Pháp luật về hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam - thực trạng và hướng hoàn thiện - Pdf 28


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN CỬU LAN PHƢƠNG

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG
CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM -
THỰC TRẠNG VÀ HƢỚNG HOÀN THIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Thu Thủy
HÀ NỘI - 2012 3
MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục

20
1.1.2.3.
Vai trò của bảo hiểm tiền gửi
21
1.2.
Mô hình bảo hiểm tiền gửi
29
1.2.1.
Về phương diện cơ chế bảo hiểm tiền gửi
29
1.2.2.
Về phương diện chức năng hoạt động
31
1.2.3.
Về phương thức quản lý hệ thống bảo hiểm tiền gửi
32
1.3.
Vị trí pháp lý, chức năng của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
35
1.3.1.
Vị trí pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
35
1.3.2.
Chức năng của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
38
1.4.
Khái quát về hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
40

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA

79
2.7.2.
Hoạt động thông tin truyền thông
82
2.7.3.
Hoạt động hợp tác quốc tế
83
2.8.
Mối quan hệ giữa Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam với một số
cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đến hoạt động bảo
hiểm tiền gửi
84
2.8.1.
Mố i quan hệ giữ a bảo hiểm tiề n gửi Việ t Nam vớ i Ngân
hàng Nhà nước
84
2.8.2.
Mố i quan hệ giữ a Bảo hiểm tiền gửi Việ t Nam vớ i Bộ Tà i chí nh
86

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM
TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM
89
3.1.
Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành
Luật Bảo hiểm tiền gửi
89
3.2.
Nâng cao địa vị pháp lý của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Chúng ta đều biết rằng, hoạt động chủ yếu và mang tính đặc thù của
các ngân hàng là huy động vốn từ người gửi tiền bằng những hình thức nhất
định và sau đó, ngân hàng sẽ sử dụng nguồn vốn huy động đó để "cho vay lại"
đối với những đối tượng có nhu cầu sử dụng vốn nên nếu có bất kỳ một rủi ro
nào xảy ra trong hoạt động của ngân hàng thì người gửi tiền sẽ là đối tượng bị
ảnh hưởng lớn nhất và trực tiếp nhất. Do đó, một cơ chế bảo hiểm tiền gửi
hiệu quả nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và bảo vệ sự an toàn cho
hoạt động của hệ thống ngân hàng trong các trường hợp rủi ro là vấn đề đã và
đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, trong đó có Việt Nam.
Ở Việt Nam, pháp luật về bảo hiểm tiền gửi, trong đó có quy định về
những hoạt động mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi được phép thực hiện, ngày

6
càng được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Văn bản pháp luật
đầu tiên đặt nền móng cho sự ra đời tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam là
Quyết định số 101/TCQĐ-BH của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành
Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của Quỹ tín dụng nhân dân đối với các khoản
tiền gửi có kỳ hạn. Tiếp theo đó là nhiều văn bản pháp luật quy định về tổ
chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam lần lượt được các cơ quan
có thẩm quyền ban hành như: Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999
của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi, Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày
09/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt
Nam, Nghị định 109/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 của Chính phủ về việc
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 89/1999/NĐ-CP, Thông tư số
03/2000/TT-NHNN5 ngày 16/3/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999
của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi, Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg ngày
28/6/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Điều lệ về tổ chức và
hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Thông tư số 03/2006/TT-NHNN
ngày 25/4/2006 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn một số nội

