BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài:
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TỈNH HÀ NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2006 – NAY
THEO QUAN ĐIỂM CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Lê Anh Đức
Sinh viên thực hiện : Lê Trường Giang
Khóa : I
Ngành : Kinh tế
Chuyên ngành : Quy hoạch phát triển
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện khóa luận, tôi đã nhận được sự quan tâm
giúp đỡ quý báu của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các thầy cô Khoa
Quy hoạch phát triển cùng các thầy cô giáo trường Học viện Chính sách và
Phát triển đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
tại trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS. Lê Anh Đức – Phó
Trưởng ban phát triển vùng – Viện Chiến lược phát triển , người đã tận tình
chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí phòng Tổng hợp, phòng Nông
nghiệp - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập thông tin để thực hiện khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 21tháng 05năm 2014
Tác giả khóa luận
Lê Trường Giang
2.2.1. Kinh tế tăng trưởng nhanh song chất lượng tăng trưởng chưa cao 28
2.2.2. Cơ cấu GDP theo khu vực chuyển dịch khá nhanh nhưng cơ
cấu lao động thay đổi còn chậm 38
iv
2.2.3. Đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể nhưng mức độ cải
thiện chưa đồng đều 40
2.2.4. Môi trường sinh thái được chú ý nhiều hơn nhưng nguy cơ ô
nhiễm còn cao 43
2.3. Đánh giá phát triển kinh tế theo quan điểm phát triển bền vững trong
giai đoạn 2006-2014 45
2.3.1. Khu vực kinh tế 44
2.3.2. Lĩnh vực xã hội 45
2.3.3. Môi trường 50
2.4. Đánh giá tổng hợp các đặc điểm hiện trạng phát triển của Hà Nam . 62
2.4.1. SWOT đánh giá chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững tỉnh
Hà Nam 62
2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân 63
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG
TRƯỞNG, ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 67
3.1. Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về phát triển bền vững 67
3.2. Huy động và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư, nâng cao chất lượng nhân
lực, khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên, chuyển đổi cơ cấu kinh tế. 68
3.2.1. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để thực hiện phát
triển bền vững 68
3.2.2. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá, giám sát phát triển bền vững 68
3.2.3. Ứng dụng khoa học – công nghệ 69
3.2.4. Mở rộng quan hệ hợp tác với các tỉnh 69
3.2.5. Tăng cường năng lực quản lý nhà nước và thực hiện phát triển
bền vững 69
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chứ viết tắt
Viết đầy đủ
ASEAN
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
BVMT
Bảo vệ môi trường
CMKT
Chuyên môn kỹ thuật
CNH-HDH
Công nghiệp hóa-hiện đại hóa
CPI
Chỉ số giá tiêu dung
ESI
Chỉ số bền vững kinh tế
FDI
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
Tổng sản phẩm trên địa bàn
GINI
Hệ số bình đẳng thu nhập
HTX
Hợp tác xã
ICOR
Hệ số gia tăng vốn đầu tư so với gia tăng đầu ra
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên phạm vi cả nước vấn đề chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững
cũng đang được nhà nước quan tâm đặc biệt, thể hiện trong Quyết định
153/2004/QĐ – TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ V/v Ban hành định
hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam và Quyết định số 432/QĐ – TTg
ngày 12/4/2012 về việc Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai
đoạn 2011 – 2020. Tăng trưởng nhanh và bền vững là một trong những quan điểm
xuyên suốt của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, đã được Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XI thông qua. Ngày 12 tháng 4 năm 2012 Thủ tướng Chính
phủ ban hành Quyết định số 432/QĐ – TTg về việc Phê duyệt Chiến lược Phát triển
bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020.
Tỉnh Hà Nam thực hiện phát triển kinh tế theo mục tiêu chất lượng tăng
trưởng và phát triển bền vững đã đạt được một số những thành tựu nhất định
trong phát triển kinh tế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của Tỉnh đạt bình
quân trên 13%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ
trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp; các
lĩnh vực văn hoá, xã hội có nhiều tiến bộ mới; đời sống nhân dân không
ngừng được cải thiện, bộ mặt đô thị và nông thôn có nhiều khởi sắc; an ninh
chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững.
