Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam - Pdf 13

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HI BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC

ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI
VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

MÃ SỐ: ĐTĐL2009G/33

Chủ nhiệm đề tài: GS.TS. Nguyễn Đình Hương
Cơ quan chủ trì: VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Hà Nội, 2010
ii
Danh sách thành viên nhóm nghiên cứu

TT Họ và tên Đơn vị công tác Nhiệm vụ
1.
GS, TS Nguyễn Đình
Hương
Văn Phòng Quốc hội Chủ nhiệm đề tài
2. GS, TS Mai Ngọc Cường Đại học Kinh tế Quốc dân Thư ký đề tài
3. TS Trần Đình Đàn Văn Phòng Quốc hội Thành viên đề tài


DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ ĐĂNG x
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM
CỦA THẾ GIỚI VỀ ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU KINH TẾ 7

1.1. Khái quát về tăng trưởng, phát triển và vai trò của Chính
phủ trong điều chỉnh cơ cấu kinh tế 7

1.1.1. Kinh tế thị trường và vai trò của Chính phủ 7
1.1.2. Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. 15
1.1.3. Vai trò của nền kinh tế tri thức trong phát triển nền kinh tế
theo hướng hiện đại. 22

1.2. Giới thiệu một số mô hình phát triển kinh tế và điều chỉnh
cơ cấu 29

1.2.1. Thống nhất Washington và quan niệm về phát triển kinh tế và
điều chỉnh cơ cấu của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ
Quốc tế (IMF) 29

1.2.2. Quá trình hình thành các lý thuyết phát triển kinh tế và điều
chỉnh cơ cấu 32

iv
1.2.3. Những nhân tố cơ bản đối với điều chỉnh cơ cấu và phát triển
kinh tế tại các nước đang phát triển. 37



2.2.1. Mở cửa gia nhập WTO và sức ép lạm phát năm 2007 123
v
2.2.2. Chế độ tỷ giá ảnh hưởng tới lạm phát ở Việt Nam năm 2008130
2.2.3. Điều chỉnh cơ cấu sử dụng NSNN để ổn định kinh tế vĩ mô
trong bối cảnh khủng hoảng hiện nay 139

2.2.4. Tăng giá kép và tầm quan trọng của điều chỉnh cơ cấu nhằm
hạn chế tác động của biến động cán cân thanh toán 142

2.3. Yêu cầu điều chỉnh cơ cấu kinh tế để tăng trưởng và ổn
định kinh tế vĩ mô 149

2.3.1. Tình hình tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam
sau 25 năm đổi mới 150

2.3.2. Yêu cầu điều chỉnh kinh tế vĩ mô để tăng trưởng và phát triển
ổn định 153

CHƯƠNG 3. ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH
CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI VÀ PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 159

3.1. Các quan điểm và định hướng về điều chỉnh cơ cấu kinh tế
theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở Việt Nam 159

3.1.1. Các quan điểm về điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện
đại và phát triển bền vững ở Việt Nam 159

3.1.2. Một số định hướng điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện
vii DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1Trình tự hội nhập kinh tế 44
Bảng 2.1Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá thực tế
chia theo thành phần kinh tế (%) 100
Bảng 2.2 Chỉ số lạm phát giá tiêu dùng và chỉ số lạm phát "cốt lõi"
136
Bảng 2.3 Chi phí gói kích thích kinh tế của Việt Nam theo % GDP
140
Bảng 2.4 Biến động cán cân thanh toán và tỷ lệ lạm phát 2001-2010
143
Bảng 2.5 Cơ cấu tổng sản phẩ
m quốc nội tính theo % GDP 144
Bảng 2.6 Cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội tính theo % GDP 151
Bảng 2.7 Tỷ lệ lạm phát (%) 153
Bảng 2.8 Tăng trưởng cung tiền (%) 154
Bảng 2.9 Chi Ngân sách Nhà nước (% GDP) 154
Bảng 2.10 Thâm hụt Ngân sách Nhà nước (% GDP) 155
Bảng 2.11 Cán cân thương mại (triệu USD) 156
Bảng 2.12 Cán cân vãng lai (% GDP) 157
Bảng 2.13 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (triệu USD) 157

viii

DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình Mundell-Fleming trong chế độ tỷ giá cố định 53

