TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA RỪNG HƯỚNG TỚI KINH TẾ XANH VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM - Pdf 25


1
TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA RỪNG
HƯỚNG TỚI KINH TẾ XANH VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Ở VIỆT NAM

Phạm Minh Thoa - Tổng cục Lâm nghiệp Tóm tắt
Nếu đơn giản hóa việc hiểu kinh tế xanh là "ăn sạch, uống sạch, thở sạch, ở sạch và an
toàn" thì rừng đóng vai trò rất tích cực cho kinh tế xanh vì nó giúp tạo ra môi trường sống trong
lành, an toàn cho con người và tất cả các sinh vật trên trái đất, hấp thụ và giảm nhẹ phát thải
khí nhà kính, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ môi trường cho phát triển sản xuất và đời sống,
cung cấp nơi ở, việc làm, tạo sinh kế ổn định và là khởi nguồn đời sống văn hóa tâm linh của
những cộng đồng sống trong và gần rừng. Và đó cũng chính là mục tiêu của phát triển bền
vững.
Vì vậy, lâm nghiệp bền vững không chỉ có vị trí quan trọng đối với đời sống kinh tế-xã
hội của từng quốc gia nói riêng và của toàn cầu nói chung mà còn góp phần đắc lực trong việc
giảm thiểu tác hại của thiên tai và ứng phó tích cực với biến đổi khí hậu trên thế giới, đóng góp
quan trọng cho quá trình xây dựng một nền kinh tế xanh, hướng tới phát triển bền vững.
Để tăng cường vai trò của rừng đóng góp cho kinh tế xanh hướng tới phát triển bền vững
cần có những mục tiêu và các nhóm giải pháp cụ thể, tổng hợp và đồng bộ, trong đó đặc biệt là
nhóm giải pháp về thể chế chính sách, tăng cường năng lực, hợp tác quốc tế, tài chính, khoa
học và công nghệ và phát huy vai trò của cộng đồng địa phương.

1. Vai trò của rừng đối với kinh tế xanh và phát triển bền vững
Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù, giữ vai trò vô cùng quan trọng trong

Vì vậy, quản lý rừng bền vững không chỉ có vị trí quan trọng đối với đời sống kinh tế-xã
hội của từng quốc gia nói riêng và của toàn cầu nói chung mà còn góp phần đắc lực trong việc
giảm thiểu tác hại của thiên tai và ứng phó tích cực với biến đổi khí hậu trên thế giới, đóng góp
tích cực cho quá trình xây dựng một nền kinh tế xanh, hướng tới phát triển bền vững.
2. Thực trạng công tác quản lý rừng ở Việt Nam
Có thể nói trên 20 năm qua, quan điểm và nhận thức về ngành lâm nghiệp đã có nhiều
chuyển biến mang tính cơ bản. Trước hết, đó là sự thay đổi nhận thức từ chủ trương phát triển
sản xuất lâm nghiệp dựa vào quốc doanh là chính sang phát triển lâm nghiệp dựa trên cơ sở xã
hội hoá ngày càng cao, trong đó nhân dân là lực lượng chủ yếu. Đây là bước tiến quan trọng về
quan điểm, nhận thức và thừa nhận vai trò của tất cả các thành phần kinh tế trong sự nghiệp
bảo vệ và phát triển rừng.
Chủ trương xã hội hóa nghề rừng đã được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật như
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, Luật Đất đai 2003, Luật Bảo vệ môi trường 2005 và đã
góp phần tích cực nâng cao hiệu quả quản lý rừng. Chương trình phát triển và quản lý rừng bền
vững trong Chiến lược lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006-2020 được coi là một chương trình
trọng tâm với các mục tiêu cụ thể, trong đó có mục tiêu Quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng
bền vững 16,24 triệu ha đất có rừng (8,4 triệu ha rừng sản xuất, 5,68 triệu ha rừng phòng hộ và
2,16 triệu ha rừng đặc dụng), sản lượng gỗ khai thác trong nước đạt 20-24 triệu m3/năm - đáp
ứng về cơ bản nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản, với 30% diện tích rừng
sản xuất được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững vào năm 2020.
Cũng trên tinh thần chủ trương xã hội hóa nghề rừng, hệ thống chính sách mới cũng đã
được xây dựng. Với chính sách giao đất giao rừng, chủ sử dụng đã đa dạng hơn trước với tổng
diện tích đã giao gần 10 triệu ha (cho các thành phần kinh tế), đất giao cho các hộ gia đình và
tập thể tăng lên gần 3 triệu ha. Cộng đồng dân cư thôn bản đã được công nhận có đủ tư cách
pháp nhân để được giao (quản lý 2 triệu ha). Chính sách tài chính đã cho phép đa dạng hoá
nguồn vốn bảo vệ và phát triển rừng, cho phép triển khai rộng chính sách chi trả dịch vụ môi
trường rừng, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng ở cả trung ương và địa phương đã được phép thành
lập. Về sử dụng rừng, đã quan tâm xây dựng thí điểm mô hình khai thác rừng và quản lý rừng
bền vững ở một số lâm trường điểm, đã xây dựng được Hướng dẫn khai thác rừng cộng đồng,
Hướng dẫn khai thác tác động thấp. Về phát triển rừng, đã quan tâm tới chính sách hỗ trợ phát

