Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở
Việt Nam Nguyễn Duy Hoàn Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Luật kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Anh Sơn
Năm bảo vệ: 2011 Abstract. Trình bày một số vấn đề lý luận về Bảo hiểm tiền gửi và tổ chức bảo hiểm
tiền gửi như: sự hình thành, phát triển, khái niệm, bản chất, mục đích của bảo hiểm
tiền gửi và vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi. Nghiên cứu thực trạng pháp luật về
hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các nhu
cầu và cơ sở hoàn thiện pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi, đưa ra một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt
Nam.
Keywords. Pháp luật Việt Nam; Luật kinh tế; Luật Bảo hiểm; Tiền tệ Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới, điều đó đặt ra nhiều cơ hội to lớn nhưng cũng tiềm ẩn những
thách thức đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Do vậy, cần có sự cân bằng giữa sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính - ngân
Hơn nữa, đây là một lĩnh vực mới ở Việt Nam nên tài liệu tham khảo trong nước không
nhiều, đặc biệt là sách nghiên cứu về vấn đề này hầu như rất ít. Một số tài liệu tham khảo có
thể tìm thấy như các bài viết của các chuyên gia kinh tế, chuyên gia pháp lý đăng trên các tạp
chí nghiên cứu của ngành ngân hàng và của BHTGVN: Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền
theo pháp luật về BHTG tại Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện GS.TSKH
Đào Trí Úc, Thông tin BHTG số 03 tháng 4 năm 2007; Quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền
gửi, Đặng Dung, Giám đốc văn phòng luật sư DDZ, Báo điện tử Vietnamnet, ngày
03/3/2010. Tài liệu tham khảo nước ngoài về BHTG cũng ít vì đây là lĩnh vực mới chưa được
nhiều người quan tâm nghiên cứu, biên dịch.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ hơn nguyên lý, vai trò của tổ chức BHTG, đánh giá
khách quan về thực trạng mô hình tổ chức BHTG tại Việt Nam. Tìm hiểu các quy định pháp
luật liên quan đến tổ chức và hoạt động BHTG ở một số nước phát triển và trong khu vực để
thấy được sự khác nhau và kinh nghiệm quốc tế về mô hình tổ chức BHTG, trên cơ sở đó có
thể vận dụng vào điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam.
Điểm mới của luận văn là bên cạnh việc tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật
hiện hành về tổ chức và hoạt động BHTG tại Việt Nam, luận văn có sự so sánh, đối chiếu với
thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đánh giá khách quan, từ đó đưa ra những đề xuất kiến nghị hoàn
thiện pháp luật về mô hình tổ chức BHTG tại Việt Nam.
Luận văn này có thể làm tài liệu tham khảo trong quá trình xây dựng luật BHTG cũng
như góp phần vào công tác tuyên truyền đến công chúng về lĩnh vực BHTG tại Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nguyên lý hoạt động BHTG, thực trạng pháp luật
về tổ chức BHTG tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, nêu ra những bất cập và hướng hoàn thiện pháp
luật về tổ chức BHTG ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu nguyên lý hoạt động BHTG, thực trạng
các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh mô hình tổ chức BHTG tại Việt Nam, trên cơ sở
so sánh, đối chiếu với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về mô hình tổ chức BHTG.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được viết trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
chính sách ngân hàng tự do ở Mỹ (1886) và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) đã
làm hàng loạt ngân hàng ở Mỹ hoạt động rất khó khăn và đỉnh cao là năm 1933 có 4000 ngân
hàng thương mại phải ngừng hoạt động. Trong bối cảnh như vậy, để ứng phó với tình huống
phức tạp nhằm ổn định tình hình kinh tế, chính trị thì phải bảo vệ người gửi tiền và Chính phủ
Mỹ đã quyết định thành lập BHTG Liên bang (FDIC) năm 1933. FDIC bắt đầu hoạt động ngày
1/4/1934 và đây là mô hình BHTG công khai đầu tiên trên thế giới. FDIC có vị trí pháp lý độc lập
với Chính Phủ, chịu sự kiểm soát trực tiếp của Quốc hội. Tính đến nay, FDIC là tổ chức BHTG
công khai sớm nhất và được đánh giá có nhiều thành công, là mô hình được nhiều quốc gia tham
khảo và vận dụng. Đến nay, đã có hơn 100 quốc gia sử dụng hệ thống BHTG công khai bảo vệ
người gửi tiền và hiện nay có nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển thành lập hệ thống
BHTG.