(%) 152
ix
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
CBO Văn phòng ngân sách Quốc hội Mỹ
CCTM Cán cân thương mại
CCTT Cán cân thanh toán
CNY Đồng nhân dân tệ
CPI Chỉ số giá tiêu dung
DNXNK Doanh nghiệp xuất nhập khẩu
ECB Ngân hàng Trung ương Châu Âu
EIU Cơ quan tình báo Anh
EUR Đồng tiền chung Châu Âu
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FII Đầu tư gián tiếp nước ngoài
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
JPY Đồng Yên Nhật
KNXK Kim ngạch xuất khẩu
NEER Tỷ giá danh nghĩa trung bình
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng Trung ương
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
REER Tỷ giá thực trung bình
TCTD Tổ chức tín dụng
TGHĐ Tỷ giá hối đoái
TKVL Tài khoản vãng lai
TTCK Thị trường chứng khoán
TTTTLNH Thị trường tiền tệ liên ngân hàng
USD Đồng đô la Mỹ

10. Xuất nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí Cộng Sản
Số 798, 2009

1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của nội dung nghiên cứu
Là một nước chuyển đổi, kém phát triển, nền kinh tế Việt Nam
còn tồn tại nhiều bất cấp làm hạn chế tốc độ phát triển kinh tế. Điều
chỉnh cơ cấu kinh tế để phát triển bền vững là một đòi hỏi tất yếu ở các
nước kém phát triển. Trong trường hợp c
ủa Việt Nam, đòi hỏi này càng
trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Chuyển đổi từ một nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đã là một thách thức lớn
đối với nền kinh tế Việt Nam. Quá trình chuyển đổi lại diễn ra trong bối
cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế gia tăng buộc Việt Nam phải
tiến hành song song quá trình chuyển đổi t
ự do hóa khu vực kinh tế trong
nước và tự do hóa khu vực kinh tế đối ngoại. Việc nghiên cứu thành
công quá trình điều chỉnh cơ cấu để phát triển bền vững trong bối cảnh
hội nhập ở Việt Nam sẽ giúp Chính phủ có một kế hoạch chủ động trong
việc xây dựng chiến lược công nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế nhằm
thực hiện mục tiêu dân giàu, nước m
ạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh.
Sau tiến trình chuẩn bị và đàm phán hơn 11 năm, ngày
07/11/2006, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã chính thức kết nạp
nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên của Tổ chức
này. Do đòi hỏi giải phóng nguồn lực để phát triển kinh tế và theo các
điều kiện yêu cầu để Việt Nam có thể gia nhập WTO, Việt Nam đã b

