BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
o0o
Trí Tuệ Và Phát Triển
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM
TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM
Giáo viên hƣớng dẫn : TS.Nguyễn Thạc Hoát
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Hiền
Mã sinh viên : 5014013014
Khóa : I
Ngành : Tài chính Ngân Hàng
Chuyên ngành : Tài chính Công ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 4
1.1. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 4
1.1.1. Tiền gửi và tiền gửi đƣợc bảo hiểm 4
1.1.2. Sự ra đời của bảo hiểm tiền gửi 9
1.1.3. Một số khái niệm về Bảo hiểm tiền gửi 11
1.1.4. Vai trò của bảo hiểm tiền gửi 13
1.2. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM
TIỀN GỬI 15
1.2.1. Các hoạt động bảo hiểm tiền gửi chủ yếu 15
1.2.2. Mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi và xu hƣớng lựa chọn 25
1.3. KINH NGHIỆM BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN
THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 30
1.3.1. Bảo hiểm tiền gửi ở Mỹ 30
1.3.2. Bảo hiểm tiền gửi ở Đài Loan 32
1.3.3. Bài học đối với Việt Nam 33
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY 36
2.1. KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM 36
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 36
2.1.2. Tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 37
2.2. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY 38
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATM
Máy rút tiền tự động
BHTG
Bảo hiểm tiền gửi
BHTGVN
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
CAMELS
Bộ tiêu chuẩn đƣợc sử dụng để đánh giá hoạt động ngân hàng
FDIC
Tổng công ty BHTG Liên bang Mỹ
CDIC
Tổng công ty BHTG Trung ƣơng Đài Loan
FFIEC
Ủy ban Giám sát định chế tài chính Liên bang Mỹ
DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Đồ thị 1.1: Số lƣợng Ngân hàng đổ vỡ tại Mỹ giai đoạn 1935 – 2002
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của BHTGVN
Đồ thị 2.1: Quy mô nguồn vốn của BHTGVN giai đoạn 2000-2012
Đồ thị 2.2: Số lƣợng tổ chức tham gia BHTG giai đoạn năm 2000-2013
Đồ thị 2.3: Kết quả thu phí BHTG giai đoạn năm 2000-2013
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Các mô hình bảo hiểm tiền gửi trên thế giới
Hình 2.1: Các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu của BHTGVN
Hình 3.1: Các trụ cột phát triển bền vững của BHTGVN
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, sự bùng nổ về quy mô hoạt động cũng nhƣ
năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam bên cạnh những mặt tích
cực đã làm gia tăng rủi ro, gây ảnh hƣởng trực tiếp đến sự an toàn và lành
mạnh của hệ thống ngân hàng. Trƣớc bối cảnh đó, Việt Nam cần phải tái cấu
trúc hệ thống Ngân hàng nhằm duy trì năng lực phát triển và khả năng thích
nghi của các ngân hàng trƣớc những diễn biến phức tạp của thị trƣờng, ngăn
ngừa rủi ro hệ thống.
Tuy nhiên, tái cấu trúc có thể dẫn tới những xáo trộn trên thị trƣờng,
đặc biệt là tâm lý và niềm tin của ngƣời gửi tiền rất dễ bị tổn thƣơng trƣớc
nhiều luồng thông tin trái chiều. Nâng cao niềm tin của công chúng là nhiệm
vụ quan trọng của các cơ quan chức năng, trong đó có Bảo hiểm tiền gửi Việt
Nam (BHTGVN).
BHTGVN đƣợc thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày
Việt Nam” đƣợc lựa chọn làm nội dung nghiên cứu.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về hoạt động bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về hoạt động BHTG.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chọn điển hình nghiên cứu cụ thể là
hoạt động của BHTGVN giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2013. Trên cơ sở
đánh giá những kết quả đạt đƣợc và các mặt còn tồn tại, từ đó đƣa ra các giải
pháp nhằm hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam. Các giai đoạn
khác cũng đƣợc đề cập đến để hỗ trợ nghiên cứu các vấn đề đƣợc nêu trong
luận văn.