1.1.2. Sự hình thành và phát triển của bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam
Bối cảnh trong nước
Vào những năm 1988 - 1990 hàng loạt các hợp tác xã tín dụng đô thị bị đổ vỡ trên toàn
quốc gây ra những bất ổn về kinh tế và chính trị. Trước tình hình đó, bảo vệ người gửi tiền là
rất quan trọng đòi hỏi phải có một tổ chức BHTG chuyên nghiệp theo thông lệ quốc tế.
Bối cảnh quốc tế
Cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á năm 1997, BHTG là công cụ tài chính được
một số Chính phủ ở Châu Á sử dụng hữu hiệu trong tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và lấy lại
niềm tin của công chúng.
Trước bối cảnh trong nước và quốc tế như vậy, đòi hỏi sự ra đời của tổ chức BHTG là hết
sức cần thiết, đáp ứng được yêu cầu khách quan của thị trường tài chính cũng như toàn bộ
nền kinh tế. Vì vậy, trong khoản 1 Điều 17, Luật Tổ chức tín dụng ban hành năm 1997 đã
quy định: "Tổ chức tín dụng có trách nhiệm tham gia tổ chức bảo toàn tiền gửi hoặc bảo hiểm
tiền gửi". Điều đó là cơ sở quan trọng để tổ chức BHTG ra đời.
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được thành lập theo Quyết định 218/1999/QĐ-Ttg, hoạt
động theo Nghị định 89/1999/NĐ-CP và đi vào hoạt động từ ngày 7/7/2000. BHTGVN là tổ
chức tài chính nhà nước thực hiện chính sách BHTG, là công cụ tài chính được Chính phủ sử
dụng để thay mặt Chính phủ bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo an toàn hệ thống tài chính -
ngân hàng.
trực tiếp về BHTG giữa người gửi tiền và tổ chức BHTG trừ trường hợp xảy ra đổ vỡ của tổ
chức tín dụng.
- Đối tượng được hưởng các quyền lợi bảo hiểm: Mặc dù người gửi tiền được hưởng các
quyền lợi trực tiếp từ chính sách BHTG nhưng họ không phải trực tiếp tham gia BHTG.
- Đối tượng tham gia BHTG: Các tổ chức tín dụng (TCTD) hoặc không phải là TCTD
nhưng có hoạt động huy động tiền gửi của tổ chức hoặc cá nhân là đối tượng tham gia
BHTG. Đối tượng tham gia bảo hiểm của các loại hình bảo hiểm thương mại là các tổ chức
hoặc cá nhân.
- Cơ chế tham gia BHTG: Cơ chế tham gia BHTG thông thường là bắt buộc, còn đối với
các loại hình bảo hiểm khác thì có thể tự nguyện hay thỏa thuận.
- Hình thức pháp lý tham gia: Tham gia BHTG là sự bắt buộc đối với tổ chức tham gia
BHTG, không thông qua hợp đồng bảo hiểm. Đây là sự khác biệt tương đối đặc trưng, còn ở
các loại hình bảo hiểm thương mại khác là sự thỏa thuận giữa tổ chức bảo hiểm và người
được bảo hiểm, phải thông qua hợp đồng bảo hiểm.
- Nội dung bảo hiểm: Ở BHTG là sự bắt buộc theo những quy định của pháp luật còn ở các
loại hình bảo hiểm khác thì có thể do sự lựa chọn của chủ thể về nội dung tham gia bảo hiểm.