thạc sĩ Luật học "Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam" của tác giả
Nguyễn Thị Vân Hoài, bài báo nghiên cứu "Mô hình bảo hiểm tiền gửi hiện
nay và những vấn đề cần quan tâm khi xây dựng luật bảo hiểm tiền gửi" của
TS. Đinh Dũng Sỹ in trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp… Tuy nhiên , các
công trình trên đây chủ yế u nghiên cứu những vấn đề cơ bản , chung nhất về
bảo hiểm tiền gửi và pháp luật về bảo hiểm tiền gửi mà chưa đi sâu nghiên
cứu về cá c hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam . Do vậ y, tôi
nhậ n thấ y rằ ng cầ n thiế t phả i nghiên cứ u về cá c quy đị nh củ a phá p luậ t hiệ n
hành về các hoạt động chính của tổ chức bảo hiểm tiền gử i Việ t Nam , đá nh
giá thực trạng áp dụng và phân tích một c ách toà n diệ n , có hệ thống những
quy đị nh đó để đưa ra nhữ ng kiế n nghị gó p phầ n hoà n thiệ n phá p luậ t về hoạ t
độ ng củ a tổ chứ c bả o hiể m tiề n gử i ở Việ t Nam trong thờ i gian tớ i , từ đó gó p

8
phầ n nâng cao vị thế cũ ng như hiệ u quả hoạ t độ ng củ a tổ chứ c nà y đố i vớ i hệ
thố ng ngân hà ng nó i riêng và đố i vớ i nề n kinh tế nó i chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một cách có hệ thống một số vấn
đề lý luận cơ bản về bảo hiểm tiền gửi và đi sâu nghiên cứu về hoạt động của
tổ chức bảo hiểm tiền gửi, đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật
quy định về hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam để trên cơ sở
đó đưa ra một số phương hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động của tổ
chức này sao cho phù hợp với điều kiện phát triển và yêu cầu thực tiễn về hội
nhập kinh tế quốc tế của đất nước ta.
Để đạt được mục đích trên, luận văn hướng tới việc giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiểm tiền gửi như
quá trình hình thành , phát triển của bảo hiểm tiền gửi ; khái niệm, đặc điểm,
mục đích, vai trò của bảo hiểm tiền gửi… để từ đó có cơ sở nghiên cứu sâu
hơn về những hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam.

6. Những đóng góp mới của luận văn
Sau khi hoà n thà nh luậ n văn nà y, tôi mong muố n gó p p hầ n là m rõ hơn
mộ t số nội dung cơ bản về bảo hiểm tiền gửi, làm rõ một số hạn chế, bấ t cậ p
trong cá c quy đị nh hiệ n hà nh củ a phá p luậ t Việ t Nam về hoạ t độ ng củ a tổ
chứ c bả o hiể m tiề n gử i để từ đó đưa ra nhữ ng kiế n nghị nhằ m gó p phầ n hoà n
thiệ n phá p luậ t về hoạ t độ ng củ a tổ chứ c bả o hiể m tiề n gử i ở Việ t Nam trong
thờ i gian tớ i, cụ thể:
- Làm rõ bản chất của bảo hiểm tiền gửi và mô hình bảo hiểm tiền gửi.
- Phân tích đặc điểm, vị trí pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi.
- Nêu những đặc điểm pháp lý cơ bản trong hoạt động của tổ chức bảo
hiểm tiền gửi.

10
- Đánh giá thực trạng pháp luật về hoạt động của tổ chức bảo hiểm
tiền gửi, nêu ra một số hạn chế, bất cập trong các quy định này và kiến nghị
phương hướng hoàn thiện pháp luật quy định về hoạt động của tổ chức bảo
hiểm tiền gửi ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Mộ t số vấ n đề lý luậ n cơ bả n về bả o hiể m tiề n gử i và hoạ t
độ ng củ a tổ chứ c bả o hiể m tiề n gử i .
Chương 2: Thự c trạ ng phá p luậ t về hoạ t độ ng củ a tổ chứ c bả o hiể m
tiề n gử i ở Việ t Nam.
Chương 3: Mộ t số kiế n nghị nhằ m hoà n thiệ n phá p luậ t về hoạ t độ ng
của tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam . 11
Chương 1