3
3. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài “Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi ở Việt
Nam”, luận văn trình bày tổng quan về bảo hiểm tiền gửi và kinh nghiệm
quốc tế về tổ chức và hoạt động bảo hiểm tiền gửi; thấy đƣợc các kết quả đạt
đƣợc và hạn chế qua việc nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt động bảo
hiểm tiền gửi ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đánh giá nguyên nhân để đƣa ra các
nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận vận dụng các phƣơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học khác
nhƣ phân tích, tống họp, thống kê, so sánh dựa trên các tài liệu thu thập
đƣợc để một mặt phân tích thực trạng hoạt động Bảo hiểm tiền gửi của Việt
nam, mặt khác cũng tìm hiểu một số vấn đề trong quá trình hoạt động của các
tổ chức Bảo hiểm tiền gửi ở Mỹ và Đài Loan. Đây là hai tổ chức Bảo hiểm
tiền gửi tiêu biểu trên Thế giới và của khu vục Châu Á có nhiều kinh nghiệm
để Việt nam có thể học hỏi, áp dụng vào quá trình hoàn thiện chính sách Bảo
hiểm tiền gửi của mình.
5. Kết cấu của khóa luận
Ban đầu hành vi đó mang tính tự phát trong kinh tế xã hội nhƣng do sự
phát triển của nền sản xuất, yêu cầu về vốn một số tổ chức đƣợc chuyên làm
công việc cho vay - đi vay ra đời, những tổ chức này đi vay của cá nhân, tổ
chức có tiền nhàn rỗi và cá nhân, tổ chức cần tiền vay lại. Đây là những tổ
chức trung gian nhằm nối ngƣời cho vay và đi vay lại với nhau và hình thức
các tổ chức này mang dáng dấp các tổ chức tín dụng, ngân hàng và hoạt động
ngân hàng ra đời. Nhƣ vậy, những ngƣời tạm thời thừa vốn họ mang tiền đến
gửi ngân hàng để họ đƣợc nhận lãi suất theo thoả thuận với ngân hàng, còn
ngƣời cần vốn tìm đến ngân hàng để vay tiền và họ cũng phải trả lãi suất cho
khoản vay đó. Ngƣời ta quan niệm số tiền tạm thời nhàn rỗi mà khách hàng
mang đến gửi ở ngân hàng là tiền gửi.
Trong hoạt động ngân hàng, khái niệm này đƣợc sử dụng để chỉ các
khoản tiền đƣợc gửi ở các tổ chức tín dụng (TCTD) dƣới nhiều hình thức
khác nhau của nhiều chủ thể khác nhau.
5
Theo cách hiểu khác thì tiền gửi là tiền mà các doanh nghiệp và cá nhân
gửi vào ngân hàng thƣơng mại nhằm mục đích phục vụ các thanh toán không
dùng tiền mặt và có thể dễ dàng chuyển thành tiền mặt
Ngoài ra, tại Nghị định số 70/2000/NĐ-CP của Chính phủ về giữ bí mật
thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản của khách hàng gửi tại các TCTD
cũng đƣa ra quy định về tiền gửi nhƣ sau: "Tiền gửi của khách hàng bao gồm
tiền Đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ của các tổ chức và cá nhân dưới
hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn - kể cả tiền gửi tiết kiệm
và các hình thức tiền gửi khác".
Nói tóm lại, tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín
dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dƣới hình thức tiền gửi
không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ
phiếu, tín phiếu và các hình thức tiền gửi khác. Tiền gửi đƣợc hƣởng lãi hoặc
không hƣởng lãi và theo nguyên tắc phải hoàn trả cho ngƣời gửi tiền.
lƣơng hàng tháng hay nhận tiền từ nƣớc ngoài hoặc từ cá nhân khác trong
nƣớc…
- Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền đƣợc uỷ thác vào NH trên cơ sở có sự thoả
thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và NH. Tiền gửi có kỳ hạn là một
nguồn vốn tín dụng mang tính ổn định, về mục đích của ngƣời gửi tiền là họ
muốn kiếm lời chứ không phải dùng để thanh toán.
Do đó, khác với tiền gửi không kỳ hạn yếu tố lãi suất càng cao thì
khách hàng gửi càng nhiều. Chính vì thế để tăng cƣờng khả năng huy động
của nguồn này trƣớc hết các NHTM thƣờng đƣa ra nhiều thời hạn khác nhau
nhƣ: 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, 24 tháng.
