i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho em được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trường
Học viện Chính sách và Phát triển nói chung và các thầy cô trong Khoa Chính
sách công nói riêng đã tận tình, chỉ bảo và tạo những điều kiện học tập tốt
nhất cho chúng em trong suốt những năm học qua. Đặc biệt, em xin gửi lời
cảm ơn đến Th.S. Nguyễn Thị Thu – cô đã trực tiếp hướng dẫn, quan tâm,
giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập cũng như làm báo cáo thực tập và
khóa luận tốt nghiệp.
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch Lạng Sơn, Phòng Nghiệp vụ Du lịch và cảm ơn anh
Trần Anh Tuấn – Phó trưởng phòng Nghiệp vụ Du lịch đã tạo điều kiện cũng
như chỉ bảo, hướng dẫn em tận tình trong suốt quá trình thực tập.
Do thời gian có hạn và sự hiểu biết còn hạn chế nên báo cáo nghiên cứu
này khó tránh khỏi thiếu sót. Em mong sẽ nhận được góp ý và hướng dẫn của
thầy cô để nghiên cứu này của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Vi Hồng Nga
SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG. 4
1.1. Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.1. Khái niệm chính sách 4
1.1.2. Khái niệm du lịch 7
1.1.3. Khái niệm phát triển bền vững 7
1.1.4. Khái niệm du lịch bền vững 8
1.2. Vai trò của phát triển du lịch bền vững 9
1.3. Các điều kiện cơ bản tạo môi trường cho phát triển du lịch bền vững 10
1.4. Kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển du lịch bền vững 11
1.5. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch bền vững ở
Việt Nam 13
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ THỰC
THI CÁC CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƢỚNG
BỀN VỮNG CỦA LẠNG SƠN 17
2.1. Vài nét khái quát về Lạng Sơn 17
2.1.1. Vị trí địa lý 17
2.1.2. Kinh tế 17 vi
2.1.3. Văn hóa – xã hội 18
2.1.4. Vị trí, vai trò của du lịch ở Lạng Sơn. 20
2.2. Giới thiệu về các cơ quan quản lý ngành du lịch tại Lạng Sơn 21
2.2.1. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lạng Sơn .…………………………22
2.2.2. Ban quản lý di tích 23
2.2.3. Trung tâm xúc tiến du lịch 24
2.2.4. Ban quản lý khu du lịch Mẫu Sơn 25
2.2.5. Giới thiệu phòng Nghiệp vụ Du lịch 26
2.3. Tổng quan về tình hình phát triển du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh
Lạng Sơn 27
Giao thông, vận tải
Hội đồng nhân dân
KHĐT
Kế hoạch đầu tư
TNMT
Tài nguyên môi trường
TPLS
Thành phố Lạng Sơn
VHTTDL
Văn hóa, thể thao và du lịch
VH,GĐ
Văn hóa, gia đình
UBND
TDMNBB
TTXTDL
Ủy ban nhân dân
Trung du miền núi Bắc Bộ
Trung tâm xúc tiến du lịch vi
kì hội nhập” của Th.S. Cao Hoàng Hà và các báo cáo về thực trạng nguồn
nhân lực du lịch, báo cáo về tiềm năng, thế mạnh, thực trạng, định hướng phát
triển du lịch của Sở VHTTDL Lạng Sơn đã chỉ ra rằng, công tác quản lý vẫn
chưa kiện toàn, một số các quy hoạch diễn ra không đúng dự kiến và chậm
tiến độ, ngành du lịch chưa tương xứng với tiềm năng, tài nguyên du lịch khai
thác đơn lẻ, chưa có mối liên kết đồng bộ giữa các điểm, tuyến du lịch.