Tuy nhiên, quy mô nền kinh tế của tỉnh Hà Nam còn nhỏ bé, thu nhập
bình quân đầu người thấp so với bình quân chung của cả nước; chất lượng
tăng trưởng chưa cao và phát triển chưa bền vững khi mà nền kinh tế phát
triển dựa quá nhiều vào vốn, tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài
nguyên thiên nhiên, vai trò của lao động và khoa học kỹ thuật còn rất hạn chế
so với các tỉnh trong vùng và so với cả nước. Đời sống của một bộ phận nhân
dân còn nhiều khó khăn; hạ tầng KT-XH chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển
kinh tế của Tỉnh. Cần phải có những nhìn nhận khách quan, thực tế về phát triển
kinh tế của Tỉnh trong giai đoạn vừa qua. Vì thế tôi lựa chọn đề tài: “Thực trạng
phát triển kinh tế tỉnh Hà Nam gia đoạn 2006 - nay theo quan điểm chất lượng
tăng trưởng và phát triển bền vững”
3
4.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Các tài liệu sau khi thu thập sẽ được xử lí qua các bước như phân tích,
tổng hợp, so sánh…để trở thành những tài liệu, dẫn chứng phục vụ tốt cho
mục đích của tác giả trong đề tài.
4.3. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Bên cạnh nhưng phương pháp nghiên cứu trong phòng, tác giả cũng
tiến hành điều tra, khảo sát thực địa tại một số khu công nghiệp nhằm quan
sát, đánh giá cũng như thẩm định lại một số nghi vấn trong quá trình
nghiên cứu, xử lí các tài liệu thu thập được.
4.4. Phương pháp phân tích SWOT
Phương pháp phân tích SWOT (còn gọi là ma trận SWOT) là phương
pháp phân tích các điểm Mạnh (Strengths), điểm Yếu (Weaknesses), Cơ hội
(Opportunities) và Thách thức (Threats).
5. Kết cấu của khóa luận
Nội dung kết cấu của khóa luận ngoài phần mở đầu và phần kết luận có ba chương
nội dung chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững.
Chương 2: Đánh giá thực trạng chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững
tỉnh Hà Nam trong giai đoạn từ 2006 – nay.
Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, đảm bảo
phát triển bền vững đến năm 2020.
5
của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ). Phát triển
kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh
tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định.
Trước Keynes, kinh tế học cổ điển và tân cổ điển không phân biệt rành
mạch tăng trưởng kinh tế với phát triển kinh tế.
1.1.1.2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trưởng
Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng riêng rẽ các nguồn lực rất đa
dạng vì bản thân các nguồn lực tác động để tạo ra đầu ra rất đa dạng và số
lượng các đầu ra cũng đa dạng. Trong nghiên cứu này, chúng tôi xin giới hạn
đánh giá theo 3 chỉ tiêu chính gồm năng suất lao động, hiệu quả đồng vốn và
hiệu quả sử dụng tổng hợp các chi phí đầu vào. Thực tế 3 chỉ tiêu này đã phản
ánh khá đầy đủ hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu.
(1) Năng suất lao động
Năng suất lao động là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động, đặc
trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao
động để sản xuất ra nó. Năng suất lao động theo khái niệm của OECD (Tổ
chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - Organization for Economic Cooperation
and Development), trong cuốn sách “Đo lường năng suất, đo lường tốc độ
tăng năng suất tổng thể và năng suất ngành - 2002” là tỷ lệ giữa lượng đầu ra
trên đầu vào, trong đó đầu ra được tính bằng GDP (tổng sản phẩm quốc nội)
hoặc GVA (Tổng giá trị gia tăng - Gross Value Added), đầu vào thường được
tính bằng: giờ công lao động, lực lượng lao động và số lượng lao động đang
làm việc. Năng suất lao động được tính theo công thức sau:
NSLĐ = Giá trị gia tăng (hoặc GDP) / Số lượng lao động
Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hay hiệu suất của
lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm, lượng giá trị
sử dụng (hay lượng giá trị) được tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay đo
và dịch vụ trong nền kinh tế. Hệ số ICOR bao gồm hệ số ICOR tổng hợp và
ICOR theo các ngành. 7
Nguyên tắc tính toán hệ số ICOR hàng năm và trung bình cho nhiều
năm: Công thức xác định ICOR hàng năm được viết như sau:
ICOR = Tổng vốn đầu tư / GDP tăng thêm (GTTT)
hay ICOR = I / DGDP
Trong đó: - ICOR: Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
- GTTT: Tổng sản phẩm tăng thêm
- I: Vốn đầu tư
Tử số của công thức trên lẽ ra phải là mức gia tăng của tài sản cố định,
song trên thực tế, rất khó kiếm được thông tin chính xác về chỉ tiêu này nên
người ta sử dụng chỉ tiêu tổng vốn đầu tư để thay thế. Tử số và mẫu số được
tính theo giá trị nhiều năm nên phải đảm bảo tính đồng nhất; do đó hai đại
lượng này đều phải được tính theo giá cố định.
