ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN DUY HOÀN
PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI
Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các sơ đồ
Mục đích của hoạt động bảo hiểm tiền gửi
14
1.2.3.
Phân biệt bảo hiểm tiền gửi và các loại hình bảo hiểm
thương mại
15
1.3.
Một số vấn đề liên quan đến mô hình tổ chức và hoạt
động bảo hiểm tiền gửi
17
1.3.1.
Về mô hình bảo hiểm tiền gửi
17
1.3.1.1.
Mô hình bảo hiểm tiền gửi tự nguyện và bắt buộc
18
1.3.1.2.
Mô hình chức năng
19
1.3.1.3.
Mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi
21
1.3.2.
Về hoạt động bảo hiểm tiền gửi
24
1.3.2.1.
Hoạt động thu phí của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
24
1.3.2.2.
Về các hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC BẢO HIỂM
TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM
47
2.1.
Vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức bảo hiểm
tiền gửi
47
2.1.1.
Vị trí pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
47
2.1.2.
Chức năng, nhiệm vụ của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
57
2.2.
Cơ cấu tổ chức, quản trị điều hành của bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam
61
2.2.1.
Cơ cấu tổ chức bộ máy
61
2.2.2.
Quản trị và điều hành của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
63
2.2.2.1.
Hội đồng quản trị
63
2.2.2.2.
Ban kiểm soát
65
2.3.4.5.
Nghiệp vụ tiếp nhận và xử lý
78
2.3.5.
Các hoạt động khác
82
2.3.5.1.
Nghiên cứu ứng dụng
82
2.3.5.2.
Phát triển nguồn nhân lực
82
2.3.5.3.
Hợp tác quốc tế
83
2.3.5.4.
Quản lý tài chính, kiểm soát và kiểm toán nội bộ
83
2.3.5.5.
Quản trị văn phòng, xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ
thông tin
84
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ
CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM
85
3.1.
Nhu cầu và cơ sở hoàn thiện pháp luật về tổ chức bảo
hiểm tiền gửi
85
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHTG
: Bảo hiểm tiền gửi
BHTGVN
: Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
BKS
: Ban kiểm soát
HĐQT
: Hội đồng quản trị
NHNN
: Ngân hàng nhà nước
QTDND
: Quỹ tín dụng nhân dân
TCTD
: Tổ chức tín dụng
TGĐ
: Tổng giám đốc
Danh mục các bảng
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
Số hiệu
sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
1.1
Phân công giám sát tài chính - ngân hàng ở Mỹ
32
1.2
Vai trò của tổ chức BHTG
35
2.1
Cơ cấu tổ chức bộ máy của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
61
3.1
Các tiêu chí hoàn thiện mô hình tổ chức BHTG
88
3.2
Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức BHTG tại Việt Nam
89 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế nói chung,
lĩnh vực tài chính - ngân hàng nói riêng đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng. Chính phủ đã ký và cam kết việc mở cửa thị trường tài chính, đặc biệt là
sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), điều đó đặt
minh được vị trí và vai trò của mình trong việc bảo vệ người gửi tiền, góp
phần ổn định hệ thống tài - ngân hàng và nền kinh tế. Tuy nhiên, trước bối
cảnh hội nhập sâu rộng và đổi mới mạnh mẽ của hệ thống tài chính - ngân
hàng, nhiều quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực BHTG, đặc biệt là mô
hình tổ chức không còn phù hợp và cần có sự hoàn thiện. Xây dựng Luật
BHTG với mô hình tổ chức BHTG giảm thiểu rủi ro đã trở thành yêu cầu tất
yếu và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
BHTG là một lĩnh vực mới ở Việt Nam, các văn bản pháp lý điều
chỉnh mô hình tổ chức và hoạt động BHTG tại Việt Nam gồm Nghị định
89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ về BHTG, Nghị định
109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định 89/1999/NĐ-CP, Quyết định 75/2000/QĐ-TTg ngày
28/6/2000 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động
của BHTGVN (Quyết định 75/2000/QĐ-TTg), Quyết định 218/1999/QĐ-TTg
ngày 09/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập BHTGVN và
Thông tư 03/2006/TT-NHNN ngày 25/4/2006 của Ngân hàng nhà nước về
việc hướng dẫn một số nội dung tại Nghị định 89/1999/NĐ-CP và Nghị định
109/2005/NĐ-CP. Những văn bản đó đến nay đã bộc lộ những bất cập trong
việc điều chỉnh mô hình tổ chức và hoạt động BHTG ở nước ta, đặc biệt trong
bối cảnh thị trường tài chính những năm qua phát triển mạnh mẽ và những rủi
ro trong hoạt động ngân hàng ngày càng trở nên phức tạp.