Nguồn vốn huy động này sẽ được các tổ chức tín dụng cho các chủ thể khác
trong nền kinh tế vay nhằm mục đích sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và đời
sống. Như vậy, các tổ chức tín dụng đã trở thành trung gian tài chính giữa
người gửi tiền - người cho vay và người đi vay. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp
lý thì người cho vay và người đi vay không có mối liên hệ pháp lý nào, họ chỉ
biết đến hợp đồng được ký kết giữa mình với tổ chức tín dụng và tổ chức tín
dụng là chủ thể trung chuyển nguồn vốn giữa người thừa vốn và người thiếu
vốn. Điều này có nghĩa là tổ chức tín dụng có toàn quyền sử dụng đồng vốn
mà họ huy động được, chủ động quyết định việc cho chủ thể nào vay và phải
chịu trách nhiệm thanh toán tiền gửi cho người gửi tiền khi đáo hạn hoặc khi
người gửi tiền có nhu cầu.
Như vậy, có thể thấy rằng thuật ngữ "tiền gửi" đã được sử dụng từ rất
lâu và gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của hoạt động ngân hàng.
Ở giai đoạn bắt đầu xuất hiện hoạt động ngân hàng thì thuật ngữ tiền gửi chỉ
được hiểu một cách đơn giản là các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng nhưng
họ không muốn hoặc không biết đầu tư vào đâu nên đem gửi vào ngân hàng
với mục đích tiết kiệm và bảo đảm an toàn cho tài sản của mình. Sau này,
cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, hoạt động ngân hàng cũng
ngày càng phát triển và kéo theo đó là sự hình thành hàng loạt hoạt động
nghiệp vụ ngân hàng khác như cho vay, thanh toán… thì các khoản tiền gửi
của dân chúng tại ngân hàng không đơn thuần chỉ nhằm mục đích bảo quản
tài sản nữa mà đã được hưởng lãi.
Ngày nay, khi nhu cầu về vốn trong nền kinh tế là rất lớn thì yêu cầu
huy động vốn nhàn rỗi từ dân chúng của các ngân hàng cũng ngày càng tăng
và để khuyến khích việc gửi tiền vào ngân hàng thì các ngân hàng ngày càng

13
phải nâng cao chất lượng dịch vụ, đưa ra các mức lãi suất huy động phù
hợp… Do đó, thuật ngữ tiền gửi cũng được hiểu rộng hơn và được quy định
cụ thể trong các văn bản pháp luật về tài chính ngân hàng của mỗi quốc gia.

và được chứng nhận bởi ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm, hoặc
thư tín dụng hoặc séc du lịch mà ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm
có nghĩa vụ đầu tiên [4].
Tại Việt Nam, khái niệm tiền gửi cũng đã được quy định trong các
văn bản pháp luật. Theo quy định tại khoản 20, Điều 9 Luật Các tổ chức tín
dụng năm 1997 thì "Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín
dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết
kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và
phải được hoàn trả cho người gửi tiền" [35]. Theo định nghĩa này có thể biết
được những khoản tiền nào của khách hàng được coi là tiền gửi, nhưng những
khoản tiền đó phải được gửi tại các tổ chức tín dụng, còn những khoản tiền
gửi tại các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng thì không được coi là tiền
gửi. Đây chính là một điểm bất cập của pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
Chính vì vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng
năm 2004 đã có sự thay đổi lớn về phạm vi và chủ thể gửi tiền khi xác định:
"Tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức
khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có
kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc
không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền" [37, khoản 3 Điều 1].
Tuy nhiên, hiện nay, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 lại không đưa ra
khái niệm tiền gửi nữa mà thay vào đó là khái niệm "nhận tiền gửi" với ý
nghĩa là một trong những nghiệp vụ của hoạt động ngân hàng, theo đó:
"Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền
gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền
gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn
trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận" [44, khoản 13 Điều 4].