điều chỉnh cơ cấu kinh tế để phát triển bền
vững đã được nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới, đặc biệt trong chương
trình viện trợ hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu của Ngân hàng thế giới (WB) và
Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF). Trong một thời gian dài từ những năm 1960-
1980, nghiên cứu về điều chỉnh cơ c
ấu kinh tế trên thế giới tập trung vào
mục tiêu giải quyết mất cân đối kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Với mục tiêu đó các nghiên cứu tập trung vào luận giải khái
niệm tăng trưởng và phát triển, nhằm chỉ ra phạm vi và các mục tiêu
kinh tế vĩ mô cần đạt được thông qua cải cách kinh tế, điều chỉnh cơ cấu,
giải quyết mất cân đối v
ĩ mô. Thành công của các nghiên cứu trong thời
kỳ này là đã chỉ ra khái niệm phát triển kinh tế bao trùm khái niệm tăng
trưởng kinh tế hướng tới cả một số mục tiêu phát triển xã hội. Đồng thời
các nghiên cứu cũng chỉ ra được các nhân tố thúc đẩy hoặc cản trở tăng
trưởng và phát triển kinh tế, trong đó giải quyết mất cân đối kinh tế vĩ
3
mô như cơ cấu ngành, thâm hụt ngân sách nhà nước, thâm hụt cán cân
thương mại, cán cân thanh toán, song song với giải quyết các yếu tố thắt
cổ chai làm cản trở quá trình phát triển kinh tế như cơ chế kinh tế phi thị
trường bóp méo tín hiệu giá cả, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ công
nghệ thấp, thiếu hụt lao động kỹ thuật cao.
Trong giai đoạn từ 1990 tới nay, khái niệm phát triển bền vữ
ng trở
nên phổ biến và bao gồm không những các mục tiêu hẹp về tăng trưởng
kinh tế mà khái niệm chất lượng tăng trưởng được đặt lên hàng đầu theo
đó tăng trưởng bền vững không chỉ đề cập tới các mục tiêu kinh tế mà
còn bao trùm các mục tiêu về xã hội và môi trường. Nghiên cứu về điều
chỉnh cơ cấu kinh tế trong thời kỳ này tập trung vào vấn đề xóa đói, gi
ảm

theo đó tác giả chư
a chỉ ra việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo ngành và
quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo thị trường trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế.
Nghiên cứu "Luận cứ xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách
và giải pháp kinh tế tài chính nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam" của GS. TSKH
Tào Hữu Phùng, Ủy ban Kinh tế-Ngân sách của Qu
ốc hội năm 2003 đã
làm rõ một số vấn đề lý luận, nội dung cơ bản, các tiêu chí đánh giá, các
nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên,
nghiên cứu này chỉ tập trung vào một số chính sách và giải pháp kinh tế -
tài chính chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam mà chưa nghiên cứu
đến vấn đề điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đặc biệ
t khi Việt Nam gia nhập
WTO.
Đề tài chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, vùng lãnh thổ cũng đã có
nhiều luận án tiến sĩ đề cập đến ở một phạm vi nhất định. Những đề tài
luận án đã thực hiện mới đề cập đến việc chuyển dịch kinh tế ngành,
kinh tế vùng hoặc một vài chính sách chuyển dịch kinh tế để ổn định
kinh tế vĩ
mô, chưa có đề tài nào nghiên cứu đầy đủ cơ sở khoa học của
chính sách điều chỉnh kinh tế vĩ mô trong điều kiện mới khi Việt Nam
gia nhập WTO, cũng chưa có những đề tài, chương trình khoa học
nghiên cứu để chủ động ứng phó với yêu cầu hội nhập.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về điều chỉnh cơ cấ
u kinh tế
theo hướng hiện đại và phát triển bền vững;
5

hoá trong nghiên cứu, kết hợp lý luận với thực tiễn, tiếp cận các phương
pháp mới, so sánh, phân tích, dự báo kinh tế, logic với lịch sử để làm
6
sáng tỏ vấn đề trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công
trình, tài liệu đã công bố trong nước có liên quan đến chủ đề nghiên cứu.
Để có cơ sở khoa học cho việc đánh giá thực trạng nguồn lực và
chính sách phát triển bền vững, đề tài tổ chức khảo sát và phỏng vấn xã
hội học những vấn đề có liên quan và phỏng vấn các nhà hoạch định
chính sách, những nhà qu
ản lý kinh tế-xã hội Trung ương và địa phương,
các nhà nghiên cứu, các nhà doanh nghiệp và người lao động theo các
mục tiêu nghiên cứu.
6. Bố cục của nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nghiên cứu được bố cục thành 3
chương :
Chương 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm của thế giới về
điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Chương 2: Đánh giá hệ thống chính sách đi
ều chỉnh cơ cấu và
phát triển kinh tế ở việt nam trong thời kỳ đổi mới
Chương 3: Đổi mới hệ thống chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh
tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Đề tài là tổng hợp kết quả nghiên cứu của một tập thể tác giả là
các nhà khoa học và chuyên gia đến từ các bộ, ngành trực tiếp xây dự
ng
và thực thi chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Do đóng góp vào kết quả nghiên cứu là của một tập thể lớn các tác giả,
trong quá trình tổng hợp kết quả nghiên cứu, chắc chắn không thể tránh
khỏi những thiếu sót, chưa nhất quán trong ngôn từ và logic tổng thể, rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học và các chuyên

