỆN PHÁP VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
16
I. Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống trong môn Đạo đức lớp 3:
Môi trường hoạt động bao gồm cả môi trường vật chất và môi trường tinh thần.
Môi trường vật chất bao gồm tổng thể những yếu tố vật chất đảm bảo cho
các hoạt động được diễn ra một cách thuận lợi, như cấu trúc không gian, sự sắp
xếp, bố trí các đồ dung, trang thiết bị, phương tiện, tài liệu phục vụ cho các hoạt
động phong phú của học sinh trong quá trình học tập.
Môi trường tinh thần là những mối quan hệ, những tương tác xảy ra giữa các
chủ thể trong quả trình thực hiện các hoạt động học tập và rèn luyện bao gồm mối
quan hệ giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với học sinh và giữa học sinh với
nhiệm vụ của hoạt động. Môi trường góp phần tạo nên động cơ, mục đích, hứng
thú, phương tiện thực hiện hoạt động cho học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
tiến hành các hoạt động hình thành và phát triển kỹ năng sống cho học sinh.
Tạo môi trường hoạt động cho học sinh thực chất là quá trình đảm bảo
những điều kiện về vật chất và tinh thần cần thiết phục vụ cho việc thực hiện các
hoạt động của học sinh được diễn ra đat hiệu quả cao nhất. Việc tạo lập môi
trường hoạt động cho học sinh cần có sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng
giáo dục trong và ngoài nhà trường. Trong quá trình dạy học trên lớp, giáo viên
có thể tiến hành các kỹ thuật sau để tạo lập môi trường hoạt động cho học sinh:
- Thông báo cho học sinh kế hoạch của bài học, chương trình học, tiết học.
- Thiết lập các định hướng bài học, chương học, tiết học, mục tiêu rèn
luyện kỹ năng sống cho học sinh.
- Thông báo đề cương bài học một cách rõ ràng, cách thức tiến hành,
những nội dung sẽ được đề cập, những biện pháp cần tiến hành và các quy tắc cơ
bản cần tuân theo.
- Sử dụng phương pháp “Phá vỡ tảng băng”, hoặc “làm nóng” bằng cách cung
cấp những thông tin cho học sinh, đưa ra những tình huống giả định cho học sinh.
- Sử dụng các biện pháp như “tấn công não”, giải quyết các bài tập tình
huống hoặc sử dụng một mẩu chuyện hay một đoạn video, một hệ thống những
câu hỏi mang tính vấn đề,…nhằm kích thích hứng thú học tập của học sinh.
18
Trong các hoạt động dạy học môn Đạo đức cần phối hợp giữa các lực
- Bài tập dưới dạng một trò chơi đóng vai;
- Bài tập dưới dạng một tình huống cần xử lí;
- Bài tập dưới dạng một câu chuyện chưa có hồi kết đòi hỏi người đọc,
người nghe phải quyết định hay cách ứng xử của mình;
- Cũng có thể bài tập là một bài khảo sát xâm nhập thực tế hay viết một bài
luận sau khi quan sát thực tế.
Quy trình xây dựng bài tập thực hành và sử dụng bài tập thực hành:
Bước 1: Nghiên cứu mục tiêu, nôi dung bài học đạo đức để lựa chọn kỹ
năng sống cần tích hợp giáo dục:
- Giáo viên cần nắm vững mục tiêu bài đạo đưc: Về kiến thức, kỹ năng,
thái độ;
- Nắm vững nội dung cơ bản của bài học, các chủ đề trong chương trình
môn Đạo đức để tìm hiểu khả năng tích hợp nội dung kỹ năng sống cho học sinh.
- Xác định những nội dung cơ bản cho bài học cần thực hành nhằm củng
cố, vận dụng kiến thức để rèn luyện kỹ năng sống.
Bước 2: Lựa chọn hình thức để thực hiện bài tập thực hành.
Giáo viên căn cứ vào nội dung kiến thức của bài đạo đức để lựa chọn dạng
bài tập cho phù hợp. Các dạng bài tập giáo viên có thể lựa chọn là các bài tập sau:
- Bài tập dưới dạng trò chơi đóng vai;
- Bài tập dưới dạng xử lí tình huống;
- Bài tập dưới dạng viết tiếp câu chuyện chưa có hồi kết,…
Bước 3: Thiết kế câu chuyện có chứa đựng nội dung rèn luyện kỹ năng
sống phù hợp với nội dung bài học đạo đức.
Bài tập được lựa chọn phải có khả năng củng cố kiến thức bài học đạo đức
đồng thời phải rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Nội dung bài tập phải phù hợp
với đặc điểm trình độ nhận thức của học sinh, phù hợp với thời gian dành cho bài học.
Bước 4: Thực hiện tích hợp với nội dung của bài học trong phần tiết 2 của
bài học đạo đức là rèn kỹ năng, hành vi.
Bước 5: Đánh giá nhận xét kết quả tham gia thực hành kỹ năng hành vi của
học sinh và nhóm học sinh.
tranh ảnh thiết kế và sử dụng, các tình huống đóng vai phải phù hợp với cuộc
21
sống diễn ra của học sinh trong các mối quan hệ của các em ở gia đình, nhà
trường, xã hội. Giáo viên cần phải căn cứ vào mục tiêu nội dung bài học, căn cứ
vào kỹ năng sống cần rèn luyện và thực hành cho học sinh để lựa chọn phương
pháp dạy học trong các phương pháp sau và vận dụng nó một cách sáng tạo:
- Phương pháp động não; - Phương pháp nêu vấn đề;
- Phương pháp đóng vai; - Phương pháp dự án;
- Phương pháp trò chơi; - Phương pháp kể chuyện;
- Phương pháp thảo luận nhóm; - Phương pháp trực quan
- Phương pháp trực quan; - Phương pháp nêu gương.