3
Theo Luật Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã được Quốc hội khóa 12,
kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010, tại Điều 4, khoản 14 quy
định: "Ngân hàng nhà nước thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi
theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi". Như vậy, BHTGVN vẫn là
một tổ chức độc lập theo các quy định pháp luật hiện hành, không thuộc
NHNN. BHTGVN chỉ chịu sự chỉ đạo của NHNN về lĩnh vực BHTG theo
quy định của pháp luật về BHTG. Tuy nhiên, tính độc lập của BHTGVN hiện
sâu vào từng khía cạnh của BHTG. Một số công trình khác chủ yếu tập trung
vào quy chế pháp lý và hoạt động nghiệp vụ giám sát, kiểm tra, tiếp nhận và
xử lý, phí BHTG, lợi ích của BHTG như: Bảo hiểm tiền gửi - Nguyên lý,
thực tiễn và định hướng, TS. Nguyễn thị Kim Oanh, Nhà xuất bản Lao động
xã hội, tháng 12 năm 2004; Quy chế pháp lý về bảo hiểm tiền gửi tại Việt
Nam, ThS. Lê Thị Thúy Sen, Viện Nhà nước Pháp luật, năm 2008. Ngoài ra
cũng có một số bài viết đăng trên các báo và tạp chí đề cập đến vai trò của tổ
chức BHTG trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo an sinh xã hội. Tuy
nhiên, việc nghiên cứu một cách tổng quát về mô hình tổ chức BHTG tại Việt
Nam trong bối cảnh sau khi Việt Nam gia nhập WTO và đặc biệt sau khủng
hoảng tài chính - ngân hàng vừa qua thì hiện nay chưa có công trình nào.
Trong bối cảnh nước ta đang hoàn thiện hệ thống pháp luật về tài chính - ngân
hàng, trong đó có việc hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến tổ chức và hoạt
động BHTG thì việc nghiên cứu đề tài "Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền
gửi ở Việt Nam" là cần thiết.
Hơn nữa, đây là một lĩnh vực mới ở Việt Nam nên tài liệu tham khảo
trong nước không nhiều, đặc biệt là sách nghiên cứu về vấn đề này hầu như
rất ít. Một số tài liệu tham khảo có thể tìm thấy như các bài viết của các
chuyên gia kinh tế, chuyên gia pháp lý đăng trên các tạp chí nghiên cứu của
ngành ngân hàng và của BHTGVN: Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền theo
pháp luật về BHTG tại Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện
GS.TSKH Đào Trí Úc, Thông tin BHTG số 03 tháng 4 năm 2007; Quản lý
nhà nước về bảo hiểm tiền gửi, Đặng Dung, Giám đốc văn phòng luật sư
5
DDZ, Báo điện tử Vietnamnet, ngày 03/3/2010. Tài liệu tham khảo nước
ngoài về BHTG cũng ít vì đây là lĩnh vực mới chưa được nhiều người quan
tâm nghiên cứu, biên dịch.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ hơn nguyên lý, vai trò của tổ
Nam và các tài liệu, các nguồn từ nước ngoài.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: thống kê,
so sánh, đối chiếu, phân tích, chứng minh, tổng hợp, quy nạp… để rút ra
những kết luận khoa học của mình.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tôi mong muốn góp phần
làm rõ hơn nguyên lý chung về BHTG, pháp luật về tổ chức BHTG tại Việt
Nam và sau khi nghiên cứu pháp luật về BHTG của một số nước trên thế giới
và tìm hiểu thực tiễn áp dụng tại Việt Nam để từ đó đưa ra những đề xuất kiến
nghị góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức BHTG tại Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Bảo hiểm tiền gửi và tổ chức bảo
hiểm tiền gửi.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam.
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền
gửi ở Việt Nam.