đã làm cho các nhà xã hội học như Karl Marx và Robert Owen phải đề
xướng các phương pháp cải cách xã hội. Theo Karl Marx, sở hữu tư bản
là nguyên nhân của bất bình đẳng và thất nghiệp. Theo đó, ông đề xuất
Chính phủ phải nắm giữ phương tiện sản xuất. Tư tưởng của Marx đã có
ảnh hưởng lớn tới Chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ 20,
dẫn tớ
i sự ra đời của các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trong hệ
8
thống các nước xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung là
một hình thái kinh tế gần với nền kinh tế mệnh lệnh.
Khủng hoảng kinh tế năm 1929-1933 đã làm cho lý thuyết về thất
bại thị trường lan rộng. Trong bối cảnh đó, nhà kinh tế học vĩ đại Anh
John Maynard Keynes đã cho rằng không thể vỗ tay bằng một bàn tay.
Ông đề cao vai trò của Chính phủ và lập luậ
n Chính phủ có thể và cần
phải can thiệp để giải quyết các thất bại của thị trường. Ngày nay, các
nhà kinh tế học đều thừa nhận vai trò của cả thị trường và Chính phủ và
cho rằng cần phải đạt được một sự cân đối giữa thị trường và can thiệp
của Chính phủ. Để tìm ra sự cân đối này, các nhà kinh tế thường dựa vào
kinh tế học phúc lợi để nghiên cứ
u các vấn đề thuộc về kinh tế học chuẩn
tắc nhằm đưa ra các khuyến nghị để có thể tổ chức nền kinh tế một cách
tốt nhất.
Trong một nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh hoàn hảo, người
ta không cần quan tâm tới các vấn đề về kinh tế học phúc lợi bởi lẽ lực
thị trường đã giải quyết tất cả
các vấn đề về tổ chức nền kinh tế. Tuy
nhiên, một khi có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, những can
thiệp đó sẽ làm thay đổi cách thức xã hội tổ chức nền kinh tế. Kinh tế
học phúc lợi giúp định hướng cách thức Chính phủ điều chỉnh hoạt động

là hiệu quả Pareto quan tâm tới sự phân bổ nguồn lực của toàn bộ nền
kinh tế và kết quả kinh tế thu được cho toàn xã hội từ việc sử dụng các
nguồn lực được phân bổ đó. Các nhà kinh tế học luôn luôn tìm kiếm cơ
hội để tạo ra một sự cải thiện Pareto nhằm làm tăng tổng sản lượng của
toàn xã hội. Dựa theo tiêu chuẩn là hiệu quả Pareto, các nhà kinh tế học
sẽ đề xuất bất kỳ phương án tổ chức nền kinh tế nào đem lại một sự cải
thiện Pareto, ngay cả trong trường hợp sự cải thiện Pareto đó sẽ làm
người giàu giàu lên nhanh hơn người nghèo.
Ngược lại, các nhà xã hội học sẽ chú ý nhiều hơn tới vấn đề bất
bình đẳng thu nhậ
p, khoảng cách giàu nghèo gia tăng và những hậu quả
về mặt xã hội đi theo. Vấn đề gia tăng khoảng cách giàu nghèo đặc biệt
nghiêm trọng ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Trong những
năm trước Đổi mới kinh tế năm 1986, đời sống kinh tế của nhân dân cả
nước ta ở mức thấp, nhưng khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp
dân cư không lớn, mọi người nghèo như
nhau. Kể từ khi Đổi mới kinh tế
bắt đầu cuối năm 1986, tăng trưởng kinh tế được nâng cao, đời sống của
tất cả các tầng lớp nhân dân được tăng lên và rõ ràng có một sự cải thiện
Pareto, mọi người đều được lợi. Tuy nhiên, Đổi mới kinh tế cũng làm
cho một bộ phận dân cư giàu lên nhanh hơn các bộ phận khác khiến bất
bình đẳng gia tăng, và khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớ
n. Cái giá
phải trả cho hiệu quả là bất bình đẳng. Trong điều kiện đó, để đảm bảo
10
có thể duy trì tổ chức nền kinh tế một cách hiệu quả, Chính phủ có vai
trò rất lớn trong việc tái phân phối thu thập.
Kinh tế học phúc lợi cho rằng sau khi phân phối lại thu nhập ban
đầu, hiệu quả Pareto có thể đạt được thông qua cơ chế thị trường cạnh
tranh. Nghĩa là, sau khi thu nhập được phân phối lại theo cách thức mà

