thuật hoài của phạm ngũ lão - Pdf 25

Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão
Tài liệu khác về bài Thuật hoài ( Phạm Ngũ Lão )
1.Văn học Việt Nam giai đoạn thế kỷ X đến thế kỷ XIV phát triển trong hoàn cảnh lịch
sử đặc biệt: Dân tộc ta dành được quyền độc lập tự chủ vào cuối thế kỷ X, lập nhiều kỳ tích
trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược (chống quân Tống thế kỷ XI, chống quân
Nguyên – Mông thế kỷ XIII). Sau những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là công cuộc xây
dựng đất nước trong hoà bình. Chế độ phong kiến Việt Nam đang ở thời kỳ phát triển.
Những người cầm bút là vua quan, tăng lữ và nhà Nho. Sáng tác của họ ít nhiều đều chịu
ảnh hưởng tư tưởng của Nho, Phật, Đạo giáo và đều in dấu ấn tâm lý của tầng lớp trên
nhưng nói chung vẫn tiếp thu được truyền thống tinh thần của dân tộc, gắn bó với đất nước,
vẫn thể hiện tâm hồn, khí phách cao đẹp Việt Nam.
2. Ra đời ở thời Trần và Hồ, văn học Việt Nam phản ánh rõ nét “hào khí Đông A”.Thuật hoài
(Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão là một bài thơ như thế. Phạm Ngũ Lão (1252 - 1320) – người
làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, tỉnh Hưng Yên, là con rể của Trần Hưng Đạo, được giữ đội
quân hữu vệ. Ông có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông, từng
được gọi là người văn võ toàn tài. Dựa vào văn bản thơ, có thể nhận ra bài thơ được Phạm
Ngũ Lãosáng tác trong không khí quyết chiến, quyết thắng của đời Trần khi giặc Nguyên –
Mông xâm lược.
Thuật hoài
Phiên âm:
Hoành sóc giang san kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu
Nan nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.
Dịch nghĩa:
Cầm ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu,
Ba quân như hổ báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu.
Thân nam nhi mà chưa trả xong nợ công danh,
Thì luống thẹn thùng khi nghe người đời kể chuyện Vũ hầu.
Dịch thơ:
Bản dịch 1:

Tam quân tì hổ khí khôn ngưu
“Tam quân” là chỉ quân đội, dân tộc; “Ngưu” có nghĩa: là sao Ngưu, là trâu. Hình ảnh ba
quân trong tư thế xông lên giết giặc với khí thế bừng bừng. Thủ pháp nghệ thuật so sánh
vừa cụ thể hoá sức mạnh vật chất vừa hướng tới sự khái quát hoá sức mạnh tinh thần của
“hào khí Đông A”. Câu thơ gây ấn tượng mạnh bởi sự kết hợp giữa hình ảnh khách quan và
cảm nhận chủ quan, giữa hiện thực và lãng mạn. Tác giả Trần Trọng Kim dịch là “Ba quân
hùng khí át sao Ngưu”, còn Bùi Văn Nguyên dịch là “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”. Tôi
thích cách dịch của Trần Trọng Kim, bởi lẽ dịch “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu” nói được
sức mạnh, khí thế dũng mãnh “Sát Thát” của quân đội, sẵn sàng lăn xả vào bọn giặc dữ một
khi chúng tràn tới nhưng chưa nói được tầm vóc. Hơn nữa dịch “át sao Ngưu” câu thơ có
lẽ giàu hình ảnh, gợi cảm hơn, kết hợp với câu thơ thứ nhất mở ra cả một không gian rộng
lớn, vì thế ý thơ cũng giàu sức khái quát hơn. Hai câu thơ nhỏ mà mang hai hình ảnh lớn:
Hình ảnh một tráng sĩ cắp ngang ngọn giáo đi cứu nước ròng rã bao năm mà chưa hề mảy
may mệt mỏi. Hình ảnh “ba quân” xông lên giết giặc bừng bừng hùng khí át cả sao Ngưu,
nghĩa là át cả trời cao. Bút pháp miêu tả, so sánh, phóng đại, phép đối hài hoà, giọng thơ
hào hùng, sôi nổi tạo ra cách nói hấp dẫn và ấn tượng. Hình ảnh tráng sĩ còn có tính chất cụ
thể ít nhiều, hình ảnh ba quân thì rõ ràng chỉ từ ấn tượng, từ cảm hứng chủ quan, dĩ nhiên
là rất mãnh liệt và sảng khoái. “Ở đây chủ quan mà lại chân thực, chân thực của ấn tượng
chứ không phải chân thực của thị giác. Chân thực ở cái hồn của sự việc chứ không phải ở sự
việc cụ thể. Xét cho cùng, chính đó là cái chân thực của thời đại, của đất nước” (Nguyễn
Đình Chú).
Nếu cái tư thế của tráng sĩ với hình ảnh cây trường giáo như đo bằng chiều ngang của non
sông thì tư thế của ba quân lớn mạnh đo bằng chiều dọc. Nghĩa là không gian mở ra theo
chiều rộng của núi sông và mở theo chiều cao đến tận sao Ngưu thăm thẳm. Con người kì vĩ
như át cả không gian bao la trong một bối cảnh không – thời gian kì vĩ. Hình ảnh tráng sĩ
lồng vào trong hình ảnh dân tộc thật đẹp có tính chất sử thi, hoành tráng. Đó chính là sức
mạnh, âm vang của thời đại, vẻ đẹp của người trai thời Trần. Đó chính là sản phẩm của “hào
khí Đông A”. Nói cách khác, đó là hình ảnh con người vũ trụ, mang tầm vóc lớn lao. Con
người mang tầm vóc của vũ trụ này vì ai mà xông pha, quyết chiến ? Tất cả xuất phát từ
trách nhiệm, ý thức dân tộc và nền thái bình đất nước Vì thế con người vũ trụ gắn với con

