Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu - Pdf 25



i


DANH MỤC CÁC HÌNH V
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VI
CHƯƠNG 1 : BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1
1.1. Tổng quan về biến đổi khí hậu 1
1.1.1. Biến đổi khí hậu là gì? 4
1.1.2. Làm thế nào để chúng ta biết được đang biến đổi khí hậu? 5
1.1.3. Biến đổi khí hậu trong những năm gần đây 8
1.1.4. Biến động khí
CO
2
trong khí quyển 12
1.2. Tác động của biến đổi khí hậu 15
1.3. Vấn đề đạo đức của biến đổi khí hậu 18
CHƯƠNG 2 : GIẢM NHẸ VÀ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 22
2.1 Các khái niệm 22
2.2 Chiến lược giảm nhẹ 23
2.3 Chiến lược thích ứng 23
CHƯƠNG 3 : NÔNG LÂM KẾT HỢP VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
26
3.1 Nhận thức chung về Nông lâm kết hợp 26
3.1.1. Các khái niệm về nông lâm kết hợp 26
3.1.2. Lợi ích canh tác nông lâm kết hợp 27
3.2 Giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng thông qua nông lâm kết hợp 27
3.2.1. Nông Lâm kết hợp giúp giảm phát thải của hệ thống canh tác 27
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu hấp thụ CO
2
của mô hình NLKH – Cơ sở lượng
hóa giá trị môi trường của NLKH 33
3.3 Ứng dụng GIS trong giám sát thay đổi sử dụng đất và phát thải khí CO
2

Bảng 3.4: Dự báo sinh khối tươi/khô và lượng CO
2
bời lời đỏ hấp thụ/ha tối ưu trong
mô hình NLKH bời lời đỏ - sắn 40

Bảng 3.5: Dự báo giá trị kinh tế, môi trường của mô hình NLKH bời lời đỏ - sắn theo
chu kỳ kinh doanh 41

Bảng 3.6: Bảng ma trận thay đổi sử dụng đất 48
Bảng 3.7: Giá trị trung bình Carbon tích lũy và CO
2
hấp thụ của các trạng thái, thảm
phủ 49

Bảng 3.8: Hấp thụ CO
2
năm 2003 49
Bảng 3.9: Hấp thụ CO2 năm 2009 50
Bảng 3.10: Kịch bản áp dụng NLKH cho đất nông nghiệp 50
Bảng 3.11: Các giai đoạn và các bước chính trong tiến trình PTD để phát triển NLKH
54


Hình 3.5: Giải tích cây bời lời trong mô hình NLKH : Bời lời – Sắn để xác định sinh
khối và phân tích C 32

Hình 3.6: Cân để xác định khối lượng sinh khối tươi 4 bộ phận cây bời lời đỏ: Thân,
cành, lá và vỏ 33

Hình 3.7: Lấy mẫu 4 bộ phận cây bời lời đỏ để phân tích hàm lượng carbon: Thân,
cành, lá và vỏ 34

Hình 3.8: Tỷ lệ %C trong các bộ phận thân cây so vói tổng C trong cây bời lời 35
Hình 3.9: Tỷ lệ %C trong sinh khối khô ở các bộ phận thân cây bời lời 35
Hình 3.10: Cách ứng dụng các mô hình ước lượng CO
2
bời lời đỏ hấp thụ trong mô
hình NLKH bởi lời đỏ - sắn 39