Hệ số ICOR thấp chứng tỏ đầu tư có hiệu quả cao, hệ số ICOR thấp hơn
có nghĩa là để duy trì cùng một tốc độ tăng trưởng kinh tế cần một tỉ lệ vốn
đầu tư so với tổng sản phẩm trong nước thấp hơn. Tuy nhiên, theo quy luật
về lợi tức biên giảm dần khi nền kinh tế càng phát triển (GDP bình quân đầu
người tăng lên) thì hệ số ICOR sẽ tăng lên, tức là để duy trì cùng một tốc độ
tăng trưởng cần một tỉ lệ vốn đầu tư so với tổng sản phẩm trong nước cao
hơn.
Hạn chế ảnh hưởng của các nhân tố khác tới GDP: Trong tính toán hệ
số ICOR nêu trên, đã giả thiết rằng chỉ có vốn đầu tư ảnh hưởng tới tăng
trưởng GDP, còn các nhân tố khác không có ảnh hưởng gì. Đây là một giả
thiết rất mạnh. Do vậy cần hạn chế bớt cấp độ của giả thiết này bằng cách
dùng dãy số là trung bình động 3 năm của vốn đầu tư và của GDP để giảm tác
động của những yếu tố ngẫu nhiên hoặc những nhân tố khác ngoài vốn đầu tư.
Do vậy, để đánh giá hiệu quả của một đồng chi phí trung gian (HQCP)
tới kết quả sản xuất, có thể sử dụng một số công thức sau:
- So sánh với giá trị sản xuất: HQCP = GO / IC
- So sánh với giá trị tăng thêm: HQCP = VA / IC
- So sánh với lợi nhuận: HQCP = Lợi nhuận / IC 9
Trong thực tiễn, người ta thường đánh giá hiệu quả sử dụng tổng hợp các
chi phí đầu vào bằng chỉ tiêu tỷ lệ chi phí trung gian (TLCP) sử dụng trong
quá trình sản xuất, tức là:
TLCP = IC / GO
Tỷ lệ chi phí trung gian là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng để đánh giá
hiệu quả sản xuất xã hội, qua đó đánh giá chất lượng tăng trưởng. Tỷ lệ này
càng thấp thì sản xuất càng có hiệu quả; do đó tốc độ tăng trưởng và chất
lượng tăng trưởng kinh tế ngày càng cao.
(4) Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)
Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) là chỉ tiêu đo lường năng suất của
đồng thời cả “lao động” và “vốn” trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền
kinh tế. TFP phản ánh sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, sự gia
tăng đầu ra phụ thuộc vào tăng thêm về số lượng của đầu vào và chất lượng
các yếu tố đầu vào là lao động và vốn.
Nâng cao TFP là biện pháp gia tăng đầu ra bằng việc nâng cao chất
lượng của các yếu tố đầu vào là lao động và vốn. Cùng với lượng đầu vào như
nhau, lượng đầu ra có thể lớn hơn nhờ vào vào việc cải tiến chất lượng của lao
động, vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này. Tăng TFP gắn liền với
áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản
lý, nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động….Cách tính TFP
phổ biến là theo hàm sản xuất Cobb -Douglas:
Y = AK
cả quá trình sản xuất xã hội và bắt đầu từ việc nhìn nhận tầm quan trọng của
bảo vệ môi trường và tiếp đó là nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những bất
ổn trong xã hội. Chính vì thế, năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường
và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức ở Ri-ô đơ Gia-nê-rô đề ra
Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, phát triển bền vững
được xác định là: “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện
tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương
lai”. Theo đó, ba trụ cột phát triển bền vững được xác định là: Thứ nhất, bền
vững về mặt kinh tế, hay phát triển kinh tế bền vững là phát triển nhanh và an
toàn, chất lượng; Thứ hai, bền vững về mặt xã hội là công bằng xã hội và phát
triển con người, chỉ số phát triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát 11
triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo
dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh; Thứ ba, bền
vững về sinh thái môi trường là khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên
nhiên, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trường sống.
Cho tới nay, quan niệm về phát triển bền vững trên bình diện quốc tế có
được sự thống nhất chung và mục tiêu để thực hiện phát triển bền vững trở
thành mục tiêu thiên niên kỷ.