tưởng để có thể phân bổ nguồn lực đạt hiệu quả Pareto. Một trong những
11
điều kiện để có thị trường cạnh tranh là phải có nhiều người mua và
nhiều người bán trên thị trường. Độc quyền và thị trường cạnh tranh
không hoàn hảo là những tình huống làm cho thị trường mất tính cạnh
tranh và vì thế không đạt được hiệu quả Pareto trong phân bổ nguồn lực
khan hiếm. Độc quyền là tình huống mà thị trường chỉ có một người
cung cấp duy nhất. Cạnh tranh không hoàn hảo là các tình huống n
ằm
giữa hai thái cực cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền, ví dụ, thị trường có
thể có một số ít người bán hoặc người mua có khả năng cấu kết với
nhau. Hậu quả của độc quyền là giá cả bị tăng lên và sản lượng bị giảm
xuống so với trường hợp cạnh tranh. Đây là trường hợp sụt giảm sản
lượng do cạnh tranh không hoàn hảo và làm nền kinh t
ế không đạt được
hiệu quả Pareto.
Hàng hóa công cộng là những hàng hóa mà sự tiêu dùng của một
người không ảnh hưởng tới sự tiêu dùng của những người khác (non-
rival consumption) hay nói cách khác chi phí biên để tăng thêm một
người sử dụng hàng hóa công cộng là bằng không. Hơn nữa, khó có thể
loại trừ (ngăn cấm) một người nào đó sử dụng hàng hóa công cộng. Môi
trường trong sạch, quốc phòng, đường xá là những thí dụ đ
iển hình về
hàng hóa công cộng. Mọi người đều có nhu cầu sống trong một môi
trường trong sạch, nhưng chi phí để duy trì môi trường trong sạch không
tăng lên khi có thêm một người sử dụng. Hơn nữa, nếu một cộng đồng
có môi trường trong sạch, khó có thể ngăn cản một thành viên nào của
cộng đồng đó sử dụng môi trường trong sạch. Do tính chất không thể
loại trừ (non-exclusion) của hàng hóa công cộng có một s
ố người trong