Hình 3.11: Tiến trình phát triển kỹ thuật có sự tham gia - PTD 53
Hình 3.12: Làm giàu rừng khộp nghèo bằng cây tếch 56
Hình 3.13: Mô hình NLKH: Tre; Mít nghệ xen dứa Cayen trên đất dốc 57

vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nguyên nghĩa
CDM

IEA
International Energy Agency: Cơ quan năng lượng quốc tế
ICRAF
International Center on Research in Agroforestry: Trung tâm quốc tế
nghiên
cứu về Nông lâm kết hợp
KP
Kyoto Protocol: Nghị định thư Kyoto
MACC
Mainstreaming Adaptation to Climate Change: Lồng ghép vấn đề
thích ứng
với biến đổi khí hậu môi trường
MDGs
Millennium Development Goals: Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
NLKH
Nông lâm kết hợp
REDD
Reduced Emission from Deforestation in Developing Countries:
Giảm phát thải khí nhà kính do mất rừng ở các nước đang phát triển
SBA
Slash and Burn Agriculture: Canh tác nương rẫy
UNFCCC
United Nations Framework Convention on Climate Change: Công
ước khung
của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu
UNCED
United Nations Council for Environment and Development: Hội
đồng
Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển


thập kỷ tới, về khả năng thích ứng giảm nhệ tác động của biến đổi khí hậu do nhiệt độ
ngày càng tăng và nồng độ khí gây hiệu ứng nhà kính. (Nguồn: Nautilus Viện An ninh
và bền vững.)
Carbon dioxide và một số khí khác trong bầu khí quyển của Trái đất như một
nhà kính điều hòa nhiệt độ chúng ta. Giữ ấm bề mặt của
hành tinh tự nhiên bằng cách
giữ nhiệt năng lượng mặt trời trong khí quyển là một điều tốt vì nó giữ cho hành tinh
của chúng ta sinh sống. Tuy nhiên, bằng cách đốt nhiên liệu hóa thạch như khí đốt,
than đá và dầu mỏ và các khu rừng bị mất, đã làm tăng đột ngột lượng carbon dioxide
trong bầu khí quyển của Trái đất và nhiệt độ đang tăng lên. Điều này được gọi là "tăng

cường hiệu ứng nhà kính".
Một chất khí không màu và không mùi, được hình thành từ carbon và hai
nguyên tử ôxy, CO
2
chiếm khoảng 0,03%, của bầu khí quyển của Trái đất. Đây là một
tỷ lệ rất nhỏ, nhưng nó đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng khí
quyển cần thiết đối với sự sống. Ngược lại, bầu khí quyển của hành tinh chết "như sao
Kim và sao Hỏa được tạo thành chủ yếu là CO
2
. 2

Hình 1.1: Gia tăng hiệu ứng nhà kính
CO

nguồn gốc từ các loại khí gây hiệu ứng tăng 29% và đang làm nhiệt độ trái đất ấm dần
lên. Ba loại khí gây hiệu ứng nhà kính phổ biến và tồn tại lâu trong khí quyển là
carbon dioxide (CO
2
), metan (CH
4
) và nitơ oxide (N
2
O).
Tuy nhiên, khí thải từ quá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch, chặt phá rừng và
những thay đổi trong quá trình sử dụng đất làm cho khí CO
2
tăng 39% so với năm
1750 - thời điểm thế giới bước vào kỷ nguyên công nghiệp hóa.
Năm 2010, nồng độ khí metan trung bình là 1.808 phân tử trong một tỷ phân tử
không khí ở trạng thái khô, tăng nhẹ so với năm 2009 và tăng 158% kể từ năm 1750.
Đây là bản báo cáo tác hại hiệu ứng nhà kính thứ 7 trong một loạt các báo cáo về tác
hại của hiệu ứng nhà kính kể từ năm 2004. (VNexpress)
Kết quả là, tỷ lệ CO
2
và các khí Methane, Nitrogen Oxides và CFC trong khí
quyển tăng nhanh, làm cho trái đất ấm lên. Điều này đang gây ra nhiệt độ trung bình
tăng lên, làm xảy ra thường xuyên hơn các sự kiện thời tiết khắc nghiệt, lũ lụt, hạn hán
dài hạn, tan chảy băng cực và sông băng và tăng mực nước biển. Các mối quan hệ giữa
nhiệt độ tăng và mực nước biển trong 100 năm qua được thể hiện qua đồ thị sau đây.
4