Ngoài sự khác biệt nêu trên, còn có những khác biệt về mô hình tổ chức, về hoạt động, sản
phẩm dịch vụ…
1.3. Một số vấn đề về liên quan đến mô hình tổ chức và hoạt động bảo hiểm tiền gửi
1.3.1. Về mô hình bảo hiểm tiền gửi
1.3.1.1. Mô hình bảo hiểm tiền gửi tự nguyện và bắt buộc
BHTG tự nguyện được ít nước áp dụng hoặc ở giai đoạn đầu thử nghiệm, đa số các nước
áp dụng hình thức BHTG là bắt buộc. Theo Kent và Sobaci, trong tổng số 68 hệ thống BHTG
được nghiên cứu chỉ có 13 hệ thống BHTG tham gia tự nguyện, 55 hệ thống tham gia BHTG
bắt buộc. Ở Việt Nam hiện nay, theo mô hình BHTG công khai và bắt buộc đối với các
TCTD có nhận tiền gửi của công chúng.
1.3.1.2. Mô hình chức năng
(i) Mô hình chi trả;
(ii) Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng;
(iii) Mô hình giảm thiểu rủi ro, Hiện nay trên thế giới, xu hướng chung là theo mô hình tổ
nước (NHNN) và tổ chức BHTG, trong đó, UBGSTCTTQG là cơ quan điều phối chung của
Chính phủ.
1.3.3.2. Phối hợp trong việc xử lý đổ vỡ tổ chức tín dụng
(i) Quy định mối quan hệ giữa BHTG và NHNN;
(ii) Quy định mối quan hệ giữa BHTG và Bộ Tài chính;
(iii) Quy định mối quan hệ giữa BHTGVN với các cơ quan khác;
1.4. Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
1.4.1. Đối với người gửi tiền
BHTG sẽ chi trả toàn bộ hoặc một phần tiền gửi cho người gửi tiền nếu tổ chức bị đổ vỡ
không có khả năng làm việc đó.
1.4.2. Đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và hệ thống tài chính, ngân hàng
BHTG góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng từ khi
cấp phép cho đến khi chấm dứt hoạt động.
1.4.3. Đối với sự phát triển kinh tế và góp phần ổn định xã hội
Thông qua vai trò bảo vệ người gửi tiền, xây dựng và củng cố niềm tin của công chúng
đối với hệ thống ngân hàng, BHTG có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình huy động vốn
phục vụ phát triển.
1.4.4. Vai trò trong xử lý khủng hoảng tài chính, ngân hàng
BHTG có vai trò quan trong trong trường hợp xảy ra khủng hoảng tài chính, ngân hàng. Việc
các quốc gia nâng hạn mức chi trả BHTG hoặc tuyên bố bảo hiểm toàn bộ tiền gửi của người dân
đã góp phần ngăn ngừa được tình trạng rút tiền ồ ạt, nâng cao niềm tin của người gửi tiền vào hệ
thống ngân hàng.
Như vậy, pháp luật về BHTG và tổ chức BHTG có vai trò rất quan trọng, là công cụ hữu hiệu
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần đảm bảo an toàn, lành mạnh
hoạt động của TCTD và nền kinh tế.
Tóm lại, việc nghiên cứu một cách có hệ thống một số vấn đề lý luận chung về BHTG và
tổ chức BHTG cho chúng ta thấy được sự hình thành và phát triển của hệ thống BHTG trên
thế giới và ở Việt Nam ngày càng phát triển. Việc làm rõ khái niệm, bản chất, mục đích của
BHTG giúp phân biệt được sự khác nhau giữa BHTG và bảo hiểm thương mại thông thường.
Qua đó, cũng thấy được đặc trưng cơ bản của BHTG được thể hiện dưới các góc độ được
Như vậy, BHTGVN được xác định trong pháp luật BHTG là tổ chức tài chính nhà nước,
có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, đảm bảo an toàn vốn và tự bù đắp chi phí, hoạt
động trên phạm vi cả nước, được mở tài khoản tại các ngân hàng trong nước và nước ngoài.
Đây là căn cứ xác định vị trí pháp lý tổ chức BHTGVN là tổ chức độc lập thuộc Chính
phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực BHTG.
Theo quy định của pháp luật về BHTG có thể khẳng định BHTGVN là tổ chức tài chính
nhà nước, độc lập thuộc Chính phủ. Tuy nhiên, do không quy định cụ thể vấn đề này trong
văn bản luật đã làm hạn chế chức trách, nhiệm vụ của BHTGVN. Việc thiết kế, xác định địa vị
pháp lý không rõ ràng, phù hợp sẽ ảnh hưởng về mặt xã hội, vì đây là tổ chức bảo vệ cho hàng
chục triệu người gửi tiền, ảnh hưởng đến chính sách an sinh xã hội.