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
VÀ TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.1. SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.1.1. Khái quát về sự hình thành và phát triển bảo hiểm tiền gửi
trên thế giới
Xuất phát từ nhu cầu trao đổi vật phẩm làm ra, tiền tệ - phương tiện
thanh toán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ ra đời và không ngừng phát huy tác
dụng trong đời sống. Tiền tệ trở thành hàng hóa đặc biệt. Tiếp theo sự ra đời
Trách nhiệm trong chương trình này muốn đề cập đến tiền gửi ngân hàng và
chứng chỉ huy động tiền gửi. Sau chương trình này ở New york đem lại kết
quả, từ năm 1831 đến 1858 các bang tiếp theo là Vermont, Indiana, Michigan,
Ohia và Iowa đã thành lập được tổ chức BHTG và sự tham gia của các ngân
hàng vào các tổ chức BHTG là tự nguyện.
Mục đích của chương trình này là: Bảo vệ cộng đồng khi có ngân
hàng đổ vỡ, bảo vệ người gửi tiền cá nhân và các tổ chức huy động tiền gửi.
Sau thời gian thử nghiệm thành lập tổ chức BHTG ở một số bang đạt
hiệu quả thì cùng với chính sách ngân hàng tự do ở Mỹ (1886) và cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) đã làm hàng loạt ngân hàng ở Mỹ hoạt
động rất khó khăn và "đỉnh cao là năm 1933 có 4000 ngân hàng thương mại
phải ngừng hoạt động" [20, tr. 18-19]. Trong bối cảnh như vậy, để ứng phó
với tình huống phức tạp nhằm ổn định tình hình kinh tế, chính trị thì phải bảo
vệ người gửi tiền và Chính phủ Mỹ đã quyết định thành lập BHTG Liên bang
(FDIC) năm 1933. FDIC bắt đầu hoạt động ngày 1/4/1934 và đây là mô hình
BHTG công khai đầu tiên trên thế giới. FDIC có vị trí pháp lý độc lập với
Chính phủ, chịu sự kiểm soát trực tiếp của Quốc hội. Tính đến nay, FDIC là
tổ chức BHTG công khai sớm nhất và được đánh giá có nhiều thành công, là
mô hình được nhiều quốc gia tham khảo và vận dụng.
9
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của thống tài chính - ngân hàng
trên thế giới, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, nhu
cầu về bảo vệ người tiêu dùng nói chung và người gửi tiền nói riêng là nhu
cầu đặt ra với bất kể Chính phủ nào. Niềm tin của người gửi tiền là quan trọng
đối với sự phát triển an toàn và lành mạnh của hệ thống tài chính trong thế
giới hiện đại. Với những ưu thế và tính chuyên nghiệp trong việc bảo vệ
người gửi tiền, góp phần đảm bảo sự ổn định của hoạt động tài chính - ngân
hàng, hệ thống BHTG công khai ngày càng phát triển mạnh mẽ trên thế giới.
BHTG được xác định không chỉ bảo vệ người gửi tiền mà còn được khẳng
2005
Luật BHTG 2005
9
Đài Loan
1985
Luật BHTG 1985
10
Việt Nam
2000
Nghị định 89/1999
Nguồn: [41], [42], [43], [44].
Một số nước có hệ thống BHTG nằm trong ngân hàng Trung ương thì
đang có xu hướng tách ra thành cơ quan BHTG độc lập ví dụ: Thái Lan,
10
Lào Còn Trung Quốc, Nga đang chuẩn bị thành lập hệ thống BHTG. Như
vậy, xu hướng thành lập hệ thống BHTG và chuyển đổi mô hình tổ chức
BHTG ở khu vực Châu Á ngày càng diễn ra phổ biến và mạnh mẽ, Việt Nam
cũng nằm trong tiến trình đó.