Dựa trên kinh nghiệm của nước ngoài cũng như một số tỉnh trong cả
nước ta có thể nhận thấy rằng du lịch phát triển bền vững là một tất yếu khách
2
quan, cần thiết để góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nâng
cao được trách nhiệm giữa các bên tham gia, cũng như đem lại hiệu quả kinh
tế cao cho địa phương. Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài nghiên cứu: “ Quá
trình thực hiện chính sách phát triển du lịch theo hướng bền vững ở Lạng
Sơn” . Nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi:
- Quá trình thực hiện chính sách phát triển du lịch ở Lạng Sơn đã được
thực hiện như thế nào? Các chính sách đã được thực hiện theo hướng bền
vững hay chưa? Cần có giải pháp chính sách gì giúp cho du lịch ở Lạng Sơn
phát triển theo hướng bền vững?
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu: Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là làm rõ thực trạng quá
trình thực hiện các chính sách phát triển du lịch ở Lạng Sơn, những bất cập
nảy sinh từ công tác quản lý các hoạt động du lịch, từ đó đưa ra một số biện
pháp nhằm hoàn thiện chính sách phát triển du lịch bền vững ở Lạng Sơn.
Nhiệm vụ nghiên cứu: để đạt được mục tiêu trên, đề tài thực hiện những
nhiệm vụ là:
Nghiên cứu lý luận chung về du lịch và phát triển du lịch bền vững để
có cái nhìn khái quát về các đặc điểm của ngành du lịch.
Nghiên cứu các chính sách du lịch cơ bản của Lạng Sơn đồng thời
phân tích, đánh giá về quá trình thực thi các chính sách du lịch theo hướng
4
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH VÀ CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG.
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm chính sách
Khái niệm chính sách
Cho đến nay trên thế giới, đã có nhiều cuộc tranh luận về định nghĩa
chính sách hay chính sách công, thuật ngữ này ngày càng được sử dụng rộng
rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo đài, tivi,… cũng như
trong đời sống xã hội.
Có thể hiểu một cách đơn giản, chính sách là chương trình hành động
do các nhà lãnh đạo hay các nhà quản lý đề ra nhằm giải quyết một số vấn đề
nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình.
Trong từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như
sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ
thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào
tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa”.
1
Chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở các tầng nấc khác nhau: có
thể là chính sách của Liên hợp quốc, của Chính phủ, chính quyền, địa
phương,… nhưng cũng có thể là chính sách của doanh nghiệp, đoàn thể, tổ
chức ban hành.
Khái niệm chính sách công
Từ các khái niệm về chính sách, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những
khái niệm cụ thể về chính sách công. Cụ thể như, Peter Aucoin (1971) đưa ra
định nghĩa: “Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến
hành”
Một tiến trình chính sách có thể quy về 3 giai đoạn cơ bản là: hoạch
định chính sách, thực thi chính sách và đánh giá chính sách.
Hình 1.1. Sơ đồ quy trình hoạch định chính sách
Các giai đoạn này có liên hệ chặt chẽ với nhau theo nguyên tắc: giai
đoạn trước là nền tảng cho giai đoạn tiếp theo và kết quả của giai đoạn trước
là thông tin cần và đủ cho giai đoạn tiếp theo. Về thực chất, khó có thể miêu
tả tiến trình chính sách một cách đơn giản, rõ ràng, vì nó vừa có tính liên tục,
vừa có tính biến động. Thực tế cho thấy rất khó xác định một chính sách nào
đó hoàn toàn ổn định trong một thời gian dài vì chúng thay đổi thường xuyên
và cần được điều chỉnh, bổ sung theo hướng ngày càng hoàn thiện. 1
Thuật ngữ hành chính, Viện nghiên cứu khoa học hành chính, Học viện chính trị - hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội, 2009.
2
Thuật ngữ hành chính, Viện nghiên cứu khoa học hành chính, Học viện chính trị - hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội, 2009.
3
Giáo trình Chính sách công, Học viện Chính sách và Phát triển, Hà Nội, 2012.