So sánh địa vị pháp lý của tổ chức BHTGVN với các hệ thống BHTG trên thế giới có thể
kết luận: Vị trí pháp lý của BHTGVN cũng gần giống địa vị pháp lý của tổ chức BHTG các
nước, nhưng pháp luật các nước quy định rất cụ thể về vấn đề này, còn pháp luật Việt Nam
không quy định rõ. Đây là hạn chế cần được bổ sung trong pháp luật về vị trí pháp lý của
BHTGVN để tiến dần theo thông lệ chung và theo khuyến nghị của Hiệp Hội BHTG Quốc tế.
Văn bản pháp luật không quy định rõ cơ quan quản lý tổ chức BHTGVN, nhưng căn cứ
vào việc Thủ tướng Chính phủ thành lập, phê duyệt Điều lệ về tổ chức và hoạt động của
BHTGVN, có thể kết luận BHTGVN là tổ chức tài chính nhà nước do Chính phủ quản lý.
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng Luật NHNN (tháng 6/2010) đã có nhiều quan điểm
khác nhau về cơ quan quản lý nhà nước đối với tổ chức BHTGVN, nhưng đa số các nhà nghiên
cứu về kinh tế, tài chính - ngân hàng và luật pháp đều cho rằng BHTGVN là tổ chức tài chính nhà
nước độc lập do Chính phủ quản lý là phù hợp theo thông lệ quốc tế. Vì vậy, tại khoản 14 Điều 4
Luật NHNN chỉ quy định: NHNN thực hiện quản lý nhà nước về BHTG theo quy định của
pháp luật về BHTG. Theo các quy định hiện hành, BHTGVN là tổ chức tài chính nhà nước,
nhưng cần quy định rõ là tổ chức tài chính nhà nước đặc biệt, độc lập do Chính phủ quản lý.
Vì vậy, cần nghiên cứu, xác định cụ thể địa vị pháp lý của BHTGVN theo mô hình tổng
công ty, trực thuộc Chính Phủ có ý nghĩa rất quan trọng để tổ chức này làm tốt chức năng
nhiệm vụ của mình.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Thông thường tổ chức BHTG được thiết kế theo mô hình Tổng công ty. Với các tiêu
2.2.2.2. Ban kiểm soát
BKS có 3 thành viên chuyên trách và một số thành viên kiêm nhiệm, trong đó một thành
viên làm trưởng ban. Các thành viên còn lại do Chủ tịch HĐQT bổ nhiệm, miễn nhiệm trên cơ sở
đề nghị của trưởng BKS. BKS được thành lập để giúp HĐQT thực hiện việc kiểm tra, giám sát
hoạt động của BHTGVN trong điều hành hoạt động, chấp hành pháp luật, điều lệ và các chủ
trương, nghị quyết, quyết định của HĐQT. Vì vậy, hoạt động của BKS có ý nghĩa rất quan
trọng của công tác quản trị, điều hành.
2.2.2.3. Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc
Tổng giám đốc BHTGVN là đại diện pháp nhân của BHTGVN, chịu trách nhiệm trước
HĐQT, trước Chính Phủ và trước pháp luật về điều hành hoạt động của BHTGVN. Trong bộ
máy điều hành còn có các Phó tổng giám đốc giúp việc cho TGĐ, điều hành một số lĩnh vực
của BHTGVN theo sự phân công của TGĐ và chịu trách nhiệm trước TGĐ. Chức năng,
nhiệm vụ của BKS, trách nhiệm quyền hạn của TGĐ BHTGVN cũng tương tự như các nước.
Từ sự phân tích trên ta thấy: Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị điều hành của BHTGVN
cũng giống mô hình của một doanh nghiệp nhà nước. BHTGVN vừa có chức năng của một
doanh nghiệp nhà nước là kinh doanh BHTG, nhưng không vì lợi nhuận, cũng giống như
doanh nghiệp hoạt động công ích, lại vừa làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực BHTG.