Mỗi loại ngân hàng thƣơng mại áp dụng một mức lãi suất tƣơng đƣơng
phù hợp với nguyên tắc thời hạn nhƣng không đƣợc vƣợt quá lãi suất mà
Ngân hàng nhà nƣớc quy định.
7
- Tiền gửi không kỳ hạn: là loại tiền gửi đƣợc sử dụng với mục đích chủ yếu
là thực hiện các giao dịch thanh toán qua ngân hàng bằng các phƣơng tiện
thanh toán nhƣ: séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, chuyển tiền điện tử
- Chứng chỉ tiền gửi: Là chứng nhận của ngân hàng phát hành để huy động
vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ cho một khoản tiền trong một thời gian
nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa Ngân hàng và
ngƣời mua chứng chỉ.
- Trái phiếu ghi danh: là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của ngƣời phát hành
phải trả cho ngƣời sở hữu trái phiếu đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá
của trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức quy định.
Ngƣời phát hành có thể là doanh nghiệp (trái phiếu doanh nghiệp), một tổ
chức chính quyền (trái phiếu kho bạc), chính quyền (công trái hoặc trái phiếu
chính phủ). Ngƣời mua trái phiếu, hay trái chủ, có thể là cá nhân hoặc doanh
nghiệp hoặc chính phủ. Trên trái phiếu ghi danh có tên và địa chỉ của trái chủ.
1.1.1.3. Loại tiền gửi đƣợc bảo hiểm
Tiền gửi được bảo hiểm đƣợc quy định rõ ràng sẽ tránh đƣợc những
kiện tụng tiềm ẩn và rủi ro đạo đức phát sinh khi có một tổ chức tham gia
BHTG mất khả thanh toán và bị đóng cửa. Đồng thời tạo điều kiện cho tổ
chức tham gia BHTG tính và nộp đúng, đủ số phí cũng nhƣ hoạt động kiểm
tra của tổ chức BHTG đối với việc tính và nộp phí của tổ chức tham gia
BHTG. Vì vậy, hầu hết các nƣớc thƣờng quy định loại tiền gửi đƣợc bảo hiểm
và loại tiền gửi không đƣợc bảo hiểm nhƣ Đài Loan hoặc Mỹ.
Tuy việc quy định tiền gửi nào đƣợc bảo hiểm phụ thuộc vào chính sách
của mỗi quốc gia nhƣng theo một nghiên cứu của Quỹ tiền tệ Quốc tế, những
loại tiền gửi thƣờng đƣợc hầu hết các hệ thống BHTG bảo hiểm bao gồm:
- Tiền gửi nội tệ của cá nhân bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn,
tiền gửi tiết kiệm bằng nội tệ;
- Kỳ phiếu do tổ chức tham gia BHTG phát hành và đƣợc quy định bởi
luật hoặc các quy định của tổ chức BHTG nhƣ là một loại tiền gửi;
9
- Chứng chỉ tiền gửi nội tệ ghi danh vì đây là một loại giấy biên nhận có
hƣởng lãi, xác nhận về khoản vốn gửi ngân hàng hoặc tại tổ chức tiết kiệm
với mục đích chính là tạo vốn cho ngân hàng;
- Tiền gửi ngoại tệ: Việc quyết định lựa chọn tiền gửi ngoại tệ là đối
tƣợng bảo hiểm phụ thuộc rất nhiều vào tình hình sử dụng ngoại tệ của từng
quốc gia. Ở những nƣớc tiền gửi ngoại tệ đƣợc sử dụng rộng rãi và đặc biệt
những nƣớc mà tiền tệ bị đô la hoá, hệ thống BHTG có thể bảo hiểm cả ngoại
tệ để thúc đẩy ổn định tài chính.
Nhiều quốc gia đã loại khỏi đối tƣợng đƣợc bảo hiểm các loại tiền gửi sau:
+ Tiền gửi liên ngân hàng;
+ Chứng chỉ tiền gửi không ghi danh;
+ Tiền gửi của các cơ quan chính quyền các cấp và tổ chức kinh tế lớn.