1.1.2. Sự hình thành và phát triển của bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam
- Bối cảnh trong nước
Vào những năm 1988 - 1990 hàng loạt các hợp tác xã tín dụng đô thị
bị đổ vỡ trên toàn quốc gây ra những bất ổn về kinh tế và chính trị. Đặc biệt là
niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng bị ảnh hưởng nghiêm
trọng. Trong bối cảnh đó, việc lấy lại niềm tin của công chúng đối với hệ
thống tài chính - ngân hàng là yêu cầu quan trọng để tránh tình trạng người
dân có tiền không gửi vào ngân hàng hoặc mua vàng tích trữ tại nhà. Chính
những hành động như vậy đã ảnh hưởng đến quá trình huy động vốn cho sự
phát triển kinh tế đất nước trong những lúc khó khăn. Trước sự đổ vỡ đó, các
cơ quan chức năng rất lúng túng trong việc xử lý vì không biết lấy đâu ra
Cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á năm 1997, tuy ảnh
hưởng không nhiều đến nền kinh tế Việt Nam nhưng cũng tác động đến hoạt
động ngân hàng nước ta. Trong quá trình xử lý khủng hoảng tài chính - ngân
hàng thì BHTG là công cụ tài chính được một số Chính phủ ở Châu Á sử
dụng hữu hiệu trong tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và lấy lại niềm tin của
công chúng. Nhiều quốc gia nhận thấy vai trò quan trọng của tổ chức BHTG
trong xử lý khủng hoảng tài chính - ngân hàng; đồng thời, cũng thấy xu
hướng phát triển hệ thống BHTG trên thế giới phát triển mạnh mẽ và cũng tác
động đến Việt Nam.
Trước bối cảnh trong nước và quốc tế như vậy, để bảo vệ người gửi
tiền và đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh hoạt động tài chính - ngân
hàng, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền vững thì cần có một tổ chức
chuyên nghiệp thực hiện các nghiệp vụ BHTG. Trong xu thế hội nhập sâu
12
rộng với khu vực và trên thế giới, thị trường tài chính của nước ta có nhiều cơ
hội để phát triển nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và thách thức. Để hạn chế
những rủi ro đó và bảo vệ được người tiêu dùng nói chung và người gửi tiền
nói riêng đòi hỏi sự ra đời của tổ chức BHTG là hết sức cần thiết, đáp ứng
được yêu cầu khách quan của thị trường tài chính cũng như toàn bộ nền kinh
tế. Đồng thời, hoạt động BHTG của Bảo Việt thực hiện đã bộc lộ những hạn
chế, không đảm bảo các yếu tố quyết định sự thành công của một hệ thống
BHTG. Vì vậy, trong khoản 1 Điều 17, Luật TCTD ban hành năm 1997 đã
quy định: "Tổ chức tín dụng có trách nhiệm tham gia tổ chức bảo toàn tiền
gửi hoặc bảo hiểm tiền gửi" (Luật các TCTD, sửa đổi bổ sung năm 2004, tại
khoản 1 Điều 17 vẫn quy định: "Tổ chức tín dụng có trách nhiệm: Tham gia
tổ chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi, mức bảo toàn và bảo hiểm tiền gửi
do Chính phủ quy định"). Đây là cơ sở quan trọng để tổ chức BHTG ra đời.
BHTG ra đời, khẳng định đó là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường.
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được thành lập theo Quyết định
có thể là toàn bộ hoặc một phần tiền gửi do chính sách của mỗi quốc gia.
1.2.1.2. Bản chất của bảo hiểm tiền gửi
BHTG cũng mang bản chất chung của các loại hình bảo hiểm khác,
hoạt động theo nguyên lý lấy số đông bù số ít nhưng BHTG hoạt động có tính
chất đặc thù, thể hiện như sau:
- Hoạt động BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ công. Dịch vụ
BHTG là loại hàng hóa mang tính xã hội cao. Việc loại trừ tuyệt đối một cá
nhân, hoặc một tổ chức ra khỏi sự thụ hưởng của dịch vụ BHTG là rất khó
khăn và tốn kém. Chính vì đặc tính không loại trừ thụ hưởng tuyệt đối mà
dịch vụ BHTG được xếp vào loại hàng hóa công không thuần túy. BHTG là
công cụ được Chính phủ sử dụng để thực hiện chính sách công trong lĩnh vực
tài chính - ngân hàng.
14
- Hoạt động của tổ chức BHTG thông thường không vì mục tiêu lợi
nhuận. Chính phủ các quốc gia thành lập hệ thống BHTG nhằm mục đích để
tổ chức này thực hiện chính sách công của nhà nước. Bởi trong thực tế, hoạt
động tài chính - ngân hàng là hoạt động nhạy cảm và có tính lan truyền rất
cao; đồng thời, sự đổ vỡ của hệ thống tài chính - ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến
toàn bộ nền kinh tế và gây ra những bất ổn về mặt xã hội. Do đó, Chính phủ
các quốc gia đã sử dụng công cụ tài chính BHTG, nhằm góp phần đảm bảo sự
phát triển an toàn lành mạnh của hệ thống tài chính - ngân hàng.