UN-REDD Việt nam Giai đoạn 1 nhằm chuẩn bị sẵn sàng cho việc triển khai sáng kiến " Giảm
phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng" (Viết tắt là
REDD+). Với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như Ford Foundation hay GTZ, Tổ công tác
quốc gia quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng (do Viện Quản lý rừng bền vững chủ trì) đã
xây dựng Dự thảo Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của Việt Nam, đã được thông qua tại
Hội thảo do Bộ Nông nghiệp và PTNT chủ trì và đã được trình Hội đồng chứng chỉ rừng quốc
tế (FSC) xem xét. Hiện đã có gần 20.000 ha rừng trồng đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng
chỉ, do Công ty liên doanh Trồng rừng Quy Nhơn và một số nhóm hộ tỉnh Quảng Trị trồng và
quản lý. Hiện tại với sự hỗ trợ của National Program Facility của Hà Lan thông qua FAO, Viện
Quản lý rừng bền vững đang triển khai dự án hỗ trợ các chủ rừng nhỏ ở Yên Bình -Yên Bái
quản lý rừng bền vững và thí điểm chứng chỉ theo nhóm. Nhiều diện tích rừng trồng thuộc
Tổng công ty Giấy Việt Nam cũng đã được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững với sự hỗ trợ
của Viện Quản lý rừng bền vững.
Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng đã được Quốc hội đánh giá về cơ bản đạt được
các mục tiêu đề ra. Một số con số đáng chú ý là độ che phủ rừng tăng từ 32% năm 1998 lên
39,5% năm 2010. Cả nước đã giao 9.999.892 ha trên tổng số 16,24 triệu ha quy hoạch là đất
lâm nghiệp. Đến năm 2010 trữ lượng gỗ của cả nước là 935,3 triệu m3, tăng 24,4% so với
năm1998…Bên cạnh đó, diện tích rừng mất do các hành vi vi phạm lâm luật và bị thiệt hại do
cháy rừng cũng có xu hướng giảm. Dân chưa sống được bằng nghề rừng. Sau 13 năm thực hiện
dự án, đến nay cả nước đã giao khoán được gần 10 triệu trên tổng số 16,2 triệu ha đất lâm
nghiệp theo quy hoạch. Đến năm 2010 đã có gần 1,25 triệu hộ gia đình với 4,65 triệu lao động

4
tham gia dự án, trong đó có gần 485.000 hộ nghèo, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số ở miền
núi, vùng cao có việc làm.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Chính phủ, việc khai thác rừng trái phép, cháy rừng, xâm
lấn rừng, chống người thi hành công vụ xảy ra nghiêm trọng ở một số địa phương, gây bức xúc
trong dư luận xã hội. Chúng ta còn phải đối mặt với nhiều thách thức và tồn tại, đó là:
Tiến độ giao đất, giao rừng chậm. Thiếu các giải pháp sau giao đất để hộ gia đình gắn bó
với nghề rừng và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn. Hệ thống chính sách tuy đã khá đủ nhưng

yêu cầu của thực tiễn đặt ra cho ngành lâm nghiệp. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, việc khắc
phục những tồn tại này càng đòi hỏi nỗ lực rất lớn của toàn xã hội.
Biến đổi khí hậu làm thay đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, làm giảm năng suất cây
trồng và ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển của rừng. Biến đổi khí hậu làm tăng nguy cơ mất
rừng, nguy cơ chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp.
Biến đổi khí hậu đe dọa tới đa dạng sinh học rừng, làm thay đổi tổ thành loài, phân bố
và khả năng sinh trưởng của các loài sinh vật rừng. Diện tích cây rụng lá (cây họ dầu) và nửa