thành với chủ. Vì thế “luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu” thực chất là một lời thề suốt đời
tận tuỵ với chủ tướng Trần Hưng Đạo, “thẹn” còn được hiểu là cách nói thể hiện khát vọng,
hoài bão muốn sánh với Vũ hầu. Xưa nay, những người có nhân cách vẫn thường mang
trong mình nỗi thẹn. Nguyễn Khuyến trong bài thơ “Thu vịnh” từng bày tỏ nỗi thẹn khi nghĩ
tới Đào Tiềm – một danh sĩ cao khiết đời Tấn. Đó là nỗi thẹn của người có nhân cách. Trong
bài Thuật hoài,Phạm Ngũ Lão thẹn vì chưa trả xong nợ nước. Đó là nỗi thẹn có giá trị nhân
cách. Nỗi thẹn ấy không làm cho con người trở nên nhỏ bé mà trái lại nâng cao phẩm giá
con người. Đó là cái thẹn của một con người có lý tưởng, hoài bão vừa lớn lao, vừa khiêm
nhường. Nỗi thẹn của một con người luôn dành trọn cái tâm cho đất nước, cho cộng đồng.
Như vậy, Phạm Ngũ Lão vừa đề cao cái chí, vừa đề cao cái tâm của con người Việt Nam đời
Trần. Đó chính là con người hữu tâm trong thơ ca trung đại Việt Nam.
7.Kết luận:
Bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão đã thể hiện được quan niệm về con người trong văn
học phương Đông. Hình ảnh tráng sĩ – con người Việt Nam đời Trần vừa mang tầm vóc vũ
trụ, vừa có ý thức, trách nhiệm cộng đồng, vừa lắng sâu một nỗi lòng cao cả. Nói cách khác
3 kiểu con người: con người vũ trụ, con người cộng đồng và con người hữu tâm đồng hiện,
hài hoà. Chính ý thức trách nhiệm với đất nước (con người cộng đồng) nên sẵn sàng xông
pha cứu nước với tư thế và tầm vóc lớn lao (con người vũ trụ) và luôn biết nghĩ suy, khát
vọng (con người hữu tâm) Dáng đứng Việt Nam, con người Việt Nam đời Trần cao đẹp làm
sao!
“Bài thơ nêu cao lý tưởng trai thời loạn. Lý tưởng trai thời loạn là “cắp ngang ngọn giáo”,
luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu dẹp giặc cứu nước. “Nợ công danh” lúc này là trách nhiệm
của người thanh niên đối với đất nước khi có giặc ngoại xâm Người thanh niên thời đại ấy
đã ý thức được trách nhiệm cao cả của mình đối với Tổ quốc. Từ bài thơ còn nổi lên hình ảnh
quân đội cứu nước, ngùn ngụt khí thế của hổ báo nuốt trâu. (Nguyễn Sĩ Cẩn)
“Cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ non sông. Ngọn giáo ấy phải đo bằng chiều ngang của
non sông. Thế thì con người cầm ngang ngọn giáo bảo vệ Tổ quốc ấy tất phải được đo bằng
kích thước của trời đất. Con người có tầm vóc vũ trụ như vậy đã đồng nhất với non sông .
Tầm vóc hoành tráng, tư thế vững chắc ấy của dân tộc ta có cơ sở từ tinh thần làm chủ đất
nước sâu sắc, từ ý chí bảo vệ đất nước rất kiên cường. Với tinh thần ấy, nhân dân ta đã làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status