thí dụ về thị trường chưa hoàn chỉnh phổ biến ở các nước là thị
trường vốn và thị trường bảo hiểm.
Một trong những nguyên nhân khiến thị trường vốn và thị trường
tài chính không hoàn chỉnh là do hệ quả của hiện tượng thông tin bất đối
xứng (asymmetric information). Thông tin bất đối xứng xảy ra khi các
bên tham gia vào một giao dịch hay hợp đồng không có thông tin giống
như nhau - người mua người bán không có cùng một l
ượng thông tin
giống nhau về sản phẩm giao dịch. Ví dụ người bảo hiểm và ngân hàng
không có thông tin đầy đủ về người được bảo hiểm hay người đi vay vốn
như bản thân những người đó. Hai hiện tượng phổ biến xảy ra trong
trường hợp thông tin bất đối xứng là sự lựa chọn bất lợi (adverse
selection) và hiểm họa đạo đức (moral hazard).
Thí dụ, trong lĩnh vực bả
o hiểm, hiểm họa đạo đức xảy ra khi
người được bảo hiểm trở nên thiếu cẩn trọng hơn trong việc bảo vệ đối
13
tượng được bảo hiểm. Sự bất cẩn của người được bảo hiểm làm rủi ro
của công ty bảo hiểm tăng lên. Trên thị trường vốn, ngân hàng phải đối
mặt với sự lựa chọn bất lợi khi họ phải lựa chọn các nhà đầu tư mà
không rõ về rủi ro của các dự án đầu tư của các nhà đầu tư đó. Chỉ có
nhà đầu tư tr
ực tiếp mới có thể hiểu được tất cả các rủi ro liên quan tới
dự án đầu tư của mình. Trong kinh doanh, lợi nhuận cao thường đi kèm
với rủi ro cao. Vì không có thông tin đầy đủ như các nhà đầu tư, trong
một nhóm các nhà đầu tư giống nhau nhìn từ phía ngân hàng, ngân hàng
không thể phân biệt được ai là nhà đầu tư mạo hiểm, ai là nhà đầu tư an
toàn. Nếu ngân hàng đặt lãi suất quá cao, chỉ có các nhà đầu tư mạo
hiểm mớ
i có thể vay nợ để đầu tư. Kết quả là, nếu các dự án đầu tư mạo

thực tế là để
thu thập thông tin, ngân hàng tìm kiếm thông tin xem ai là
nhà đầu tư an toàn, nhà đầu tư tìm thông tin về cơ hội đầu tư tốt, công ty
bảo hiểm tìm kiếm thông tin về khách hàng.
Thất bại cuối cùng của thị trường mà chúng ta nghiên cứu là các
vấn đề liên quan tới kinh tế vĩ mô. Điều kiện để có thể đạt được hiệu quả
Pareto là thị trường phải cạnh tranh hoàn hảo, nói một cách khác tất cả
các thị trường bao g
ồm cả thị trường tư liệu sản xuất và thị trường hàng
hóa tiêu dùng phải tiêu thụ hết hàng hóa. Tuy nhiên, thất nghiệp kinh
niên là một bằng chứng rõ nét nhất về sự không hoàn hảo của thị trường
lao động và được coi là thất bại lớn nhất của thị trường. Lạm phát có
nguyên nhân xuất phát từ Chính phủ và là nhân tố làm trầm trọng thêm
những thất bại sẵn có của thị trường.
Chu kỳ kinh doanh thể hiện sự cần thiết phải có sự can thiệp của
Chính phủ để rút ngắn thời gian suy thoái và kéo dài thời kỳ tăng trưởng.
Trước khi xuất hiện học thuyết kinh tế của Keynes về vai trò của Chính
phủ, cái vòng luẩn quẩn của suy thoái kinh tế đã đẩy nền kinh tế các
nước theo chủ nghĩa thị trường tự do tới hết cuộc khủng hoảng kinh tế
này tới cuộc khủng hoảng kinh tế khác mà đỉnh điểm là đại khủng hoảng
kinh tế 1929-1933.
Ngày nay, hầu hết các nhà kinh tế học đều nhất trí thị trường có
thất bại và sự can thiệp của Chính phủ để giải quyết các thất bại của thị
trường là cần thiết. Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế học vẫn thấy cần hạn
chế sự can thiệp của Chính phủ
bởi lẽ họ cho rằng giới hạn thông tin của
Chính phủ, thủ tục hành chính quan liêu, thủ tục chính trị phức tạp và
khả năng hạn chế trong việc kiểm soát phản ứng của khu vực tư nhân là
15
những trở ngại lớn ngăn cản khả năng can thiệp giải quyết thất bại thị

nhập theo đầu người.
Vào những năm 1960 thực tế ở các nước đang phát triển đã chứng
tỏ tăng trưởng thu nhập tự nó không giải quyế
t được tất cả các vấn đề
phát triển. Phát triển kinh tế hiểu theo một nghĩa chung nhất phải bao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status