1.1.2. Sự ra đời của bảo hiểm tiền gửi
Hoạt động tài chính, ngân hàng luôn gắn liền với sự nhạy cảm và tiềm
tƣợng đổ vỡ ngân hàng trở nên phổ biến, và số lƣợng ngân hàng mất khả năng
chi trả ngày càng tăng dẫn tới niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân
hàng bị sụp đổ, nền kinh tế Mỹ bị rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng.
Trƣớc tình hình đó, tổng công ty BHTG liên bang Mỹ (FDIC) đã ra đời vào
1/1/1934. Đây là mô hình tổ chức BHTG công khai đầu tiên trên thế giới.
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hoạt động BHTG đối với hệ thống
ngân hàng cũng nhƣ nền kinh tế, Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI) đã đƣợc
thành lập ngày 05/06/2002 tại Thụy Sỹ theo sáng kiến của Ngân hàng thế
giới, Quỹ tiền tệ Quốc tế, Cộng đồng tài chính Quốc tế. Mục tiêu hoạt động
của IADI là góp phần bảo đảm sự ổn định của hệ thống tài chính quốc tế, đẩy
mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BHTG, khuyến khích giao lƣu quốc tế
giữa các tổ chức thực hiện hoạt động BHTG và các tổ chức liên quan, tăng
cƣờng phối hợp khi xảy ra khủng hoảng tài chính trên toàn cầu. Tính đến năm
2013 đã có 72 tổ chức BHTG trong tổng số 113 tổ chức BHTG trên thế giới là
thành viên của IADI.
11
Việc gia tăng mạnh số lƣợng tổ chức BHTG trong thời gian gần đây
khẳng định xu hƣớng rõ ràng là các nhà hoạch định chính sách đã coi tổ chức
BHTG nhƣ một công cụ hữu hiệu để ngăn ngừa rủi ro, ngăn ngừa khủng
hoảng, bảo vệ ngƣời gửi tiền và giảm gánh nặng xử lý đổ vỡ cho ngân sách
Quốc gia.
1.1.3. Một số khái niệm về Bảo hiểm tiền gửi
1.1.3.1. Bảo hiểm tiền gửi
Theo tài liệu "xây dựng hệ thống BHTG hiệu quả" của Diễn đàn ổn
định tài chính (Financial Stability Forum) tháng 9/2001: “BHTG là một sự
đảm bảo rằng số dư tiền gửi và lãi cộng dồn của các tài khoản tiền gửi nhất
định khi các ngân hàng có khoản tiền gửi đó lâm vào tình trạng phá sản và
mất khả năng thanh toán sẽ được thanh toán” [12].
Theo Luật về BHTG của nhiều nƣớc trên thế giới và cả Luật BHTG của
1.1.3.4. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Tổ chức BHTG là đối tác nhận đóng góp tài chính từ tổ chức tham gia
BHTG và có trách nhiệm thực hiện chi trả tiền bảo hiểm tới ngƣời có tiền gửi
thuộc đối tƣợng đƣợc bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức đó
chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán.
Ngoài ra, tổ chức bảo hiểm tiền gửi còn thực hiện một số vai trò, chức năng
vận hành hoạt động BHTG theo các quy định của Nhà nƣớc và thực hiện các
nhiệm vụ khác có liên quan đến các hoạt động BHTG, đồng thời góp phần bảo vệ
hệ thống các trung gian tài chính và đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng.
Luật BHTG Việt Nam giải thích: “Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức
tài chính Nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính
sách bảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các Tổ chức
tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân
hàng”[6, tr.4].
13
1.1.3.5. Chính sách bảo hiểm tiền gửi
“Chính sách bảo hiểm tiền gửi” đƣợc hiểu là cách thức tổ chức và vận
hành hoạt động bảo hiểm tiền gửi trong khuôn khổ pháp luật cho phép nhằm
đạt đƣợc các mục tiêu cụ thể của quốc gia.