5
rụng lá với nhiều loài cây chịu hạn sẽ tăng. Nhiều loài nhiệt đới ưa sáng sẽ di cư cao hơn và các
loài á nhiệt đới mất dần. Số lượng quần thể các loài sinh vật quý hiếm sẽ suy kiệt đồng thời
nguy cơ xuất hiện các loài sinh vật ngoại lai có hại sẽ tăng. Nhiều loài phải di cư tìm nơi sống
mới và nếu không thể thích nghi với điều kiện sống mới hay cạnh tranh với các loài khác sẽ
vĩnh viễn biến mất khỏi hành tinh. Biến đổi khí hậu làm tăng nguy cơ dịch bệnh, nguy cơ cháy
rừng. Các hệ sinh thái sẽ bị suy thoái, đặc biệt là hệ sinh thái ven biển và hệ sinh thái núi. Theo
dự báo, năm 2070, các loài cây nhiệt đới vùng núi cao sẽ có thể sống được ở độ cao 100-550 m
và dịch lên phía bắc 100-200 km (Vietnam Initial NatCom, 2003). Điều này phải được quan
tâm nghiên cứu kỹ, vì theo tự nhiên, một loài thực vật phải mất ít nhất 100 năm mới có thể
sống và phát triển thành quần thể ở một nơi cách quê hương của nó chỉ có1 km.
3. Tăng cường vai trò của rừng hướng tới kinh tế xanh và phát triển bền vững ở Việt
Nam
3.1 Mục tiêu chung đóng góp cho kinh tế xanh và phát triển bền vững
- Tăng diện tích và chất lượng của hệ thống rừng phòng hộ, bao gồm cả hệ thống rừng
phòng hộ đầu nguồn, hệ thống rừng ngập mặn và hệ thống rừng phòng hộ trên đất cát ven biển.
- Hệ thống rừng tự nhiên đầu nguồn chính được quản lý bền vững.
- Hạn chế các tác động tiêu cực đối với hệ sinh thái rừng do biến đổi khí hậu.
- Xây dựng được cơ sở pháp lý hình thành quỹ cácbon trong lâm nghiệp và tham gia thị
trường các bon.
- Đời sống người dân địa bàn lâm nghiệp được cải thiện.
3.2 Kết quả chính đóng góp cho kinh tế xanh và phát triển bền vững

- Tăng cường năng lực giám sát đánh giá và dự báo
- Xây dựng và thống nhất khái niệm về rừng. Thống nhất hệ thống tiêu chí phân loại
rừng.
- Nắm chắc thực trạng tài nguyên rừng, bao gồm: Điều tra đánh giá theo dõi diễn biến
tài nguyên rừng và tổng kiểm kê rừng và đất lâm nghiệp; Xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất và
cơ chế quản lý và chia sẻ thông tin, số liệu; Cải tiến chế độ báo cáo định kỳ.
- Kiểm tra giám sát thường xuyên hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp.
- Điều tra đánh giá sinh khối và trữ lượng các bon.
- Đánh giá tác động, dự báo nguy cơ và đề xuất các giải pháp giảm thiểu, thích ứng.
- Đánh giá năng lực của các chủ rừng về QLRBV và chứng chỉ rừng sản xuất.
3.3.2 Các hoạt động thích ứng với BĐKH và cải thiện sinh kế bền vững
- Nghiên cứu tác động của BĐKH đối với đa dạng sinh học rừng, theo dõi diễn biến tài
nguyên rừng.
- Tăng cường cơ sở vật chất cho phòng, chống cháy rừng.
- Xây dựng Trung tâm phòng, chống sâu bệnh hại rừng.
- Nghiên cứu chọn các loài có khả năng thích nghi với điều kiện mới do BĐKH đồng
thời không gây ảnh hưởng xấu tới các loài khác để phát triển rừng.
- Phát triển các mô hình sinh kế bền vững, cải thiện đời sống, ổn định nơi sinh sống cho
người dân.
- Xây dựng và triển khai các dự án phát triển hệ thống rừng phòng hộ ven biển (đê mềm)
và các hợp phần phát triển rừng trong Đề án đê biển.
3.3.3 Các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính
- Triển khai đề án phục hồi và phát triển hệ thống rừng ngập mặn ven biển.
- Xây dựng và triển khai các chương trình/dự án tăng cường hệ thống rừng phòng hộ đầu
nguồn sông Đà, sông Mã, sông Sesan, sông Serepok và sông Đồng Nai.