Mô hình hoạt động và quản trị điều hành hiện nay của BHTGVN tương đối phù hợp với
nguyên tắc cơ bản về tổ chức BHTG hiệu quả mà Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng và Hiệp
hội BHTG Quốc tế khuyến nghị.
Tuy mô hình tổ chức của BHTGVN được thiết kế và hoạt động theo mô hình Tổng công
ty nhưng pháp luật không quy định rõ. Trên thế giới, hệ thống BHTG của các quốc gia có xu
hướng thiết kế theo mô hình Tổng công ty. Việc chưa xác định rõ mô hình tổ chức dẫn tới
những khó khăn trong hoạt động và trong áp dụng pháp luật. Vì vậy, Pháp luật về tổ chức
BHTG ở Việt Nam cần được quy định đầy đủ theo thông lệ quốc tế để BHTGVN thực hiện
tốt nhiệm vụ của mình.
2.3. Hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
2.3.1. Cấp và thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi
Tính đến 31/12/2009, BHTGVN đã cấp giấy chứng nhận BHTG cho 1.128 tổ chức bao
gồm: 83 ngân hàng thương mại, 11 tổ chức tín dụng phi ngân hàng và 1.034 quỹ tín dụng
Phí BHTG ở Việt Nam hiện đang được áp dụng đồng hạng ở mức 0,15%/năm tính trên số
dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm. Tổng số phí BHTG thu được lũy kế
đến cuối năm 2009 đạt trên 3.000 tỷ đồng, số thu phí hàng năm tăng trung bình trên 20%. Từ
năm 2004, 100% nguồn thu phí bảo hiểm được bổ sung Quỹ nghiệp vụ BHTG.
2.3.4.4. Về quản lý vốn quỹ
Tính đến ngày 30/11/2009, Quỹ BHTG đạt gần 5.000 tỷ đồng tăng gấp 5 lần so với vốn điều
lệ thực cấp. Để đảm bảo năng lực tài chính của tổ chức BHTG tại Việt Nam, theo đó, năm 2010
mức vốn điều lệ đạt khoảng 10 nghìn tỷ đồng (năm 2000 vốn điều lệ Chính phủ cấp 1000 tỷ đồng,
năm 2007 đạt gần 3000 tỷ đồng, năm 2008, trong Quyết định 13/2008 QĐ-Ttg vốn điều lệ cấp
thêm 5000 tỷ đồng, năm 2015 dự kiến đạt khoảng 30.000 tỷ đồng.
Theo tiêu chuẩn quốc tế, để đảm bảo an toàn hệ thống nguồn vốn dự trữ của tổ chức
BHTG trên tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm thì Quỹ dự trữ của BHTGVN là thấp (chỉ đạt tỉ
lệ hơn 0,9% trong khi đó tỷ lệ khuyến cáo là 1,15% đến 1,5%.).
2.3.4.5. Nghiệp vụ tiếp nhận, xử lý
Đến tháng 12/2009, BHTGVN đã chi trả cho 37 QTDND trên 18 tỷ đồng, đang theo dõi
và thanh lý 35 QTDND, thu hồi được trên 6 tỷ đồng. Trong thực tế, việc xử lý đổ vỡ của
TCTD và thu hồi nợ của BHTGVN gặp nhiều khó khăn do văn bản pháp luật không quy định
rõ.
2.3.5. Các hoạt động khác
2.3.5.1. Nghiên cứu ứng dụng
2.3.5.2. Phát triển nguồn nhân lực
2.3.5.3. Hợp tác quốc tế
2.3.5.4. Quản lý tài chính, kiểm soát và kiểm toán nội
2.3.5.5. Quản trị văn phòng, xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin
2.3.5.7. Các hoạt động của tổ chức đoàn thể
2.3.6. Một số vấn đề về cơ chế hoạt động bảo hiểm tiền gửi
2.3.6.1. Về đối tượng tham gia
Cần mở rộng đối tượng tham gia BHTG bắt buộc như các công ty bảo hiểm nhân thọ,
công ty nhận ủy thác đầu tư chứng khoán, tiết kiệm bưu điện, tài chính quy mô nhỏ…
2.3.6.2.Tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tiền gửi
sản phẩm dịch vụ đem lại nhiều lợi nhuận. Đây là quá trình tái cấu trúc lại hệ thống tài chính -
ngân hàng để phù hợp với môi trường và hoàn cảnh mới, đem lại hiệu quả kinh tế lớn nhất.