Cách thức tổ chức và vận hành đó phải có sự liên hệ, phối hợp của các
bên có liên quan tới hoạt động bảo hiểm tiền gửi nhƣ: Tổ chức BHTG; tổ
chức tham gia BHTG; Ngƣời gửi tiền; Cơ quan quản lý Nhà nƣớc về BHTG,
Cơ quan giám sát.
1.1.4. Vai trò của bảo hiểm tiền gửi
Là sản phẩm của nền kinh tế thị trƣờng và chỉ xuất hiện trong nền kinh
tế thị trƣờng, vai trò của BHTG xuất phát từ bản chất của của hoạt động tài
chính luôn gắn liền với yếu tố niềm tin và mang tính nhạy cảm, lan truyền
cao. Trong hoạt động ngân hàng, nếu niềm tin của ngƣời gửi tiền vào ngân
hàng bị khủng hoảng thì nó không chỉ ảnh hƣởng đến hoạt động của một
BHTG còn tạo động lực để các ngân hàng giám sát lẫn nhau. Điều này
sẽ giúp cho hệ thống ngân hàng ngày càng phát triển an toàn, lành mạnh.
Thứ hai, nhờ có hoạt động BHTG mà các ngân hàng thu hút đƣợc
nhiều hơn nguồn vốn tiết kiệm nhàn rỗi trong dân cƣ.
Thứ ba, nhờ có hoạt động BHTG, các ngân hàng sẽ có đƣợc sự giám
sát, cảnh báo sớm và từ đó tránh đƣợc những rủi ro.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt bên cạnh những
cơ hội, các ngân hàng luôn đứng trƣớc nhiều khó khăn, thách thức. Chắc chắn
cuộc đua để tăng vốn, thu hút chất xám, đa dạng hóa sản phẩm, tăng đầu tƣ
mạo hiểm ở trong nƣớc và trên thị trƣờng tài chính quốc tế sẽ dẫn đến các
mức độ rủi ro khác nhau giữa các ngân hàng. Nhiệm vụ hàng đầu và quan
trọng nhất của tổ chức BHTG là giám sát thƣờng xuyên, phát hiện và cảnh
báo sớm khi các ngân hàng đi “chệch đƣờng ray” các quy định an toàn, không
để các sai sót, sai phạm của các ngân hàng tích tụ tới mức không thể sửa chữa
đƣợc nữa.
15
Thứ tư, hoạt động BHTG giúp các ngân hàng thực sự yếu kém, không
thể tiếp tục duy trì hoạt động có thể rút khỏi lĩnh vực kinh doanh ngân hàng
một cách có trật tự, không ảnh hƣởng tới các ngân hàng khác và tới toàn hệ
thống ngân hàng.
Trong trƣờng hợp một ngân hàng hoạt động yếu kém, không hiệu quả
thì tổ chức BHTG sẽ có thể triển khai một số biện pháp hỗ trợ nhƣ: (1) đƣa ra
phƣơng án sát nhập với ngân hàng khác; (2) chi trả BHTG cho ngƣời gửi tiền
thuộc đối tƣợng bảo hiểm; (3) tham gia vào quá trình thanh lý tài sản của
ngân hàng đó để tiếp tục bảo vệ quyền lợi của ngƣời gửi tiền có tiền lớn hơn
hạn mức chi trả BHTG.
1.1.4.3. Đối với việc phát triển kinh tế, ổn định chính trị và trật tự xã hội
Hoạt động BHTG giúp các ngân hàng huy động vốn nhiều hơn, qua đó
các ngân hàng sẽ cấp tín dụng, mở rộng các hoạt động cung ứng sản phẩm,
đối với các TCTD có nhận tiền gửi cá nhân.
Cấp chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi
“Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi” là hình thức văn bản chứng
nhận việc tham gia BHTG của một tổ chức thành viên.
Việc cấp Giấy chứng nhận tham gia BHTG cho các tổ chức tham gia
bảo hiểm tiền gửi có ý nghĩa rất quan trọng đối với các chủ thể tham gia hoạt
động ngân hàng cũng nhƣ đối với cơ quan quản lý Nhà nƣớc trong lĩnh vực
tài chính - tiền tệ.
Thời điểm tổ chức thành viên đƣợc ghi trong Giấy chứng nhận tham
gia BHTG, quan hệ pháp luật bảo hiểm tiền gửi đƣợc phát sinh giữa các bên.