Ở Việt Nam, chủ đề phát triển bền vững cũng đã được chú ý nhiều trong
giới nghiên cứu cũng như những nhà hoạch định đường lối, chính sách. Quan
niệm về phát triển bền vững thường được tiếp cận theo hai khía cạnh: Một
là, phát triển bền vững là phát triển trong mối quan hệ duy trì những giá trị
môi trường sống, coi giá trị môi trường sinh thái là một trong những yếu tố
cấu thành những giá trị cao nhất cần đạt tới của sự phát triển. Hai là, phát
triển bền vững là sự phát triển dài hạn, cho hôm nay và cho mai sau; phát
triển hôm nay không làm ảnh hưởng tới mai sau.
Trong mục 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững được
giữa các giai tầng trong xã hội, bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo
không cao quá và có xu hướng gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng
miền không lớn.
Thứ ba, bền vững về môi trường. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, phát triển nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn
mới, đều tác động đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi
trường, điều kiện tự nhiên. Bền vững về môi trường là khi sử dụng các yếu tố
tự nhiên đó, chất lượng môi trường sống của con người phải được bảo đảm.
Đó là bảo đảm sự trong sạch về không khí, nước, đất, không gian địa lý, cảnh
quan. Chất lượng của các yếu tố trên luôn cần được coi trọng và thường
xuyên được đánh giá kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam và những kết quả ban đầu
Bắt nhịp bước đi của thời đại, Việt Nam đã sớm nhận thức tầm quan
trọng của phát triển bền vững. Ngày 25-6-1998, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số
36-CT/TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công 13
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong các văn kiện Đại hội IX, X, và đặc
biệt là văn kiện Đại hội XI, quan điểm phát triển bền vững càng được chú
trọng hơn và nhấn mạnh nhiều lần trên nhiều góc độ tiếp cận. Để chỉ đạo thực
hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 có 5 quan
điểm phát triển, trong đó, quan điểm đầu tiên là: “Phát triển nhanh gắn liền
với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong
Chiến lược”.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 154/2004/QĐ-TTg
“Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (còn gọi là Chương
trình nghị sự 21 của Việt Nam). Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở
Việt Nam nêu bật những vấn đề đang đặt ra trong ba lĩnh vực kinh tế, xã hội
Năm 2012, Việt Nam xếp thứ 127 trên tổng số 187 nước và vùng lãnh thổ về
HDI và được xếp vào nhóm có tốc độ tăng chỉ số HDI cao. Việt Nam hoàn
thành 6/8 nhóm Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDG) do Liên hợp quốc đặt ra cho
các nước đang phát triển đến năm 2015.
Lĩnh vực môi trường trong những năm qua đã được chú trọng hơn. Việc
bảo vệ tài nguyên, môi trường đã đi vào nền nếp. Bằng những chính sách hợp
lý, các giải pháp quyết liệt, vấn đề bảo vệ môi trường sống, chống ô nhiễm
các nguồn nước, không khí đã được tất cả các địa phương, các ngành và các
tầng lớp nhân dân đồng thuận và cùng tham gia. Công tác trồng rừng, bảo vệ
rừng được quan tâm hơn nên tình trạng cháy và chặt phá rừng đã giảm đi.
1.2.2. Những vấn đề đặt ra và chiến lược phát triển bền vững
Việt nam đã triển khai và thực hiện khá thành công một số nhiệm vụ để
hướng tới phát triển bền vững. Tuy nhiên, những thành tựu và tiến bộ đã đạt
được chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước. Trình độ phát triển kinh tế
còn thấp so với các nước trên thế giới và ngay cả một số nước trong khu vực.
Xem xét ở ba khía cạnh để tăng trưởng bền vững là: kinh tế, xã hội và môi
trường để thấy rõ còn nhiều vấn đề đặt ra cần được giải quyết.
Thứ nhất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung vẫn còn
yếu. Tích lũy nội bộ còn thấp; tăng trưởng kinh tế có bước chững lại, thấp hơn
mức tăng của những năm trước do di chứng của cuộc khủng hoảng tài chính,
suy thoái kinh tế toàn cầu. Đầu tư của Nhà nước hiệu quả thấp, còn thất thoát
và lãng phí. Tỷ lệ nợ công so với GDP của các năm 2010, 2011, 2012 lần lượt 15
là: 56,8%; 54,9% và 55,6%, mức nợ tương đối cao. Khối lượng nợ vẫn được
coi là trong ngưỡng an toàn, nhưng tiềm ẩn đằng sau đó là nhiều rủi ro.
Kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định, thiếu vững chắc, các thành phần kinh tế
chưa phát huy hết năng lực Cơ chế quản lý, chính sách phân phối có mặt chưa
hợp lý, chưa thúc đẩy tiết kiệm, tăng năng suất, kích thích đầu tư phát triển.
sống của nhân dân.
Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam 2011 - 2020 đã vạch ra các
định hướng cụ thể:
Về kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững, từng bước thực hiện
tăng trưởng xanh, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; thực hiện
sản xuất và tiêu dùng bền vững; đảm bảo an ninh lương thực, phát triển nông
nghiệp, nông thôn bền vững; phát triển bền vững các vùng và địa phương.
Về xã hội, tập trung đẩy mạnh công tác giảm nghèo theo hướng bền
vững; tạo việc làm bền vững; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; thực hiện
tốt các chính sách an sinh xã hội; ổn định quy mô, cải thiện và nâng cao chất
lượng dân số; phát triển văn hoá hài hoà với phát triển kinh tế, xây dựng và
phát triển gia đình Việt Nam; phát triển bền vững các đô thị, xây dựng nông
thôn mới, phân bố hợp lý dân cư và lao động theo vùng; nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo để nâng cao dân trí và trình độ nghề nghiệp thích hợp với
yêu cầu của sự phát triển đất nước, vùng và địa phương;
Về tài nguyên và môi trường, chống thoái hoá, sử dụng hiệu quả và bền
vững tài nguyên đất; bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên
nước; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản;
bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển; bảo
vệ và phát triển rừng; giảm ô nhiễm không khí và tiếng ồn ở các đô thị lớn và
khu công nghiệp
Phát triển bền vững đã trở thành một phương thức phát triển tổng hợp đa
ngành, liên ngành, thành chương trình hành động với nhiều tiêu chí ngày càng
được cụ thể và rõ nét. Phát triển bền vững, vì vậy, mang tính tất yếu và là mục
tiêu cao đẹp nhất của quá trình phát triển.
17
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH HÀ NAM GIAI
21A và nối với Ninh Bình qua quốc lộ 1A và đường cao tốc Bắc – Nam, rất
thuận lợi cho hợp tác giao lưu cùng phát triển.
Hà Nam có vị trí địa kinh tế là cầu nối đối với vùng kinh tế trọng điểm
phái Bắc và vùng đồng bằng Nam Sông Hồng. Hà Nam có vị trí nằm trên
tuyến hành lang Xuyên Á ( Hà Nội – TP Hồ Chí Minh – Mộc Bài). Tuyến
hành lang này nằm trong khuôn khổ hợp tác 1 trục 2 cánh với Trung Quốc,
giữ vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2045. Do đó, Hà Nam với vị trí địa kinh tế của 18
mình sẽ giữ một vai trò tích cực trong việc hỗ trợ và cùng với Hà Nội trở
thành các đầu mút quan trọng của các tuyến trên.
Từ những đặc điểm vị trí địa lý có thể thấy Hà Nam có những thuận lợi
và khó khăn cơ bản sau:
a) Thuận lợi:
- Theo như thông thường, giai đoạn đầu khi nền kinh tế Hà Nam chưa
phát triển mạnh nhưng gần một trung tâm lớn là Hà Nội sẽ tạo ra sự giao lưu
nguồn vốn và lao động theo xu hướng :
+ Lao động từ Hà Nam sẽ đổ về Hà Nội bới Hà Nội có nhiều việc làm và
mức lương cao hơn ở Hà Nam.
+ Hà Nam chưa đủ vốn để phát triển các ngành nhưng lại có nhiều lao
động rẻ nên vốn từ Hà Nội và các tỉnh phát triển mạnh hơn như Nam Định,
Ninh Bình sẽ “ đổ” về Hà Nam, tạo điều kiện cho Hà Nam phát triển.
- Một số tỉnh gần Hà Nam sẽ đến Hà Nam để mua bán nguyên vật liệu,
đầu tư vào xây dựng nhà xưởng, cơ sở sản xuất kinh doanh…, dẫn đến tăng
trưởng kinh tế cao hơn.
- Hà Nam sẽ có nhiều lợi ích khi các tỉnh xung quanh như Hà Nội
chuyển dịch cơ cấu ngành nghề. Giai đoạn mới phát triển Hà Nội có lợi thế về
sản xuất lương thực – thực phẩm, sau đó bị mất dần lợi thế phải chuyển dịch