6
Hoạch định chính sách là toàn bộ quá trình nghiên cứu, xây dựng và
ban hành đầy đủ một chính sách. Hoạch định chính sách là điểm khởi đầu
trong tiến trình chính sách nhằm cho ra đời một chính sách có ảnh hưởng tốt
đến đời sống kinh tế - xã hội, là công cụ quản lý của Nhà nước để vừa định
hướng, vừa khuyến khích và điều tiết các quá trình kinh tế - xã hội vận động
phát triển. Hoạch định chính sách được coi là nguyên liệu đầu vào, đồng thời
cũng là kết quả đầu ra của các quá trình quản lý nói chung, quản lý Nhà nước
Trong Luật du lịch Việt Nam: “Du lịch là các hoạt động có liên quan
đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm
đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng
thời gian nhất định.
2
Có thể khái quát lại: Du lịch chính là hoạt động của con người có liên
quan đến các chuyến đi ra khỏi nơi thường trú của họ để tham quan, vui chơi
giải trí, nghỉ dưỡng hay các mục đích khác như kết hợp đi công tác,… trong
một khoảng thời gian nhất định.
1.1.3. Khái niệm phát triển bền vững
Thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu tiên được xuất hiện trong ấn
phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới được công bố năm 1980 bởi Hiệp hội Bảo
tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên quốc tế (IUCN) với nội dung: “Sự
phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn
phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi
trường sinh thái học”.
3
Năm 1987 khái niệm này được phổ biến rộng rãi nhờ báo cáo
Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED) định nghĩa
này được phát biểu như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng
những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng phát triển của các
thế hệ tương lai”
4
. Sau này cũng có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về
phát triển bền vững nhưng cơ bản đều xuất phát từ định nghĩa này.
c) “Du lịch bền vững là du lịch giảm thiểu các chi phí, nâng cao tối đa
lợi ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể
thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ thuộc”.
d) Ở Việt Nam, du lịch bền vững bao gồm các loại hình du lịch như: du
lịch sinh thái, du lịch có trách nhiệm, du lịch cộng đồng, du lịch xanh.
“Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với
bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển
bền vững”.
3
Du lịch có trách nhiệm được hiểu là trách nhiệm của các tổ chức và
khách du lịch về kinh tế, xã hội, môi trường trong tất cả các lĩnh vực hoạt 1
Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), 1996.
2
Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (WECD), 1996.
3
Theo Luật Du lịch 2005.
9
động của du lịch, từ các quy hoạch, chính sách đến khai thác tài nguyên, sản
phẩm, dịch vụ du lịch,…
Du lịch cộng đồng là hình thức du lịch huy động cộng đồng dân cư
tại địa phương đó tham gia làm du lịch với mục tiêu giữ gìn, bảo vệ và phát
huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, bảo vệ môi trường sinh thái, môi
trường xã hội nhằm phát triển bền vững.
Du lịch xanh là loại hình du lịch dựa vào tự nhiên và văn hóa, có
được coi là một ngành công nghiệp không khói góp phần không nhỏ vào tổng
doanh thu của cả nước, nhờ sự khai thác các danh lam thắng cảnh, đặc sản
văn hóa dân tộc, du lịch mua sắm,… giúp nâng cao đời sống của người dân
địa phương, giải quyết được vấn đề việc làm cho người dân lao động.
Phát triển du lịch bền vững giúp giải quyết các vấn đề xã hội. Nhờ
có công ăn việc làm cho người dân tại nơi có các điểm du lịch sẽ giúp giảm
bớt các tệ nạn xã hội, giảm bớt tình trạng ăn xin, chặt chém khách, cùng tạo ra
môi trường đôi bên cùng có lợi.
Việc cải thiện môi trường sống, kinh tế, xã hội luôn là mục tiêu quan
trọng trong tất cả các chính sách phát triển của các quốc gia. Trong lĩnh vực
du lịch, việc xây dựng các chính sách phát triển du lịch bền vững là rất cần
thiết, góp phần quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu quan trọng của
quốc gia.
1.3. Các điều kiện cơ bản tạo môi trƣờng cho phát triển du lịch bền vững
Các chính sách của Nhà nước, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng hay các
sản phẩm, dịch vụ du lịch,… luôn là các yếu tố cần thiết để tạo môi trường
cho sự phát triển du lịch. Cụ thể như:
Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước: để phát triển du lịch bền
vững cần có đường lối, quan điểm rõ ràng, một chính sách tốt, một chính
sách tốt là một chính sách định hướng được hướng đi, sử dụng, phân bổ hiệu
quả các nguồn tài nguyên sẵn có, phát huy được thế mạnh của từng vùng,
từng địa phương. Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động du lịch
luôn cần phải thực hiện thường xuyên, chặt chẽ nhằm hạn chế được các tác
động xấu đến môi trường tự nhiên cũng như môi trường sống của người dân
11
gần các điểm du lịch. Các quan điểm này cần phải được cụ thể hóa, rõ ràng.
Nếu như ở Trung ương có các nhóm chính sách cơ bản: chính sách đầu tư
phát triển cơ sở hạ tầng, chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư, chính sách
bảo vệ môi trường, Thì ở địa phương cần chú trọng các chính sách phát
Malaysia: phát triển du lịch xanh
Malaysia là đất nước có ngành Du lịch phát triển. Năm 2010, Malaysia
đã đón được 24,6 triệu lượt khách du lịch quốc tế và thu nhập từ du lịch đạt
17,93 tỷ USD. Mục tiêu phát triển du lịch của Malaysia đến năm 2020 trở
thành nước phát triển về du lịch hàng đầu trong khu vực và quốc tế.
Trong chiến lược phát triển ngành du lịch, Malaysia tập trung vào hai
hướng chính trọng điểm là: bảo vệ, bảo tồn và giữ gìn môi trường, phát triển
du lịch xanh, giải thưởng khách sạn xanh, chiến dịch quốc gia về một
Malaysia xanh, sạch và phát triển toàn diện, chú trọng tính cân bằng và tính
bền vững, nâng cao tầm quan trọng của lợi ích cộng đồng. Malaysia luôn có
các sáng kiến lôi kéo khách du lịch, tập trung vào thị trường có khả năng chi
trả cao, đẩy mạnh tiêu dùng của khách du lịch.
Indonesia: phát triển du lịch cộng đồng
Tư tưởng chính trong phát triển du lịch của Indonesia đó chính là tập
trung vào chất lượng du lịch. Indonesia có chủ trương phát triển du lịch dựa
vào cộng đồng, Chính phủ hỗ trợ cho thuê đất giá rẻ để cộng đồng làm du
lịch, đồng thời hướng dẫn và đào tạo cộng đồng về nghiệp vụ du lịch.
Một trong những điều làm nên thành công trong ngành du lịch của
Indonesia chính là việc tôn trọng ý kiến, phong tục của người bản địa, ban
hành các quy định, có chính sách bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hóa
truyền thống.
Nam Mỹ: phát triển du lịch cộng đồng, bảo vệ đa dạng sinh học
Du lịch ở Nam Mỹ được coi là một trong những công nghệ tạo nên lợi
tức nhất cho đất nước. Vì vậy, mà du lịch nơi đây luôn được chú trọng phát
triển và có nhiều thành công nhất là về du lịch bền vững, các hoạt động du
lịch hoàn toàn dựa vào thiên nhiên, văn hóa bản địa, phát triển cộng đồng, sự
nỗ lực bảo vệ đa dạng sinh học.
13
Điển hình, ở khách sạn Jamu, khách của khách sạn được tham quan
14
sát vừa tăng thêm lợi ích kinh tế; tăng cường đầu tư, đẩy mạnh tuyên truyền,
giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho mọi người để bảo tồn những di sản tự
nhiên, lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc.