15
Theo định nghĩa này, phạm vi và nguyên tắc hoàn trả tiền gửi đã được mở
rộng hơn so với các định nghĩa nêu trên và phù hợp hơn với điều kiện phát

Bảo hiểm tiền gửi là thuật ngữ đã xuất hiện từ khá lâu nhưng cho đến
nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về nó. Hiện nay, pháp luật các
nước thường không đưa ra khái niệm về bảo hiểm tiền gửi nói chung mà chỉ
xác định mục tiêu, mô hình hoạt động, liệt kê các hoạt động của tổ chức bảo
hiểm tiền gửi. Theo tài liệu chuyên khảo Bảo hiểm tiền gửi và quản lý khủng
hoảng do Quỹ Tiền tệ Quốc tế phát hành năm 1996 của tác giả Carl Johan
Lindgren và Gilian Garcia thì bảo hiểm tiền gửi được hiểu là "một cơ chế có
giới hạn nhưng chính thức cung cấp sự bảo đảm mang tính pháp lý cho các
khoản gốc (và thường cả lãi) của các khoản tiền gửi" [11], hay theo tài liệu
về Cơ cấu của những hệ thống bảo hiểm tiền gửi ở Châu Á của tác giả Choi J.
B. phát hành năm 2000 thì "Bảo hiểm tiền gửi là chính sách bảo đảm tất cả
hoặc một phần tiền gửi cùng lãi nhập gốc trên tài khoản tiền gửi sẽ được
thanh toán cho người gửi tiền khi ngân hàng nhận tiền gửi bị phá sản hay mất
khả năng thanh toán" [12], hay theo Luật bảo hiểm tiền gửi Canada năm 2010
thì bảo hiểm tiền gửi được hiểu ngắn gọn là "bảo hiểm cho những tổn thất
một phần hoặc toàn bộ tiền gửi" [5].
Hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam đã được hình thành và đi vào
hoạt động hơn 10 năm, chúng ta cũng đã có những văn bản pháp luật để điều
chỉnh hoạt động này và thực tế cho thấy Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã thể
hiện được phần nào vai trò của mình trong việc bảo vệ người gửi tiền cũng
như tạo được sự ổn định cho hoạt động ngân hàng, nhưng trước khi Luật bảo
hiểm tiền gửi năm 2012 được ban hành thì trong tất cả những văn bản pháp
luật đó lại chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về bảo hiểm tiền gửi, trong khi
đó một định nghĩa cụ thể, rõ ràng về bảo hiểm tiền gửi là hết sức cần thiết đối
với công chúng gửi tiền bởi nó tạo sự ổn định trong việc thanh toán bảo hiểm
và tạo điều kiện cho việc xử lý các tranh chấp phát sinh liên quan đến tiền
gửi. Với sự ra đời của Luật bảo hiểm tiền gửi, Việt Nam đã có thêm một bước
tiến quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động bảo hiểm