5

đầu của cuộc Cách mạng công nghiệp trong những năm 1700 trong Châu Âu và sau
đó ở Bắc Mỹ. (Nguồn: Kirby, A. 2008. Khí hậu ở Peril, UNEP/GRID)
Một bản đồ được đưa ra tại Bảo tàng Khoa học ở London cho thấy rằng lục
địa sẽ nóng lên nhanh hơn so với biển, và nơi vĩ độ cao, đặc biệt là Bắc cực, sẽ có
gia tăng nhiệt độ lớn hơn các vùng khác.
Các hiện tượng b
ão mạnh hơn và thường xuyên hơn, đêm ấm áp hơn, ngày
dài hơn và nóng hơn là vài trong số những bằng chứng phổ biến nhất mà biến đổi
khí hậu là có thật. Những chứng cứ, tuy nhiên, thường bị nhầm lẫn với những thay
đổi thời tiết. Từ phổ biến cụm từ "khí hậu là những gì bạn mong đợi, trong khi thời
tiết là những gì bạn nhận được", thay đổi thời tiết là b
iểu hiện khác nhau của nhiệt
độ, mưa, và gió…. Biến đổi khí hậu, đề cập đến sự khác biệt trong điều kiện thời
tiết trung bình trong một thời gian nhất định, một tháng, 10 năm đến hàng ngàn
hoặc hàng triệu năm.
Ngày nay, khí hậu thay đổi là một mối quan tâm toàn cầu, đặc biệt là trong
lĩnh vực nông nghiệp. Bằng chứng về biến đổi khí hậu là khả năng cu
ng cấp thực
phẩm hạn chế, thay đổi mùa vụ trồng trọt, tăng tỷ lệ sâu bệnh, phân phối cung cấp
nước, và buộc người nông dân để thích nghi bằng cách sử dụng các nguồn tài
nguyên ít ỏi.
Báo cáo của IPCC (2001) nhấn mạnh rằng "sản lượng một số cây trồng ở các
vùng nông nghiệp nhiệt đới sẽ giảm do sự sụt giảm lớn về lượng
mưa’
Những dự báo thực tế rằng lĩnh vực nông nghiệp sẽ dễ bị tổn thương nhất với
biến đổi khí hậu, vì nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện nước và khí hậu. Biến đổi
khí hậu đặt ra mối đe dọa và rủi ro đối với sản xuất nông nghiệp nói chung, và đặc
biệt đối với nông dân nghèo. Trớ tr

khoảng 1
0
C từ giữa những năm 1950.

Hiệu ứng nhà kính

K H Í Q U Y Ể N
MẶT TRỜI
Bức xạ không qua được
lớp khí nhà kính
(240 W/m
2
)

Một số bức xạ bị phản xạ
lại bởi khí quyển và bề
mặt đất.
(103 W/m
2
)

Một số bức xạ hồng ngoại
vượt qua lớp khí quyển
vào không gian.
(240 W/m
2
)