Đây là cơ sở pháp lý khẳng định ngƣời gửi tiền tại các tổ chức nhận tiền gửi
đƣợc tổ chức BHTG đảm bảo quyền lợi. Mặt khác, từ thời điểm đƣợc cấp
Giấy chứng nhận tham gia BHTG, tổ chức tham gia BHTG có nghĩa vụ tuân
thủ pháp luật về hoạt động BHTG, khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu
quả hoạt động nghiệp vụ của mình.
17
Thu hồi chứng nhận bảo hiểm tiền gửi
Ở hầu hết các quốc gia, tƣ cách thành viên của hệ thống BHTG bị chấm
dứt một cách tự động khi giấy phép hoạt động của tổ chức đó bị thu hồi hay tổ
chức đó đóng cửa. Bên cạnh chế độ chấm dứt tự động, các tổ chức có thể bị
chấm dứt tƣ cách thành viên trong mô hình giảm thiểu rủi ro vì một vài lí do:
tổ chức đã hoặc sắp bị mất khả năng thanh toán; có hoạt động không lành
mạnh và không an toàn; hoặc vi phạm quy định của pháp luật.
Tại Việt Nam, Luật BHTG quy định: “Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền
gửi bị thu hồi Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi khi Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam có văn bản thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của
TCTD, giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định
của pháp luật”[6, tr.5].
1.2.1.2. Nộp và thu phí bảo hiểm tiền gửi
ro, các nƣớc này phải hội đủ điều kiện để triển khai hệ thống đó thành công.
Các điều kiện này gồm có: đủ thông tin về nguy cơ rủi ro của những tổ chức
nhận tiền gửi và đủ số lƣợng nhân viên có năng lực và công cụ phân tích hiệu
quả. Ngoài ra, cần có môi trƣờng và cơ chế phối hợp trao đổi thông tin giữa tổ
chức BHTG và các cơ quan giám sát khác mới có thể thành lập một hệ thống
phí điều chỉnh theo mức độ rủi ro hiệu quả.
Các quốc gia áp dụng hệ thống phí theo rủi ro vì những mục tiêu chủ
yếu sau đây:
- Giảm bớt hoạt động rủi ro quá mức của các tổ chức tham gia BHTG và
đảm bảo sự công bằng cho các tổ chức tham gia BHTG. Mức phí khác biệt thúc
đẩy các tổ chức tham gia BHTG phấn đấu để đƣợc xếp hạng tốt hơn, hƣởng
mức phí thấp hơn bằng cách giảm rủi ro trong hoạt động của mình.
- Đẩy nhanh quá trình tích lũy của Quỹ BHTG tại các quốc gia. Thông
thƣờng, việc triển khai phƣơng pháp tính phí theo mức độ rủi ro khi nền kinh
tế và hệ thống ngân hàng trong điều kiện thuận lợi sẽ làm cơ sở đẩy nhanh tốc
độ tích lũy của Quỹ BHTG, bởi vì mức phí BHTG thu đƣợc nhiều hơn khi ít
phải chi trả bảo hiểm, làm cho quy mô của Quỹ BHTG tăng lên.
19
- Nâng cao vai trò của tổ chức BHTG trong vấn đề xếp hạng, đánh giá
và giám sát rủi ro.
Tuy nhiên, bên cạnh những ƣu điểm và mục tiêu đã đƣợc đề cập ở trên,
hệ thống phí theo rủi ro cũng có những nhƣợc điểm nhất định. Cụ thể, tổ chức
tham gia BHTG hoạt động yếu kém, rủi ro cao lại phải chịu mức phí cao hơn
và nhƣ vậy, áp lực rủi ro tiếp tục tăng cao đối với nhóm tổ chức này. Việc xác
định rủi ro của từng TCTD lại rất phức tạp, đòi hỏi trình độ quản lý rất cao và
liên quan đến vấn đề bảo mật tin tức ngân hàng.
1.2.1.3. Giám sát rủi ro
Giám sát rủi ro ngân hàng liên tục bao gồm việc kết hợp giữa các quy
trình giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ. Giám sát rủi ro là một trong những