17

cảnh bảo sớm về những "trục trặc" trong hoạt động liên quan đến khả năng tài
chính của các tổ chức nhận tiền gửi, thông qua đó giảm thiểu rủi ro cho hệ
thống ngân hàng. Nhờ có chức năng giám sát an toàn hệ thống mà hoạt động
bảo hiểm tiền gửi công khai thông qua tổ chức tài chính nhà nước có những
ưu điểm nhất định so với bảo hiểm của các quỹ bảo hiểm tiền gửi. Các quỹ
này chỉ thực hiện chức năng chi trả tiền mặt cho người gửi tiền sau khi tổ
chức nhận tiền gửi bị phá sản. Trong khi đó, bảo hiểm của tổ chức tài chính
nhà nước không chỉ thực hiện chức năng đó mà còn nhằm ngăn chặn sự gia
tăng các khoản nợ xấu, nợ khó đòi, hạn chế những rủi ro tiềm ẩn dẫn đến sự
đổ vỡ của các ngân hàng thông qua hoạt động giám sát, hoạt động hỗ trợ tài
chính dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh, mua lại nợ… cho các ngân hàng
trước khi lâm vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng hệ
thống bảo hiểm tiền gửi dù được thiết lập theo mô hình nào đi chăng nữa đều
cần một hệ thống quy phạm pháp luật minh bạch, trên cơ sở đó mới đảm bảo
thực hiện được mục đích của bảo hiểm tiền gửi.
- Bảo hiểm tiền gửi có thể được thực hiện trong phạm vi hạn chế (tức
là các khoản tiền gửi được bảo hiểm đến một giới hạn nhất định; hiện được áp
dụng ở các quốc gia như Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mêhicô, Việt Nam…)
hoặc được bảo hiểm hoàn toàn (tức là mọi người gửi tiền và tất cả các khoản
tiền gửi đều được bảo hiểm; hiện được áp dụng ở các quốc gia như Hồng Kông,
Áo, Đan Mạch, Braxin…). Điều này phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã
hội của từng nước, trong từng giai đoạn khác nhau. Ví dụ, vào thời kỳ nền kinh
tế ổn định, thị trường tài chính phát triển, các quốc gia thường áp dụng cơ chế
bảo hiểm có giới hạn các khoản tiền gửi nhằm củng cố lòng tin của công chúng
vào hệ thống tài chính, duy trì sự ổn định hoạt động của hệ thống này. Khi
nền kinh tế bị khủng hoảng, các nước thường áp dụng cơ chế bảo hiểm hoàn
toàn nhằm ngăn chặn một cách hữu hiệu hiện tượng rút tiền hàng loạt, bởi lẽ
người gửi tiền trong trường hợp này hoàn toàn tin tưởng rằng bảo hiểm tiền
gửi sẽ bảo vệ quyền lợi của họ một cách triệt để khi ngân hàng nào đó bị đổ vỡ.



20
tổ chức bảo hiểm tiền gửi không có đủ số ngoại tệ để thanh toán cho người
gửi tiền khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Theo nghiên cứu của Kunt D. A. và
Sobaci T. được công bố trong tài liệu Deposit Insurance around the world: A
date base của Ngân hàng Thế giới vào năm 2000 cho thấy trong 68 hệ thống
bảo hiểm tiền gửi trên thế giới thì có 20 hệ thống không bảo hiểm tiền gửi là
ngoại tệ. Tiền gửi liên ngân hàng thường cũng không được bảo hiểm vì đây là
tiền gửi của các tổ chức kinh doanh trực tiếp tiền tệ, có cơ hội tiếp cận tốt các
thông tin và kiểm soát được mức độ rủi ro đối với các khoản tiền của họ.
Theo nghiên cứu của Garcia G. G. H. được công bố trong tài liệu Deposit
Insurance: Actual and Good Practices của Quỹ tiền tệ Quốc tế vào năm 2000
thì trong 72 hệ thống bảo hiểm tiền gửi được nghiên cứu có 45 nước loại trừ
tiền gửi liên ngân hàng. Trong khi đó, mục tiêu của chính sách bảo hiểm tiền
gửi là bảo vệ người gửi tiền nhỏ, lẻ, có thu nhập thấp và bị hạn chế bởi khả
năng tiếp cận thông tin ngân hàng. Ngoài ra, tiền của các tổ chức kinh tế,
chính trị, xã hội cũng thường bị loại trừ, không được bảo hiểm bởi lẽ tiền gửi
trong tài khoản của các chủ thể này không thuần túy nhằm mục tiêu tích lũy,
tiết kiệm mà thường để thực hiện các giao dịch thanh toán liên quan đến hoạt
động của tổ chức. Vì vậy, các tổ chức này có cơ hội nắm bắt các thông tin về
ngân hàng mà họ quyết định gửi tiền, không nhất thiết phải thuộc đối tượng
được bảo vệ trực tiếp của chính sách bảo hiểm tiền gửi.
Trên cơ sở những đặc điểm nêu trên của bảo hiểm tiền gửi, chúng ta
có thể thấy rằng bảo hiểm tiền gửi và các loại hình bảo hiểm khác bên cạnh một
số điể m giố ng nhau cơ bả n như hoạ t độ ng dự a trên nguyên tắ c lấ y số đông bù số
ít; phải mua bảo hiểm (nộp phí) trước kỳ bảo hiểm ; chỉ được áp dụng khi có
rủi ro xảy ra trong tương lai… thì còn có nh iều điể m khá c biệ t, cụ thể là:
Thứ nhấ t , về tí nh chấ t hoạ t độ ng . Mặ c dù đề u hoạ t độ ng dự a trên
nguyên tắ c lấ y số đông bù số ít như ng ở bảo hiểm tiền gửi lại mang tính chất
đặ c thù ở chỗ nó là công cụ thự c hiệ n chính sá ch công vớ i vai trò cơ bả n là