- Chính phủ Việt Nam đang thực hiện đổi mới hệ thống tài chính, ngân hàng thông qua việc
tái cấu trúc hệ thống, cổ phần hóa các ngân hàng thương mại Nhà nước theo lộ trình và cam kết
quốc tế. Theo quy luật chung, sự phát triển "nóng" của thị trường tài chính sẽ luôn đi kèm với
những rủi ro tiềm ẩn; bên cạnh những rủi ro truyền thống sẽ xuất hiện nhiều rủi ro mới.
Trong điều kiện như vậy, hành lang pháp lý điều chỉnh mô hình tổ chức, chức năng nhiệm vụ
BHTG cần được xây dựng phù hợp với thông lệ quốc tế.
3.1.2. Cơ sở hoàn thiện pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Việc hoàn thiện pháp luật về mô hình tổ chức BHTGVN cần gắn kết với đề án phát triển
ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Chiến lược phát
triển BHTGVN giai đoạn 2006 đến 2015 cũng như quan điểm của Nhà nước về việc phát
triển hệ thống BHTG hiệu quả tại Việt Nam.
Theo Đề án phát triển ngành ngân hàng, cần cải cách căn bản, triệt để và toàn diện hệ
thống tổ chức tín dụng theo hướng hiện đại, hoạt động đa năng để đạt trình độ phát triển trung
bình, tiến tiến trong khu vực ASEAN với cấu trúc đa dạng về sở hữu, về loại hình TCTD, có
quy mô hoạt động lớn hơn, tài chính lành mạnh. Đồng thời, tạo nền tảng đến sau năm 2010
xây dựng được hệ thống các TCTD hiện đại, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực Châu Á, đáp
ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng.
Trong các nhóm giải pháp lớn để thực hiện đề án, nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp
luật, cơ chế, chính sách về tiền tệ và hoạt động ngân hàng là nhóm giải pháp quan trọng. Chiến
lược phát triển BHTGVN giai đoạn 2006 đến 2015, dựa trên 5 trụ cột, trong đó xây dựng củng cố
cơ sở hạ tầng pháp lý là trụ cột quan trọng nhất, cụ thể là xây dựng luật BHTG.
Trên cơ sở phân tích nguyên lý hoạt động BHTG, thực trạng pháp luật về tổ chức BHTG
ở Việt Nam, giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức về BHTG tập trung giải quyết các vấn đề
sau.
3.2. Các giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi
3.2.1. Về vị trí pháp lý
Để hệ thống BHTG ở Việt Nam hoạt động có hiệu quả, thì phải xây dựng tổ chức
BHTGVN có vị trí pháp lý độc lập, nhà nước cấp vốn điều lệ, hoạt động không vì mục tiêu
Để phù hợp với mô hình tổ chức của Tổng công ty BHTGVN, cần hoàn thiện về cơ chế,
chức năng nhiệm vụ BHTG, để BHTGVN thực hiện tốt nhiệm vụ của mô hình tổ chức giảm
thiểu rủi ro trong giai đoạn tới.
3.2.3. Về hoạt động bảo hiểm tiền gửi
Để BHTGVN thực hiện tốt nhiệm vụ của mình thì các quy định về chức năng nhiệm vụ của
BHTGVN cần được nghiên cứu, xây dựng theo thông lệ chung gồm các vấn đề như: Công tác
kiểm tra, giám sát; sự phối hợp giữa các cơ quan trong mạng an toàn tài chính; về xử lý đổ vỡ
ngân hàng; về đối tượng tham gia BHTG; về đối tượng được bảo hiểm; về hạn mức chi trả;
về phí BHTG và công tác chi trả BHTG nên theo thông lệ chung.
3.3. Sự cần thiết xây dựng luật bảo hiểm tiền gửi
- Nền kinh tế nước ta đang phát triển theo cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế sâu sắc
trên tất cả các lĩnh vực; đồng thời, ẩn chứa nhiều rủi ro cần phải được đảm bảo an toàn, ổn
định của hệ thống tài chính - ngân hàng, bảo vệ tốt hơn người gửi tiền.