Thực hiện chủ trương về phát triển bền vững trong lĩnh vực du lịch,
Chính phủ Việt Nam đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể trong chiến lược, quy
hoạch phát triển du lịch của từng vùng, cụ thể như:
Ngày 30 tháng 12 năm 2011 Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký Quyết
định số 2473/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” với quan điểm phát triển du lịch trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu đến 2030 Việt Nam trở thành
quốc gia có ngành du lịch phát triển. Trong quyết định này cũng đã nêu rõ:
Thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững; có chính sách ưu đãi đối
với du lịch sinh thái, du lịch “xanh”, du lịch cộng đồng, du lịch có trách
nhiệm. Đây là một yêu cầu lớn đặt ra đối với ngành du lịch, đòi hỏi phải có
chính sách hợp lý, phù hợp với từng địa phương, để phát triển du lịch một
cách hiệu quả và bền vững nhất.
Ngày 30 tháng 12 năm 2008 Quyết định số: 91/2008/QĐ-BVHTTDL
về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Trung du miền
núi Bắc Bộ đến năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Phạm vi của quy hoạch bao gồm 14 tỉnh vùng Trung du miền núi Bắc Bộ
(trong đó có Lạng Sơn) với mục tiêu góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và
đóng góp của ngành du lịch vào sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng
TDMNBB, đảm bảo phát triển du lịch gắn với yêu cầu giữ vững quốc phòng,
an ninh, trật tự an toàn xã hội và phát triển du lịch bền vững. Một số tuyến du
lịch quốc gia và quốc tế quan trọng như: Lạng Sơn – Hà Nội – các tỉnh
ĐBBB, Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn – Hà Nội - Hải Phòng - Quảng
Ninh,… Và một số điểm du lịch quốc gia dự kiến phát triển trong đó có Chùa
Tam Thanh, Động Nhị Thanh, Núi Vọng Phu, Núi Mẫu Sơn (Lạng Sơn), Cao
Âu, Đông Âu; đa dạng các nguồn kinh phí thực hiện chương trình, huy động
các nguồn vốn trong, ngoài nước, tập thể, cá nhân, xây dựng cơ chế tham gia
16
và huy động vốn đối với các đơn vị, doanh nghiệp tham gia hoạt động xúc
tiến quảng bá du lịch quốc gia thuộc Chương trình.
Nhằm quảng bá hình ảnh cũng như tiết kiệm chi phí và bảo vệ môi
trường du lịch, từ năm 2006, các nước thành viên ASEAN trong đó có Việt
Nam đã xây dựng tiêu chuẩn khách sạn xanh, đưa ra các yêu cầu cơ bản và
khung quy định đối với các sản phẩm dịch vụ du lịch và hướng dẫn nâng cao
chất lượng ngành du lịch ASEAN. Các nước thành viên đã thống nhất soạn
thảo gồm 11 nhóm tiêu chí về tiêu chuẩn Khách sạn xanh ASEAN gồm các
tiêu chí như: chính sách môi trường và hoạt động vận hành của khách sạn,
hợp tác với cộng đồng và các tổ chức ở địa phương, sử dụng nước hiệu quả,
sử dụng sản phẩm xanh,… Đến nay, Việt Nam đã vinh dự có 31 khách sạn
xanh ASEAN.
Ngoài ra, Bộ VHTTDL đã ban hành Quyết định số 1355/QĐ-
BVHTTDL ngày 12 tháng 4 năm 2012 về Bộ tiêu chí nhãn du lịch bền vững
bông sen xanh áp dụng đối với cơ sở lưu trú du lịch tại Việt Nam. Bộ tiêu chí
có 5 cấp độ, từ 1 bông sen xanh đến 5 bông sen xanh ghi nhận mức độ nỗ lực
trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững của CSLTDL, không phụ
thuộc vào loại, hạng mà CSLTDL đó được công nhận. Bộ tiêu chí Nhãn Bông
sen xanh được sắp xếp thành 4 nhóm. Nhóm A: quản lý bền vững, nhóm B:
tối đa hóa lợi ích kinh tế và xã hội cho cộng đồng địa phương, nhóm C: giảm
thiểu các tác động tiêu cực tới di sản văn hóa, di sản thiên nhiên, nhóm D:
giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường.