7
- Xây dựng và triển khai Chương trình REDD+ quốc gia và hướng vào việc tăng cường
năng lực đánh giá và thực thi các giải pháp kỹ thuật, thực hiện thí điểm REDD+ và chuẩn bị
tích cực các điều kiện để thực hiện REDD+ toàn diện.

- Nghiên cứu về hợp tác xã lâm nghiệp kiểu mới để tập hợp dân làm nghề rừng.
3.4.2 Tăng cường năng lực
- Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của các cấp các
ngành về tác động của biến đổi khí hậu trong lâm nghiệp, tăng cường phổ biến kiến thức cho
cộng đồng người dân về các giải pháp ứng phó.

8
- Xây dựng chương trình/đề án tăng cường đội ngũ cán bộ khuyến lâm cơ sở, đảm bảo
các xã có rừng có ít nhất 1 cán bộ lâm nghiệp; Xây dựng chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ
cán bộ khuyến lâm cơ sở; Xây dựng chính sách hỗ trợ vật tư kỹ thuật thiết yếu; Đẩy mạnh xây
dựng, phổ biến sổ tay kỹ thuật cho từng vùng, quan tâm tới đối tượng là hộ dân; Phát triển
khuyến lâm có sự tham gia thực sự của người dân. Xác định rõ đối tượng cần đào tạo và cơ cấu
đào tạo phù hợp với yêu cầu của ngành và địa phương, tăng cường đào tạo lực lượng công nhân
tay nghề cao và bổ sung chuyên gia đầu đàn; Có đề án nghiên cứu đổi mới nội dung chương
trình, hình thức, tài liệu đào tạo sát với nhu cầu thực tiễn; Có chương trình và chính sách tăng
cường đào tạo đội ngũ cán bộ cấp cơ sở và dạy nghề cho dân.
- Tập huấn xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và tự giám sát, đánh giá.
- Đào tạo đánh giá/kiểm định viên về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng.
- Xây dựng trang web và chuyên san về kinh tế xanh và phát triển bền vững lâm nghiệp.

3.4.3 Tăng cường công tác nghiên cứu và chuyển giao KHCN
- Nghiên cứu cơ cấu cây trồng phù hợp với các vùng và kịch bản của BĐKH
- Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật cho từng vùng.
- Xây dựng các chương trình KHCN tổng hợp theo chuỗi giá trị.
- Tăng cường nghiên cứu mang tính đột phá, đặc biệt là giống, quản lý rừng, khai thác,
chế biến lâm sản để làm gia tăng giá trị của sản phẩm lâm nghiệp và đóng góp cho hấp thụ,
giảm phát thải khí nhà kính, chống ô nhiễm môi trường.
- Hướng dẫn đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường trong lâm
nghiệp.
- Đẩy mạnh đầu tư nhập công nghệ tiên tiến phù hợp để nâng cao chất lượng và sản

3.4.5 Tăng cường sự chủ động tích cực tham gia của địa phương
- Từng địa phương xây dựng chương trình hành động và dự án cụ thể mang tính đa
ngành, đa lĩnh vực, lồng ghép các nguồn vốn để tổ chức thực hiện.
- Tăng cường phân cấp song song với nâng cao năng lực của cơ sở và tăng cường công
tác kiểm tra, đánh giá, giám sát và đúc kết thực tiễn.
- Hỗ trợ thông tin và huy động nguồn lực triển khai các đề xuất của địa phương.
- Xây dựng cơ chế báo cáo.
- Thực hiện chiến lược tăng cường sự tham gia, lấy ý kiến các cấp, các ngành và cộng
đồng địa phương trong quá trình ra quyết định.
Tóm lại, kinh tế xanh và phát triển bền vững có quan hệ tương tác, biện chứng với lâm
nghiệp. Lâm nghiệp là công cụ đắc lực có tác dụng giảm thiểu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu,
phòng chống sa mạc hóa, bảo tồn đa dạng sinh học, đóng góp tích cực cho kinh tế xanh và phát
triển bền vững. Vì vậy, lâm nghiệp cần được coi là một ngành quan trọng trong kế hoạch hành
động chung với các giải pháp đồng bộ mang tính đa ngành, đa lĩnh vực./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status