đị nh củ a phá p luậ t mỗ i quố c gia . Đối với số tiền vượt quá hạn mức chi trả tiền
gử i đượ c bả o hiể m , ngườ i gử i tiề n sẽ đượ c nhậ n trong quá trì nh thanh lý tổ

22
chứ c tham gia bảo hiểm tiền gửi vớ i thứ tự ưu tiên về vị trí chủ nợ theo quy
đị nh phá p luậ t về giả i thể hoặ c phá sả n củ a mỗ i quố c gia .
Không chỉ ngườ i gử i tiề n đượ c hưở ng cá c quyề n lợ i từ chính sá ch bảo
hiểm tiền gửi mà chính tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi cũng được hưởng
lợ i giá n tiế p từ việ c tham gia bảo hiểm tiền gửi. Điề u nà y thể hiệ n ở chỗ : tổ
chứ c tham gia bảo hiểm tiền gửi sẽ dễ dàng huy động được vốn từ dân cư để
duy trì và phát triển hoạt động của mình bởi người dân khi gửi tiền vào một tổ
chức tín dụng có tham gia bảo hiểm tiền gửi sẽ yên tâm hơn khi biết tổ chức
tín dụng đó đượ c giá m sá t bở i mộ t cơ quan nhà nướ c và cơ quan đó sẽ bả o
hiể m cho khoả n tiề n gử i củ a họ trong trườ ng hợ p tổ chức tín dụng tham gia
bảo hiểm tiền gửi bị giải thể hoặc phá sản .
Thứ năm, về đố i tượ ng tham gia bảo hiểm tiền gửi. Đối tượng tham
gia bảo hiểm tiền gửi chỉ là các tổ chức tín dụng hoặ c không phả i là tổ chức
tín dụng nhưng có hoạ t độ ng huy độ ng tiề n gử i , còn đối tượng tham gia các
loại hình bảo hiểm thương mại khác là các tổ chức hoặc cá nhân .
Thứ sá u, về cơ chế tham gia bả o hiể m . Cơ chế tham gia bảo hiểm tiền
gửi là bắt buộc . Các tổ chức tín dụng hoặ c không phả i là tổ chức tín dụng
nhưng đượ c phé p thự c hiệ n mộ t số hoạ t độ ng ngân hà ng theo quy đị nh củ a
pháp luật , trong đó có hoạ t độ ng nhậ n tiề n gử i , phải tham gia bảo hiểm tiền
gửi bắ t buộ c, còn đối với các loại hình bảo hiểm khác thì việc tham gia hay
không do cá c bên tự nguyệ n hoặ c thả o thuậ n .
Thứ bả y, về hì nh thứ c phá p lý tham gia bả o hiể m . Tham gia bảo hiểm
tiền gửi là sự tham gia bắt buộc đối v ới các tổ chức tín dụng hoặ c không phả i
tổ chức tín dụng nhưng đượ c phé p thự c hiệ n mộ t số hoạ t độ ng ngân hà ng do
đó không xuấ t hiệ n hợ p đồ ng bả o hiể m giữ a tổ chứ c bảo hiểm tiền gửi và tổ
chứ c tham gia bảo hiểm tiền gửi. Còn ở cá c loạ i hì nh bả o hiể m thương mạ i