Từ vai trò của phát triển du lịch bền vững, từ kinh nghiệm của các nước
cũng như những nhìn nhận từ thực tế ngành du lịch ở Việt Nam. Có thể thấy
việc phát triển du lịch bền vững là một trong những chính sách quan trọng để
phát triển đất nước nói chung cũng như ngành du lịch nói riêng. Phát triển du
2.1.2. Kinh tế
Ngoài những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, văn hóa phong
phú,… Lạng Sơn còn có lợi thế về phát triển kinh tế thương mại với điều kiện
gần khu kinh tế cửa khẩu, hệ thống giao thông thuận lợi nên việc buôn bán,
18
giao lưu hàng hóa diễn ra sôi động, thu hút nhiều doanh nghiệp trong và ngoài
nước. Hàng năm, thu thuế hoạt động thương mại chiếm trên 80% tổng thu
ngân sách của tỉnh. Tuy nhiên, Lạng Sơn vẫn cần có sự hỗ trợ của Ngân sách
Trung ương do vẫn còn nhiều hạng mục cần đầu tư và tu bổ.
Hệ thống ngân hàng tập trung ở địa bàn thành phố, các khu kinh tế cửa
khẩu hoạt động năng động, hiệu quả, thủ tục đơn giản, chặt chẽ, thuận lợi cho
các hoạt động kinh tế, hoạt động trao đổi buôn bán hàng hóa và ngoại tệ.
Về dân số - lao động – việc làm: theo thống kê của Cục Thống kê tỉnh
năm 2012, ước tính dân số của tỉnh Lạng Sơn có khoảng 745 nghìn người.
Trong đó nam là 372 nghìn người, chiếm 49,95% tổng dân số cả tỉnh; nữ là
373 nghìn người chiếm 50,05 %. Dân số khu vực thành thị 143,3 nghìn người
chiếm 19,22 % tổng dân số; dân số khu vực nông thôn 602,1 nghìn người
chiếm 80,7%. Cơ cấu dân số tỉnh Lạng Sơn trẻ, nguồn lao động khá dồi dào.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2012 là 490,6 nghìn người tăng
2,38 % so với năm 2011; trong đó lao động nam chiếm 50,16%, nữ chiếm
49,84%. Cơ cấu lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm
78,05%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 4,65 %; khu vực dịch vụ
chiếm 17,3%. Các ngành và địa phương đã triển khai nhiều chương trình dạy
nghề cho lao động nông thôn nhằm giải quyết việc làm tại chỗ và cung cấp
lao động cho các khu vực công nghiệp.
2.1.3. Văn hóa – xã hội
Giống như các tỉnh miền núi phía Bắc, Lạng Sơn là tỉnh có các dân tộc
ít người chiếm số đông (84,74 % tổng số dân của tỉnh). Là nơi chung sống của
nhiều dân tộc anh em, trong đó người Nùng chiếm 43,9%, người Tày 35,3%,
nghiệp, hướng nghiệp dạy nghề. Các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp
trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục công tác tuyển sinh, nhất là vào các ngành nghề
văn hóa, du lịch. Hiện nay, ở Lạng Sơn có 02 cơ sở đào tạo nhân lực du lịch
chính, đó là: Trường trung cấp Văn hóa nghệ thuật Lạng Sơn và Trường cao
đẳng sư phạm Lạng Sơn. Chất lượng đào tạo được nâng lên, đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin trong dạy và học, khuyến khích học đi đôi với hành.