Mỗi phương pháp dạy học trên đều có thế mạnh khác nhau trong việc khai
thác vốn sống, vốn kinh nghiệm của học sinh, nó có khả năng phù hợp với mục
tiêu và nội dung bài học đáp ứng với khả năng trong quá trình dạy học. Do đó
giáo viên có thể lựa chọn phương pháp và vận dụng các phương pháp dạy học
khác nhau đối với từng bài học nhằm tăng cường rèn luyện kỹ năng sống cho học
sinh. Điều kiện để đổi mới phương pháp dạy học môn Đạo đức theo hướng tăng
cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là:
- Giáo viên phải hiểu rõ đổi mới phương pháp dạy học là sự vận dụng phối hợp
một cách linh hoạt sáng tạo giữa phương pháp dạy học truyền thống với các phương
pháp dạy học hiện đại có có khả năng khai thác vốn sống, vốn kinh nghiệm của học sinh
- Giáo viên phải hình dung được quy trình rèn luyện kỹ năng sống cho học
sinh là phải được dựa trên cơ sở trang bị vốn kiến thức kinh nghiệm rồi mới tiến
hành rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.
- Giáo viên phải hướng dẫn được cho học sinh cách học tập, cách rèn luyện
kỹ năng sống và nội dung rèn luyện, cách thức tự kiểm tra, tự đánh giá.
- Giáo viên phải tạo được môi trường học tập, rèn luyện cho học sinh nhằm
thu hút học sinh tham gia một cách tích cực, sáng tạo.
Trong dạy học môn Đạo đức giáo viên cần tăng cường sử dụng các tình
huống hay bài tập thực hành nhằm tăng cường rèn luyện kỹ năng sống cho học
Kiểm tra, đánh giá là một khâu trong quá trình dạy học và giáo dục học
sinh. Kiểm tra, đánh giá nếu làm tốt sẽ tạo động lực cho quá trình dạy học và quá
trình giáo dục phát triển không ngừng. Giữa nội dung dạy học môn Đạo đức với
23
phương pháp kiểm tra, đánh giá có mối quan hệ mật thiết với nhau, khi nội dung
dạy học môn Đạo đức đổi mới theo hướng tích hợp nội dung giáo dục kỹ năng
sống thì phương pháp kiểm tra, đánh giá cần có sự thay đổi theo hương tích hợp
nhằm tạo động lực cho học sinh, kích thích học sinh tích cực học tập, rèn luyện
để không ngừng tự hoàn thiện nhân cách.
Mục tiêu đánh giá môn học phải gắn với mục tiêu đánh giá kỹ năng sống
cho học sinh. Vì vậy, chuẩn đánh giá, tiêu chí để nhận xét kết quả học tập môn
Đạo đức của học sinh lớp 3 phải gắn với kỹ năng sống. Phương pháp đánh giá,
nhận xét gắn liền với các phương pháp quan sát, thực nghiệm, trắc nghiệm, dự
án, nghiên cứu sản phẩm của học sinh đó là sản phẩm giao tiếp, ứng xử của học
sinh trong các mối quan hệ ở gia đình, nhà trường, xã hội. Tiến hành đánh giá
học sinh ở mọi lúc, mọi chỗ trong mọi mối quan hệ của học sinh ở gia đình, nhà
trường, xã hội.
Khi tiến hành kiểm tra, đánh giá giáo viên cần nắm vững quy chế kiểm tra,
đánh giá môn Đạo đức do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành. Giáo viên phải có
nhận thức đúng về tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, có kỹ
năng quan sát, nhận xét, thu thập thông tin về việc rèn luyện kỹ năng sống và rèn
luyện Đạo đức cho học sinh. Tích hợp tiêu chí đánh giá kỹ năng sống trong tiêu chí
đánh giá của môn học Đạo đức trong chương trình dạy học môn Đạo đức lớp 3.
Tóm lại, giữa các biện pháp giáo dục kỹ năng sống nêu trên có mối quan
hệ thống nhất với nhau, nó ràng buộc lẫn nhau, bổ sung kết quả cho nhau và là
điều kiện của nhau nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh tiểu học. Trong đó biện pháp thống nhất các lực lượng trong việc
tích hợp nội dung giáo dục kỹ năng sống qua dạy học môn Đạo đức, đổi mới
phương pháp dạy học môn Đạo đức theo hướng tăng cường giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh, thiết kế bài tập thực hành để rèn luyện kỹ năng sống cho học
3. Giáo viên ghi các công việc HS nêu thành các nhóm lên bảng.
4. Kết luận: Có rất nhiều việc ở nhà, ở trường, lớp mà các em có thể tự làm
lấy được. Chẳng hạn: Tự học, tự làm bài tập, rửa mặt, đánh răng và vệ sinh thân
thể; làm sạch, đẹp trường lớp, quét nhà, rửa ấm chén và các công việc gia đình
khác phù hợp với lứa tuổi…
2. Kết nối
Hoạt động 2: Xử lý tình huống
Mục tiêu: HS biết một biểu hiện của tự làm lấy việc của mình
25