Hình 1.5: Nghiên cứu mới khẳng định toàn cầu đang thật sự nóng lên
Con số này khớp với các ước tính của Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ
(NASA), Cục Khí hậu và đại dương quốc gia Mỹ (NOAA), Cơ quan khí tượng
Anh…Các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy sự thay đổi nhiệt độ
nước biển ở bắc Đại Tây Dương có thể là nguyên nhân chính làm nhiệt độ trung
bình trên Trái đất thay đổi từ năm
này sang năm khác.
Nhóm này bày tỏ lo ngại các nhà khoa học khí hậu đã không công bố toàn bộ
dữ liệu họ có ra trước công chúng, dẫn đến nhiều ý kiến nghi ngờ về toàn cầu ấm
lên và khẳng định “khoa học nên công khai, dữ liệu khoa học nên được công bố”.
Theo tờ Guardian, nghiên cứu trên là cuộc đánh giá độc lập toàn diện nhất về
các ghi nhận nhiệt độ Trái đất từ trước tới nay. (Tuổi trẻ On
line; 22/10/2011)
Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC năm 2007, nhiệt độ trung bình
toàn cầu đã tăng khoảng 0,74
0
C trong thời kỳ 1906 - 2005 và tốc độ tăng của nhiệt
độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó. Nhiệt độ trên lục địa
tăng nhanh hơn so với trên đại dương (IPCC, 2007).
Bão mạnh hơn: Sự nóng lên toàn cầu làm tăng nhiệt độ đại dương và tốc độ
bốc hơi nước, làm gia tăng mưa bão. Biến đổi khí hậu
, thông qua sự nóng lên toàn
cầu, đã tăng số lượng, tần suất và cường độ các trận bão ở nhiều nơi trên thế giới
trong những năm qua.
Nhiệt độ không bình thường (
0
C)
Nhiệt độ trung bình bề mặt đất theo thập kỷ
1.1.3 Biến đổi khí hậu trong những năm gần đây
Nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo nên do sự cân bằng giữa năng lượng mặt trời
đến bề mặt trái đất và năng lượng bức xạ của trái đất vào khoảng không gian bên
ngoài hành tinh chúng ta. Năng lượng mặt trời chủ yếu là các tia sóng ngắn dễ dàng
xuyên qua cửa sổ khí quyển. Trong khi đó, bức xạ của trái đất là sóng dài có năng
lượng thấp, dễ dàng bị khí quyển giữ lại.
Các tác nhân gây ra sự hấp thụ bức xạ
sóng dài trong khí quyển là khí CO
2
, bụi, hơi nước, khí mêtan, khí CFC Kết quả
của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa trái đất với không gian xung
quanh sẽ dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất. Hiện tượng này diễn
ra theo cơ chế tương tự như nhà kính trồng cây và được gọi là hiệu ứng nhà kính.
Khí nhà kính bao gồm carbon dioxide (CO
2
), chlorofluorocarbons (CFC's),
methane (CH
4
), nitrous oxide (N
2
0), tropospheric ozone (O
3
), và hơi nước. Mỗi
một phân tử của khí ga được tạo thành năng lượng bởi tia sóng dài, sau đó phân tử
này phát năng lượng ra theo các hướng, đó chính là hiện tượng đã làm tăng nhiệt độ
trên trái đất. Hiệu ứng nhà kính là hiện tượng tự nhiên để bảo toàn nhiệt độ trung
9

động khác của con người là những nguyên nhân chính gây nên những biến động
khí CO
2
trong khí quyển. Sự gia tăng khí CO
2
và các khí nhà kính khác trong khí
quyển làm nhiệt độ trái đất tăng. Theo tính toán của các nhà khoa học, khi nồng độ
CO
2
trong khí quyển tăng gấp đôi, thì nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên khoảng 3
o
C.
Các số liệu nghiên cứu cho thấy nhiệt độ trái đất đã tăng 0,5
o
C trong khoảng thời
gian từ 1885-1940 do thay đổi của khí CO
2
trong khí quyển từ 0,027% lên 0,035%.
Dự báo, nếu không có biện pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ
tăng lên 1,5- 4,5
o
C vào năm 2050.
Sự gia tăng nhiệt độ trái đất do hiệu ứng nhà kính có tác động mạnh mẽ tới
nhiều mặt của môi trường trái đất. Kể từ những năm 1860, khi nền công nghiệp
phát triển cùng với những cánh rừng bị thu hẹp đã làm cho CO
2
trong khí quyển
tăng lên tới mức 100 phần triệu và nhiệt độ ở Bắc bán cầu cũng tăng lên. Và hiện
tượng này có xu hướng gia tăng nhanh hơn kể từ những năm 1950.
Với vai trò đặc biệt quan trọng trong cân bằng O