- Thiếu cơ sở pháp lý vững chắc. BHTGVN ra đời và hoạt đã 10 năm nhưng chưa có luật
về BHTG, văn bản pháp lý cao nhất là Nghị định của Chính phủ đã trở nên không phù hợp,
chưa tương xứng với chức năng nhiệm vụ của BHTGVN.
- Chưa theo thông lệ quốc tế về BHTG. Ở các nước, trước khi tổ chức BHTG ra đời thì
đã có luật về BHTG được ban hành. Chức năng nhiệm vụ BHTG ở Việt Nam cũng như về cơ
chế tham gia BHTG, phí BHTG, các hoạt động nghiệp vụ BHTG khác chưa theo đúng thông
lệ quốc tế tốt nhất. Sự phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan trong mạng an toàn tài
chính chưa có quy định cụ thể.
KẾT LUẬN
Việc nghiên cứu quy định của pháp luật về mô hình tổ chức BHTG tại Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay là cần thiết vì thị trường tài chính của nước ta đang trong giai đoạn đầu
của sự phát triển theo quy luật thị trường với nhiều biến động và thách thức. Đồng thời,
Chính phủ đang có chủ trương hoàn thiện hệ thống pháp luật về tài chính, ngân hàng, BHTG
phù hợp với điều kiện Việt Nam và thông lệ quốc tế, đặc biệt là sau khi gia nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO và BHTGVN đã trở thành thành viên của Hiệp hội BHTG Quốc tế.
Việc nghiên cứu mô hình tổ chức của BHTGVN gắn với việc nghiên cứu chung về vị trí, vai
4. Chính phủ (1999), Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9 về bảo hiểm tiền gửi, Hà
Nội.
5. Chính phủ (1999), Quyết định số 218/QĐ-Ttg ngày 09/11 của Thủ tướng Chính phủ về
việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Hà Nội.
6. Chính phủ (2000), Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg ngày 28/6 của Thủ tướng Chính phủ
ban hành kèm theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Hà
Nội.
7. Chính phủ (2005), Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8 về việc sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ về bảo
hiểm tiền gửi, Hà Nội.
8. Đặng Duy Cường (2007), "Mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi giảm thiểu rủi ro", Thông
tin Bảo hiểm tiền gửi, (5).
9. Đặng Dung (2010), "Quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi", vietnamnet.vn, ngày 03/3.
10. Nguyễn Mạnh Dũng (2008), "Trao đổi xung quanh vấn đề tiếp nhận, xử lý tổ chức tham
gia bảo hiểm tiền gửi", Thông tin Bảo hiểm tiền gửi, (6).
11. Nguyễn Mạnh Dũng - Đặng Duy Cường (2009), "Kinh nghiệm của bảo hiểm tiền gửi
Nhật Bản và Hoa Kỳ đối phó khủng hoảng kinh tế và xử lý ngân hàng đổ vỡ", Ngân
hàng, (8).
12. Trần Đình Hảo (2008), "Về địa vị pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam",
Thông tin Bảo hiểm tiền gửi, (6).
13. Mai Hương (2010), "Bảo vệ người gửi tiền - bảo vệ nền tảng tài chính ngân hàng",
vietnamnet.vn, ngày 14/6.
14. Luật Bảo hiểm tiền gửi Đài Loan năm 1985, sửa đổi bổ sung các năm 1999, 2001, 2003.
15. Luật Bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc năm 1995, sửa đổi bổ sung các năm 1997, 1998,
2003.
16. Luật Bảo hiểm tiền gửi In đô nê xi a năm 2005.
17. Luật Bảo hiểm tiền gửi Mỹ năm 1933.
18. Luật Bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản năm 1971.
19. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2006), Thông tư 03/2006/TT-NHNN ngày 25/4 về việc
hướng dẫn một số nội dung tại Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 của
38. Financial Institutions and Structure for Growth in East Asia- Jenny Corbett.
39. The law of Republic of Indonesia.
40. Proposed Research plan for Developing General guidance for effective Deposit
Insurance Mandate, IADI.
TRANG WEB
41. www.fdic.gov.
42. www.pdic.gov.
43. www.pidm.gov.
44. www.sbv.gov.vn.