- Hoạt động bảo hiểm tiền gửi là hoạt động cung cấp dịch vụ công , tứ c
là bảo hiểm tiền gửi là công cụ được sử dụng để thực hiện chính sách công
của từng quốc gia . Dịch vụ bảo hiểm tiền gửi là loại hàng hóa mang tính xã

24
hội cao. Theo cách phân loại của các nhà kinh tế học, dịch vụ bảo hiểm tiền
gửi thuộc loại hàng hóa công không thuần túy . Cơ sở để gọi nó là hàng hóa
công không thuần túy, căn cứ vào tính không loại trừ thụ hưởng một cách
tuyệt đối của dịch vụ này. Xuất phát từ một trong các mục đích của hoạt động
bảo hiểm tiền gửi là góp phần đảm bảo tính ổn định của hệ thống tài chính quốc
gia, người thụ hưởng dịch vụ bảo hiểm tiền gửi là toàn xã hội. Người gửi tiền có
tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm sẽ được lợi trực tiếp từ chính sách bảo
hiểm tiền gửi qua việc họ được tổ chức bảo hiểm tiền gửi chi trả tiền bảo hiểm
khi ngân hàng nhận tiền gửi của họ bị đóng cửa, mất khả năng thanh toán.
Người đi vay sẽ được hưởng lợi từ dịch vụ bảo hiểm tiền gửi ở chỗ tính ổn định
của hệ thống tài chính giúp cho họ sử dụng tiền vay được an toàn và thuận tiện
hơn. Có được hệ thống tài chính ổn định sẽ giúp cho các ngành kinh tế khác phát
triển thuận lợi. Như vậy, việc loại trừ tuyệt đối một cá nhân, hoặc một tổ chức
trong xã hội ra khỏi sự thụ hưởng lợi ích của dịch vụ bảo hiểm tiền gửi là rất
khó khăn. Chính vì đặc tính không loại trừ thụ hưởng tuyệt đối mà dịch vụ
bảo hiểm tiền gửi được xếp vào loại hàng hóa công không thuần túy.
- Hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi thông thườ ng không vì mụ c
tiêu lợ i nhuậ n . Chính phủ các quốc gia thành lậ p tổ chức bảo hiểm tiền gửi
nhằ m mụ c đí ch thự c hiệ n chính sá ch công bở i trên thự c tế , hoạt động tài chính
- ngân hà ng là hoạ t độ ng nhạ y cả m , gắ n vớ i tí nh lan truyề n rấ t cao ; nế u xả y ra
trườ ng hợ p đổ vỡ hệ thố ng tà i chí nh - ngân hà ng sẽ ả nh hưở ng rấ t lớ n đế n
toàn bộ nền kinh tế và gây ra những bất ổn về mặt xã hội . Do đó , Chính phủ
các quốc gia đã sử dụng công cụ tài chính là bảo hiểm tiền gửi nhằ m gó p phầ n
đả m bả o sự phá t triể n an toà n, lành mạnh của hệ thống tài chính - ngân hà ng
nói riêng cũng như sự ổn định của toàn xã hội nói chung .

đối với người gửi tiền, đối với hệ thống tài chính - ngân hàng, đối với nền
kinh tế và toàn xã hội. Bảo hiểm tiền gửi là sản phẩm của nền kinh tế thị
trườ ng và chỉ xuấ t hiệ n trong nề n kinh tế thị trườ ng nên vai trò củ a bảo hiểm
tiền gửi xuấ t phá t từ bả n chấ t củ a hoạ t độ ng tà i chí nh luôn gắ n liề n vớ i yế u tố

Trích đoạn Về phƣơng diện cơ chế bảo hiểm tiền gử Về phƣơng thức quản lý hệ thống bảo hiểm tiền gử VỊ TRÍ PHÁP LÝ, CHỨC NĂNG CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1 Vị trí pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gử KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CỤ THỂ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status