1-3m làm ngập các vùng thấp ven biển phía nam của Bangladesh, đồng bằng sông
Cửu Long ở Việt Nam và một phần lớn diện tích các bang Florida và Louisiana của
Mỹ, nhiều hòn đảo trên Thái Bình Dương sẽ biến mất trên bản đồ thế giới. Hình 1.6
đã so sánh lượng C phát thải và tích tụ toàn cầu, dữ liệu cho thấy t
rong suốt thập
niên 1990, lượng phát thải trung bình khoảng 8,5 PgC
1
/năm từ việc đốt cháy các
nhiên liệu hóa thạch và thay đổi sử dụng đất, trong khi đó tổng số carbon tích tụ
hàng năm ở các nguồn như rừng, đất, đại dương chỉ vào khoảng 5,6 PgC/năm.
Như vậy để cân bằng lượng C phát thải và tích tụ thì phải giảm thiểu hoặc tăng tích
tụ khoảng 2,9PgC/năm. (Nguồn: Woods Hole Research Center)

Hình 1.6: Thay đổi Carbon toàn cầu từ 1850-
2000
Ở Việt Nam, kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy biến đổi của các
yếu tố khí hậu và mực nước biển có những điểm đáng lưu ý sau: 1
PgC: 1 Petagram carbon= 1 tỷ tấn carbon
Sự thay đổi carbon (PgC/năm)
Phát thải từ nhiên liệu hóa thạch
Phát thải từ thay đổi sử dụng đất
Bể chứa từ các nguồn khác
Đại dương hấp thụ
Tích tụ trong khí quyển

Phát
thải

năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các
vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống. Lượng mưa
năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu p
hía Nam. Tính
trung bình trong cả nước, lượng mưa năm trong 50 năm qua (1958-2007) đã giảm
khoảng 2% (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ
TNMT, 2008).
- Không khí lạnh: Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ
rệt trong hai thập kỷ qua. Tuy nhiên, các biểu hiện dị thường lại thường xuất hiện
mà gần đây nhất là đợt không khí lạnh
gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong
tháng 1 và tháng 2 năm 2008 ở Bắc Bộ (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó
với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008).
- Bão: Những năm gần đây, bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn. Quỹ
đạo bão có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn,
nhiều cơn bão có đường đi dị thường hơn (Thông báo đầu t
iên của Việt Nam cho
Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2003).

Hình 1.7: Quỹ đạo của bão
ở Tây Bắc Thái Bình
Dương và Biển Đông
lượng dioxit carbon là 0,020%, tức 200ppm
2
. Các giá trị đó thấp hơn
1
/
3
so với mức 2
ppm: (percent per millions) 1 phần triệu
13

ở thời kỳ tiền công nghiệp (trước cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ 18) là
279 – 280ppm và vào cuối thế kỷ 19, tỷ lệ tăng lên 290ppm. Kết quả phân tích của
Đài thiên văn Mauna Loa (trên đảo Hawaii) cho biết hàm lượng CO
2
khí quyển
năm 1958 là 315ppm. Đến năm 1989 việc phân tích đã cho thấy hàm lượng dioxit
carbon đã tăng lên 350ppm và đến năm 1990 là 354ppm. Như vậy, trong thời gian
khoảng một thế kỷ, nghĩa là từ năm 1850 đến nay, hàm lượng dioxit carbon trong
khí quyển đã tăng lên 25%. Việc đo lường loại khí này trong băng của các cực đới
đã cho thấy rõ từ 150 thiên niên kỷ nay chưa bao giờ hàm lượng dioxit carbon trong
khí quyển lại tăng lên nhanh đến như vậy. Hiện tại tỷ lệ khí
CO
2
tăng trong không

trong không khí bao gồm:
- Các nhà máy công nghiệp và các hoạt động khác của con người trên toàn cầu
đã đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ và khí đốt) hơn 10 tỷ tấn
quy ra than đá trong một năm. Đó chính là nguyên nhân làm gia tăng hàm lượng
dioxit carbon trong khí quyển
- Từ những kết quả nghiên cứu của mình, Viện Tài nguyên thế giới (World
Ressousces Institute) cho rằng xã hội loài người từ 1860 – 1949 đã thải vào khí
quyển khoảng 51 tỷ tấn
carbon dưới dạng dioxit carbon thông qua hình thức duy
nhất là sử dụng các nhiên liệu hóa thạch. Sau đó nhịp độ thải khí CO
2
gia tăng
14

và đạt tới 130 tỷ tấn bổ sung từ 1950 đến 1987. Nếu người ta cộng thêm vào đó
khối lượng khí carbonic phát thải do việc đốt phá rừng từ 1860 thì đến năm
1987 khối lượng carbon thải vào khí quyển đạt tới tổng số 241 tỷ tấn chỉ trong
vòng hơn một thế kỷ.
- Các số liệu được đưa ra bởi các cơ quan nghiên cứu của các nước khác nhau, dù
được diễn đạt dưới những
hình thức và kết quả khác nhau đều khẳng định rằng
sự gia tăng hàm lượng CO
2
trong khí quyển là một điều xác thực. Hiện nay,
người ta ước tính rằng hàng năm việc đốt nhiên liệu hóa thạch đã phát thải vào
khí quyển 5,5 tỷ tấn dioxit carbon.
- Tỷ lệ phát thải CO

17.8
Trung Quốc
4
6.6
Nhật Bản
6
3.9
Inđônêxia
9
2.4
Philippin
18
1.2
Việt Nam
28
0.7
Malaixia
37
0.4
- Hoạt động giao thông vận tải cũng là một nguyên nhân quan trọng làm phát
thải khí carbonic và các loại khí khác. Một nghiên cứu cho biết hoạt động của
các ôtô Mỹ trong một năm đã phát thải vào không khí khoảng 72 triệu tấn
CO
2
.

i

chết 37 người sống gần đó.

1.2. Tác động của biến đổi khí hậu
Tác động từ biến đổi khí hậu được phân loại làm hai mức độ, mức thứ nhất
bao gồm các tác động của nhiệt độ tăng trên môi trường vật lý:
• Các sông băng tan chảy nhanh hơn so với dự đoán
• Dòng chảy của băng từ những
sông băng ở Greenland đã tăng hơn gấp đôi
trong thập kỷ qua.
• Các chỏm băng Bắc Cực đoạn biển giữa Bắc Mỹ và Nga đã gần như hình
thành vào mùa hè gần đây
• Mực nước biển toàn cầu tăng lên, đặc biệt là ở các vùng đồng bằng sông
thấp, vùng các quốc đảo nhỏ
• Số lượng nhóm cơn bão lớn đã gần n
hư tăng gấp đôi trong 30 năm qua
• Gần 300 loài thực vật và động vật đang di chuyển gần hơn với các cực
• Những đợt nắng nóng đang trở nên thường xuyên hơn và mạnh hơn
• Hạn hán và cháy rừng xảy ra thường xuyên hơn.
Bởi vì con người chúng ta phụ thuộc vào môi trường vật lý cho tất cả các
nguồn lực chúng ta cần như nước, thực phẩm,
quần áo, chỗ ở, hàng hóa sản xuất,
16

vận tải, năng lượng, việc làm, vui chơi giải trí, vv – cho nên biến đổi khí hậu tác
động đến các nguồn tài nguyên chúng ta cần như:
• Nước - bao gồm cả hạn hán, nguồn cung cấp nước, chất lượng nước
• Thực phẩm - bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp

không có khả năng thích nghi với những thay đổi trong điều kiện môi trường khắc
nghiệt. Mức độ đa dạng sinh học bị suy giảm và rủi ro hơn bởi vì biến đổi khí hậu.
Thế giới chỉ còn 5 năm hành động để các hiện tượng thời t
iết cực đoan, thay
đổi khí hậu bất thường không diễn ra, theo Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA).
Với xu hướng hiện nay, “việc sử dụng năng lượng hóa thạch ngày càng tăng
sẽ dẫn tới thay đổi khí hậu dạng thảm họa và không thể thay đổi được”. Để khí hậu
17

không biến đổi đến mức không thể kiểm soát, các nhà khoa học và chính phủ khắp
thế giới đã chấp nhận mức tăng nhiệt độ toàn cầu tối đa là 2
0
C.
Hình 1.9: Nhà máy nhiệt điện chạy than thải nhiều khí CO
2
. (Nguồn: hecweb.org)

Tuy nhiên, ngưỡng này có thể sớm bị vượt qua trong 5-6 năm tới, khi mà các
nhà máy điện, nhà máy sản xuất cùng các nguồn phát thải khác vẫn liên tục thải khí
gây hiệu ứng nhà kính, trong đó có CO
2
.
Để khí hậu thay đổi mạnh, trong khi vẫn đáp ứng nhu cầu năng lượng, các
chính phủ phải giảm thiểu sử dụng năng lượng hóa thạch, IEA nói cụ thể là giảm
trợ cấp cho sản xuất, mua bán, sử dụng năng lượng hóa thạch, hỗ trợ việc phát triển
năng lượng tái tạo, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng, đánh thuế phát thải
carbon…Nếu

và chính trị cho các chính phủ cần giải quyết. Biến đổi khí hậu còn là vấn đề đạo
đức, bởi vì các thảm họa khí hậu tác động nhiều đến những người nghèo trên thế
giới.
Trong một bài phát biểu tại Diễn đàn Thanh niên thế giới năm 2
007 tại
Kampala, Mark Collins nói rằng biến đổi khí hậu là vấn đề quan trọng nhất đối với
thế giới: "Nếu các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đã được viết ngày hôm nay,
giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu sẽ đứng đầu danh sách". Chúng ta đã qua giai
đoạn nửa chặng đường hướng tới mục tiêu năm 2015 đối với các Mục tiêu Phát
triển T
hiên niên kỷ (MDGs), nhưng hiệu quả là tụt lại phía sau, ít nhất một phần là
do tính bền vững môi trường không được giải quyết đầy đủ. Trừ khi chúng ta có thể
kiểm soát nạn phá rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, đảm bảo nguồn cung cấp nước và
địa chỉ [carbon] ô nhiễm là nguyên nhân gây biến đổi khí hậu, nghèo đói sẽ luôn
luôn theo dõi thế giới. (Nguồn: Collins, M.(2008) Biến đổi khí hậu: Một vấn đề ưu
tiên cho
Khối thịnh vượng chung.)
Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng những tác động của biến đổi khí hậu đến
các nước nghèo nhất trên thế giới là rất quan trọng. Điều này là do các nước đang
phát triển dễ bị tác động bởi các sự kiện thời tiết khắc nghiệt (như lũ lụt, hạn hán và
bão) và những thay đổi khác so với các
nước giàu. Biến đổi khí hậu sẽ làm:
• Tổn hại năng suất nông nghiệp trên khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
(an ninh lương thực đe dọa)
• Nguồn nước giảm hơn nữa số lượng và chất lượng ở các vùng khô hạn và
bán khô hạn (nơi các cộng đồng nghèo phụ thuộc vào lượng mưa cho cây trồng của
họ và nước uống)
• Tăng
tỷ lệ mắc bệnh sốt rét, sốt xuất huyết và các bệnh truyền nhiễm (nơi
các dịch vụ y tế kém và số người chết yếu sẽ tăng)

Tháng 2 năm 2011, Ngân hàng Thế giới cho biết có khoảng 44 triệu người tại
các nước đang phát triển đã bị rơi vào tình trạng nghèo đói khốn cùng do kết quả
của giá lương thực tăng cao.
Phát thải CO
2
bình quân đầu
người năm 2007
Tấn C

Trích đoạn Ứng dụng GIS trong giỏm sỏt thay đổi sử dụng đất và phỏt thải khớ CO2 – Vai trũ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status