1.2.2. Mục đích của hoạt động bảo hiểm tiền gửi
Mặc dù mỗi quốc gia có thể thiết kế mô hình tổ chức BHTG khác
nhau nhưng hoạt động BHTG thường có những mục đích cơ bản như sau:
- Mục đích sử dụng công cụ BHTG là nhằm thực hiện chính sách
công, vì vậy chính sách BHTG của các quốc gia, đa số được thiết kế để bảo
vệ số đông người gửi tiền;
- Góp phần đảm bảo hệ thống tài chính - ngân hàng hoạt động lành mạnh,
ổn định và ngăn chặn đổ vỡ ngân hàng thông qua các hoạt động nghiệp vụ;
Ở các loại hình bảo hiểm thương mại khác, khi chủ thể tham gia bảo
hiểm thì sẽ xuất hiện mối quan hệ trực tiếp giữa một bên là đối tượng bảo
hiểm và một bên là đối tượng được bảo hiểm. Còn ở BHTG thì khác, mặc dù
người gửi tiền là người được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách BHTG nhưng
không xuất hiện mối quan hệ trực tiếp về BHTG giữa người gửi tiền và tổ
chức BHTG trừ trường hợp xảy ra đổ vỡ TCTD.
- Chủ thể tham gia BHTG
Theo xu hướng chung của các nước, bất cứ một TCTD hoặc không phải
là TCTD nhưng có hoạt động huy động tiền gửi của dân cư thì phải tham gia
BHTG bắt buộc. Trách nhiệm đóng phí bảo hiểm thuộc về tổ chức tham gia BHTG.
16
- Đối tượng được hưởng các quyền lợi bảo hiểm
Mặc dù người gửi tiền được hưởng các quyền lợi trực tiếp từ chính
sách BHTG nhưng họ không phải trực tiếp tham gia BHTG. Theo đó, trong
trường hợp tổ chức tham gia BHTG bị giải thể hoặc phá sản thì tổ chức
BHTG sẽ thay mặt Chính phủ đứng ra chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho
người gửi tiền theo quy định của pháp luật mỗi quốc gia. Số tiền vượt quá hạn
mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm sẽ được nhận trong quá trình thanh lý tổ
chức tham gia BHTG với thứ tự ưu tiên về vị trí chủ nợ theo quy định của
pháp luật về giải thể hoặc phá sản.
- Đối tượng tham gia BHTG
Các TCTD hoặc không phải là TCTD nhưng có hoạt động huy động
tiền gửi của tổ chức hoặc cá nhân là đối tượng tham gia BHTG. Như vậy, chủ
thể tham gia BHTG chỉ giới hạn là các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài
chính - ngân hàng có huy động tiền gửi. Đối tượng tham gia bảo hiểm của các
loại hình bảo hiểm thương mại là các tổ chức hoặc cá nhân.
- Cơ chế tham gia BHTG
Cơ chế tham gia BHTG thông thường là bắt buộc. Tất cả cả TCTD
hoặc không phải là TCTD được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng
BHTG và không công khai mức chi trả BHTG. Việc chi trả tiền gửi cho người
gửi tiền được thực hiện thông qua cam kết không công khai của Chính phủ
hay Ngân hàng Trung ương khi có TCTD giải thể hoặc phá sản. Đây là hình
thức sơ khai của BHTG ở mỗi nước và xu thế chung hiện nay là BHTG công
khai. BHTG công khai với quy định về cơ quan có trách nhiệm chi trả tiền
bảo hiểm, phí BHTG, mức chi trả… như là cam kết công khai của Chính phủ
với người gửi tiền trong việc đảm bảo quyền lợi của họ khi một TCTD bị đổ
vỡ. BHTG công khai tăng cường niềm tin công chúng vào hệ thống ngân hàng;
hạn chế chi phí xử lý đổ vỡ và xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chức năng
đối với người gửi tiền. Trên thế giới đã có các mô hình BHTG như sau: