Đánh giá thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất tại làng nghề chế biến nông sản vùng đồng bằng sông hồng - Pdf 25



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRẦN VĂN THỂ
ĐÁNH GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ DO CHẤT THẢI PHÁT SINH
TỪ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT TẠI LÀNG NGHỀ CHẾ BIẾN NÔNG SẢN
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 62 62 01 15
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÀ NỘI, 2015
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo Tổng cục Thống kê (2011), cả nước có 3.353 làng nghề, trong đó có
805 làng nghề chế biến nông sản (CBNS), chiếm 24% tổng số làng nghề của cả
nước. Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là vùng có sự tập trung cao về hoạt động
làng nghề với 1.669 làng nghề, chiếm 54,4% tổng số làng nghề của cả nước, trong
đó, Hà Nội, Bắc Ninh, Ninh Bình và Nam Định là 4 tỉnh có số lượng làng nghề lớn
với 1.075 làng nghề, chiếm 67,6% tổng số làng nghề của cả vùng ĐBSH (Chính
phủ, 2011).
Hoạt động làng nghề có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn,
tạo công ăn việc làm cho trên 11 triệu lao động, góp phần tích cực vào công cuộc
phát triển nông thôn. Tuy nhiên, ngoài giá trị kinh tế, hoạt động sản xuất làng nghề
nói chung đang làm nảy sinh nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường ở cả khu vực làng
nghề và phụ cận làng nghề (46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng và 27%
số làng nghề có môi trường ô nhiễm vừa). Các chỉ tiêu chất lượng môi trường vượt
quy chuẩn cho phép và đang ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng và gây
thiệt hại kinh tế cho nông dân (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008).
Cho tới nay, có rất ít các công trình nghiên cứu đánh giá chuyên sâu về thiệt
hại kinh tế do chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất ở làng nghề. Nghiên cứu
đánh giá thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuát làng nghề
nói chung và làng nghề chế biến nông sản nói riêng có vai trò quan trọng về lý
luận và thực tiễn ở nước ta.
Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra cần được giải quyết trong đề tài này là: (i)
Các chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất nghề ở làng nghề CBNS có ảnh
hưởng như thế nào đến môi trường, các hoạt động sản xuất khác và sinh hoạt của
dân cư tại làng nghề và khu vực phụ cận làng nghề CBNS? (ii) Những vấn đề lý

- Về không gian: các nội dung nghiên cứu của đề tài được triển khai nghiên
cứu tại một số làng nghề ở Bắc Ninh, Hà Nội, Nam Định và Ninh Bình.
- Về thời gian: các số liệu thứ cấp được thu thập từ 2008-2011, các số sơ cấp
thu thập trong giai đoạn 2009-2011.
4. Những đóng góp mới của luận án
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về đánh giá thiệt hại kinh tế do chất thải
phát sinh từ hoạt động sản xuất làng nghề, đánh giá các ưu điểm, nhược điểm và phân
tích khả năng vận dụng các phương pháp trong đánh giá thiệt hại kinh tế ở các làng
nghề CBNS vùng ĐBSH.
- Đánh giá thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất nghề ở
các làng nghề CBNS tại vùng ĐBSH.
- Đề xuất các giải pháp quản lý môi trường, giảm thiểu thiệt hại kinh tế ở
các làng nghề CBNS trong thời gian tới tại vùng ĐBSH. 3
5. Cấu trúc của luận án
Luận án này được cấu trúc thành các phần mở đầu, kết luận và 4 chương để
đáp ứng được mục tiêu đề ra. Phần mở đầu nêu rõ tính cấp thiết, xác định các vấn đề
đặt ra trong nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu.
Chương 1 là tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá thiệt hại kinh tế và đưa
ra các khái niệm liên quan. Chương 2 giới thiệu về đặc điểm địa bàn nghiên cứu,
phương pháp đánh giá, phân tích và tính toán thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh
từ làng nghề CBNS. Chương 3 là nội dung chính của luận án, đề cập đến hiện trạng
thiệt hại kinh tế, hiện trạng và những bất cập trong quản lý môi trường làng nghề CBNS.
Chương 4 đề cập đến các quan điểm, định hướng và đề xuất các giải pháp phù hợp
giảm thiểu thiệt hại kinh tế. Phần kết luận về các kết quả nghiên cứu và kiến nghị đối
với các cơ quan có liên quan trong quản lý làng nghề CBNS. Ngoài ra còn có phần tài
liệu tham khảo với 45 tài liệu Tiếng Việt và 44 tài liệu Tiếng Anh.


1.2.3. Các phương pháp phổ biến trong đánh giá thiệt hại kinh tế
Kết quả tổng quan các nhóm phương pháp đánh giá thiệt hại kinh tế cho thấy
chủ yếu tập trung vào các nhóm phương pháp thông dụng (dựa trên định giá thị
trường và thực tế giá trị tổn thất); nhóm phương pháp lựa chọn (dựa trên thị trường
thay thế và các tổn thất bất thường) và nhóm phương pháp có tiềm năng ứng dụng
(dựa vào mô hình kinh tế, mô hình toán và các tác động ngoại vi trong tương lai).
Trên cơ sở đặc thù của làng nghề, phân tích ưu điểm và nhược điểm, kết quả đánh giá
thiệt hại kinh tế của luận án chủ yếu dựa vào nhóm phương pháp thông dụng xác định
theo khả năng định giá thị trường. Các loại thiệt hại kinh tế không phù hợp với khả
năng định giá thị trường không được vận dụng trong nghiên cứu này.
1.3. Thực tiễn vận dụng phương pháp đánh giá thiệt hại kinh tế và bài học kinh
nghiệm
Kết quả tổng quan, phân tích ưu điểm, hạn chế từ thực tiễn vận dụng các
phương pháp đánh giá thiệt hại kinh tế trong và ngoài nước cho thấy bài học kinh
nghiệm rút ra để xây dựng các phương pháp đánh giá cho làng nghề CBNS là: (i) hoạt
động sản xuất làng nghề mặc dù có đặc thù riêng nhưng phát sinh lớn chất thải, gây ô
nhiễm môi trường và làm thiệt hại kinh tế cho nông dân; (ii) cơ sở khoa học để xác
định thiệt hại kinh tế dựa trên mục tiêu đảm bảo cân bằng phúc lợi xã hội để lợi ích
kinh tế của cá nhân không làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng; (iii) có
nhiều quan điểm và phương pháp lượng hóa thiệt hại kinh tế nhưng tùy điều kiện cụ
thể về đặc điểm sản xuất, khả năng sẵn có về số liệu để từng bước lựa chọn các
phương pháp đánh giá phù hợp và (iv) các giải pháp giảm thiểu thiệt hại kinh tế xuất
phát từ giải quyết tận gốc nguyên nhân thay vì các hoạt động quản lý giảm thiểu
thành phần thiệt hại kinh tế.
1.4. Lựa chọn phương pháp đánh giá thiệt hại kinh tế phù hợp với làng nghề
Từ cơ sở khoa học, quan điểm đánh giá, ưu điểm, nhược điểm của từng
phương pháp và bài học kinh nghiệm rút ra, các loại thiệt hại kinh tế được lựa chọn 5

4 mẫu nước thải và 4 mẫu nước mặt ở mỗi điểm nghiên cứu theo TCVN 5297-1995
và TCVN 5996-1995. Các mẫu được phân tích tại Phòng Phân tích Trung tâm của
Viện Môi trường Nông nghiệp với 10 chỉ tiêu gồm pH, Asen (As), Thủy ngân (Hg), Chì
(Pb), Cađimi (Cd), Đồng (Cu), Kẽm (Zn), Nitơ (N), Phốt-pho (P), Kali (K), BOD
5
, COD,
tổng chất rắn lơ lửng (TSS), ni-tơ-rat (NO
3
-
) và coliform. 6

Sơ đồ 2.1. Khung đánh giá thiệt hại kinh tế và đề xuất các giải pháp quản lý làng nghề
chế biến nông sản vùng đồng bằng sông Hồng
Áp lực và tác động kinh
tế môi trường
Tích tụ gây ô nhiễm môi
trường làm thay đổi thực
tế sản xuất
Phát sinh chất thải
Các biện pháp quản lý
làng nghề
Tích tụ ô nhiễm môi
trường làm thay đổi điều
kiện sản xuất
Hộ ở làng
nghề
Hộ sản xuất làng

ngăn ngừa, giảm nhẹ
tác động của ONMT
Thiệt
hại
kinh tế
do chất
thải
phát
sinh từ
hoạt
động
sản
xuất
nghề ở
làng
nghề
CBNS
Phù hợp
với khả
năng về
định giá
- Rà soát văn bản, đánh giá
giải pháp quản lý vi mô, vĩ

Phù hợp
với khả
năng về
định giá
(3) Thiệt hại kinh tế suy
giảm sức khỏe cộng

trường, thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh từ hoạt động làng nghề CBNS được
tính toán theo công thức:
cbytxp
CCCCCTC 
ln
[1]
Trong đó:
Làng nghề
Làng bị tác động
(6)
Làng thuân nông
(4)
Vĩnh Phúc
Hà Nội
Bắc Ninh
Hải Dương
Hải Phòng
Hưng Yên
Thái Bình
Hà Nam
Nam Định
Ninh Bình 8
C
p
là thiệt hại kinh tế về suy giảm sản lượng sản xuất nông nghiệp bao gồm
thiệt hại do mất diện tích và giảm năng suất cây trồng, thủy sản do ảnh hưởng bởi
phát sinh chất thải ở làng nghề CBNS;

chất gây ô nhiễm có trong nước thải bị ô nhiễm nặng và vượt quy chuẩn Việt Nam
(QCVN 40:2011cột B) như BOD
5
; TSS ở hầu hết các làng nghề CBNS đều vượt từ
1,59-7,22 lần; coliform vượt 4,4-22 lần.
- Đối với chất lượng nước mặt: Kết quả lấy mẫu, phân tích chất lượng nước mặt
tại Phòng Thí nghiệm Viện Môi trường Nông nghiệp cho thấy có sự tích tụ lớn ô nhiễm
trong nước mặt tại các làng nghề do hầu hết các chỉ tiêu độc chất trong nước mặt ở các
làng nghề đều vượt ngưỡng cho phép (QCVN08:2008, cột B). Các làng nghề có quy mô
số hộ tham gia chế biến nông sản lớn đã có sự gia tăng tích tụ độc chất BOD
5
,TSS, NO
3
-
,
coliform trong nước mặt và vượt QCVN08:2008 cột B từ 2,3 đến 12,13 lần. 9
0,00
20,00
40,00
60,00
80,00
100,00
120,00
140,00
160,00
Làng
nghề

Minh
Hòa
Làng bị
tác động
Minh
Hiệp
Làng
nghề
miền
rong
Kim
Phượng
Làng bị
tác động
Chiền B
Làng
nghề
bún ướt
Thượng
Làng bị
tác động
Mai
Hoa
Tam Giang
Tam Đa
Cát Quế
Minh Khai
Nam Dương
Yên Minh
COD5 (mg/l)

Làng bị
tác động
Phấn
Động
Làng
nghề
CBTBS
Quế
Dương
Làng bị
tác động
Tam Hợp
Làng
nghề bún
khô XK
Minh
Hòa
Làng bị
tác động
Minh
Hiệp
Làng
nghề
miền
rong Kim
Phượng
Làng bị
tác động
Chiền B
Làng

hoạt động sản xuất ở các làng nghề CBNS
TT
Chỉ tiêu
Bắc Ninh
Hà Nội
Nam Định
Ninh Bình
Bánh đa
thôn
Đoài
Nấu
rượu
Đại
Lâm
Chế
biến
TBS
Quế
Dương
Bún
khô
Minh
Hòa
Miến
dong
Kim
Phượng
Bún ướt
thôn
Thượng

810,0
540,0
1.020,0
900,0
675,0
753,6
3
Thiệt hại kinh tế do thay đổi sản lượng (triệu đồng/làng nghề/năm)

- Các hộ làm nghề
306,96
301,0
694.0
369,0
333,0
363,6

- Cộng đồng xã hội
569,70
406,2
700.0
828,0
599,4
495,6

Cộng (1)
876,6
707,2
1.394,0
1.197,0

Bảng 3.2. Thiệt hại kinh tế do thay thế, sửa chữa cơ sở hạ tầng và xử lý chất thải từ
các làng nghề CBNS
TT
Chỉ tiêu
Bắc Ninh
Hà Nội
Nam Định
Ninh Bình
Bánh
đa
thôn
Đoài
Nấu
rượu
Đại
Lâm
Chế biến
TBS Quế
Dương
Bún
khô
thôn
Minh
Hòa
Miến
dong
Kim
Phượng
Bún ướt
thôn

56,7

Thiệt hại kinh tế sửa chữa và bảo vệ môi trường (triệu đồng/làng nghề/năm)

- Các hộ làm nghề
-
-
-
-
-
-

- Cộng đồng xã hội
44,8
33.2
130,0
84,2
119,1
106,4

Cộng (2)
44,8
33.2
130,0
84,2
119,1
106,4
Ghi chú: TSB = Tinh bột sắn
3.2.3. Thiệt hại kinh tế do suy giảm sức khỏe cộng đồng ở các làng nghề CBNS
Kết quả tính toán cho thấy làng nghề chế biến tinh bột sắn Quế Dương gây

dong Kim
Phượng
Bún ướt
Thượng
1
Tổng số hộ (hộ)

- Số hộ làm nghề
376,0
514,0
795,0
635,0
677,0
270,0

- Số hộ bị tác động
775,0
829,0
819,0
659,0
1.050,0
971,0
2
Thiệt hại kinh tế do suy giảm sức khỏe bình quân hộ nông dân (triệu đồng/hộ/năm)

- Hộ làm nghề
1,34
2,81
2,73
2,90

1.088,8
2.418,3
2.989,0
2.238,3
2.711,3
2.518,2
Ghi chú: TSB = Tinh bột sắn
3.2.4. Thiệt hại kinh tế do ngăn ngừa, giảm nhẹ tác động của ô nhiễm môi trường
ở làng nghề CBNS
Kết quả tính toán cho thấy thiệt hại kinh tế do ngăn ngừa giảm nhẹ tác động ô
nhiễm môi trường tại làng nghề bánh đa thôn Đoài là 914 triệu đồng/năm; làng nghề
nấu rượu Đại Lâm là 405 triệu đồng/năm; làng nghề tinh bột sắn Quế Dương là 835,6
triệu đồng/năm; làng nghề bún khô Minh Hòa là 638,3 triệu đồng/năm.
Bảng 3.4. Thiệt hại kinh tế về ngăn ngừa, giảm nhẹ ô nhiễm môi trường do chất thải phát
sinh từ các làng nghề CBNS
TT
Chỉ tiêu
Bắc Ninh
Hà Nội
Nam
Định
Ninh
Bình
Bánh
đa
thôn
Đoài
Nấu
rượu
Đại

0,98
0,44
0,38

- Hộ thuần nông
1,01
1,01
0,22
0,23
0,30
0,31
2
Bình quân thiệt hại kinh tế về ngăn ngừa, giảm nhẹ (triệu đồng/hộ/năm)

- Hộ làm nghề
0,81
0,18
0,68
0,62
0,13
0,08

- Hộ bị tác động
0,79
0,38
0,36
0,75
0,14
0,77


hạn chế nhất định do hành vi ứng phó còn phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất môi
trường và nhận thức, kinh tế và văn hóa cộng đồng vùng nông thôn.
3.2.5. Thiệt hại kinh tế do chuyển đổi mục đích sử dụng tài nguyên để giải quyết
chất thải phát sinh ở các làng nghề CBNS
Kết quả tính toán cho thấy thiệt hại kinh tế do chuyển đổi mục đích sử dụng tài
nguyên chỉ khoảng 1,51 đến 2,23 triệu đồng/làng nghề/năm, tương đối thấp và chưa
phản ánh đầy đủ thiệt hại do thiếu cơ sở định giá thị trường. Kết quả điều tra ở các làng
nghề CBNS cũng cho thấy ở hầu hết các làng nghề chưa có các quy định về quy hoạch,
quy định bãi chứa chất thải rắn và nước thải nên giá trị thiệt hại kinh tế do chuyển đổi
mục đích sử dụng tài nguyên để giải quyết vấn đề chất thải còn thấp so với thực tế tác
động của ô nhiễm môi trường. Vì vậy, cần tiến hành nghiên cứu đánh giá bổ sung các
thiệt hại xã hội, văn hóa và giá trị cơ hội mà chưa phù hợp với khả năng định giá về
việc chuyển đổi mục đích sử dụng tài nguyên để hoàn thiện hơn về cơ sở khoa học
đánh giá thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh ở làng nghề CBNS.
Bảng 3.5. Thiệt hại kinh tế do chuyển đổi mục đích sử dụng tài nguyên để giải
quyết vấn đề chất thải ở làng nghề CBNS
TT
Chỉ tiêu
Bắc Ninh
Hà Nội
Nam Định
Ninh Bình
Bánh đa
thôn
Đoài
Nấu
rượu Đại
Lâm
Chế biến
TBS

Thiệt hại kinh tế do chuyển đổi mục đích sử dụng tài nguyên (triệu đồng/làng nghề/năm)

- Hộ làm nghề
-
-
-
-
-
-

- Cộng đồng xã hội
1,51
1,82
2,42
2,12
2,46
2,23

Cộng (5)
1,51
1,82
2,42
2,12
2,46
2,23
Ghi chú: TSB = Tinh bột sắn
3.2.6 Tổng thiệt hại kinh tế do phát sinh chất thải từ hoạt động sản xuất nghề ở
làng nghề CBNS
- Về tổng thiệt hại kinh tế: Ngoài những thiệt hại về xã hội, chi phí cơ hội chưa
thể lượng hóa thành giá trị thiệt hại kinh tế trong khuôn khổ nghiên cứu đề tài này, kế

biến
TBS
Quế
Dương
Bún
khô
Minh
Khai
Miến
dong
Kim
Phượng
Bún ướt
thôn
Thượng
1
Thiệt hại kinh tế suy giảm
sản lượng nông nghiệp và
thủy sản
876,7
(29,96)
707,2
(19,83)
1.394,0
(26,05)
1.197,0
(28,77)
932,4
(23,91)
859,2

(70,27)
4
Thiệt hại kinh tế do ngăn
ngừa giảm nhẹ tác động
của ô nhiễm môi trường
913,95
(31,24)
405,65
(11,37)
835,61
(15,62)
638,32
(15,34)
134,40
(3,45)
97,56
(2,72)
5.
Thiệt hại kinh tế chuyển đổi
mục đích sử dụng tài nguyên
để giải quyết chất thải
1,51
(0,05)
1,82
(0,05)
2,42
(0,05)
2,12
(0,06)
2,46

1.000,00
2.000,00
3.000,00
4.000,00
Bánh đa thôn
Đoài
Nấu rượu Đại
Lâm
Chế biến TBS
Quế Dương
Bún khô Minh
Hòa
Miến dong
Kim Phượng
Bún ướt thôn
Thượng
Bắc Ninh
Hà nội
Nam Định
Ninh Bình
Giá trị thiệt hại kinh tế (1000 đ/năm)
Hộ làm nghề
Cộng đồng xã hội

Đồ thị 3.3. So sánh thiệt hại kinh tế theo đối tượng chịu ảnh hưởng
tại các làng nghề chế biến nông sản vùng đồng bằng sông Hồng

Kết quả khảo sát thực tế cho thấy ở các làng nghề này do nằm ven các thị trấn
với điều kiện thoát nước tốt hơn (như làng nghề miến dong Kim Phượng, làng bún
ướt Thượng) nên đã đẩy nhanh được nước thải ra khỏi làng nghề và gây ô nhiễm

CBNS thì tất cả các xã mới chỉ bố trí được một cán bộ kiêm nhiệm tham gia quản lý
môi trường ở làng nghề. Công tác tổ chức quản lý môi trường thực tế ở các làng nghề
CBNS chưa có tính hệ thống, mang nặng tính phong trào. Đội ngũ cán bộ tham gia
công tác quản lý vừa mỏng lại yếu về năng lực chuyên môn, quản lý và thiếu các điều
kiện làm việc cần thiết, 100% nông dân tham gia nhóm đều cho rằng thiếu sự vào
cuộc thực sự của các tổ chức chính trị, xã hội ở nông thôn.
- Về triển khai biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường ở làng nghề: Do không
quản lý và định hướng tốt công nghệ nên đa số hộ nông dân chuyển đổi công nghệ
theo hướng tăng năng suất nên phát sinh chất thải cao, khả năng thu gom và tận dụng
chất thải kém hơn. Ở tất cả 6 làng nghề điều tra đều không có hệ thống thu gom nước
thải riêng, không có hồ chứa nước thải để xử lý trước khi thải ra môi trường. Cả 6 xã
điều tra đều cho rằng địa phương còn rất lúng túng công tác quản lý và xử lý môi
trường ở các làng nghề CBNS. 17
Bảng 3.7. Hạn chế và bất cập về đánh giá, quản lý thiệt hại kinh tế
trong các văn bản quản lý có liên quan đến làng nghề CBNS
TT
Tên văn bản
Hạn chế và bất cập
1.
Luật

Luật Bảo vệ môi trường 2005
Thiếu các quy định về phạm vi không gian, thời
gian, đối tượng trong xác định thiệt hại kinh tế
2.
Nghị định


Bắc Ninh
Đã ban hành nhiều văn bản liên quan nhưng thiếu
các giải pháp khả thi, tiến độ thực hiện rất chậm,
thiếu ràng buộc pháp lý, thực hiện thiếu triệt để và
giải pháp phù hợp

Hà Nội
Ban hành nhiều văn bản liên quan, thiếu các quy
định đặc thù cho làng nghề, thiếu chế độ hỗ trợ phù
hợp cho quản lý, thiếu quyết liệt và còn chồng chéo

Nam Định
Có ban hành các quy định nhưng thiếu giải pháp và
lộ trình thực hiện, hạn chế các quy định về quy
hoạch

Ninh Bình
Chủ yếu dựa vào các quy định của nhà nước, thiếu
các quy định riêng đối với đặc thù làng nghề

- Về triển khai các biện pháp giáo dục, thuyết phục người dân và các tổ chức
kinh tế trong quản lý môi trường làng nghề CBNS: Kết quả đánh giá PRA cho thấy
công tác giáo dục, tuyên truyền chưa được thực hiện thường xuyên, thường lồng ghép
với các chương trình khác. Có 6/6 xã có làng nghề được điều tra cho rằng nhận thức của
người dân đã được nâng cao nhưng ý thức của người dân về công tác BVMT chậm
chuyển biến và cần tiếp tục các tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền (Bảng 3.8). 18
Bảng 3.8. Kiến nghị của nông dân về giải pháp giảm thiểu thiệt hại kinh tế ở làng nghề

3.
Quy hoạch lại vùng sản xuất để phát
triển bền vững làng nghề
8,24
11,70
20,32
13,89
13,52
4.
Tăng cường công tác tuyên truyền,
giáo dục cộng đồng
65,97
59,57
34,14
28,70
47,09

- Thực trạng áp dụng các chế tài quản lý và xử phạt những hành vi gây thiệt
hại kinh tế xã hội ở làng nghề CBNS: Cả nông dân và cán bộ địa phương tại 6/6 làng
nghề điều tra đều cho rằng khó thực hiện và thiếu tính thực tiễn khi vận dụng các quy
định về xử lý các hành vi vi phạm trong quản lý môi trường. Theo đánh giá của cán
bộ địa phương, Chủ tịch UBND và Trưởng công an xã chỉ có quyền xử phạt các hành
vi vi phạm gây ô nhiễm môi trường dưới 2 triệu đồng nhưng theo quy định hiện hành
thì đa số các hành vi vi phạm đều có mức xử phạt lớn hơn. Cả 6/6 cán bộ phụ trách
môi trường các xã điều tra đều cho rằng khó thực thi các chế tài xử lý vì thiếu chỉ đạo
kịp thời, hạn chế về thẩm quyền và thiếu cơ sở xác định. Ngoài ra, chủ trương về di
rởi và xử lý vi phạm các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm cao ra khỏi khu dân cư cũng
thiếu các chế tài phù hợp và cơ chế giám sát cần thiết trong thực hiện nên chưa một
làng nghề nào điều tra thưc hiện được việc di rời.


Tăng cường hoạt động quan trắc hiện trạng chất lượng môi trường; ứng dụng
các công nghệ tổng hợp xử lý ô nhiễm môi trường; sử dụng các chế phẩm vi sinh có
hoạt tính cao để tái sử dụng chất thải rắn sản xuất phân bón và thức ăn chăn nuôi; tổ
chức lại hệ thống thu gom nước thải, chất thải rắn từ làng nghề CBNS có phân loại tại
nguồn để thuận lợi cho việc tái sử dụng sản xuất các sản phẩm có lợi; ban hành các quy
định đặc thù với địa phương nhưng không trái các quy định của nhà nước; giám sát
chặt chẽ các hoạt động sản xuất và quản lý chất thải, ưu tiên cho các làng nghề có ô
nhiễm cao.
c) Đối với nông dân làm nghề
Cần tiến hành quản lý và sử dụng hiệu quả nguyên vật liệu, chấp hành các quy
định về quản lý chất thải; tiến hành thu gom, xử lý sơ bộ chất thải rắn, nước thải theo
quy định của địa phương; phân loại và đổ chất thải đúng nơi quy định; giám sát cộng
đồng; phát hiện kịp thời và đấu tranh với các hoạt động xả thải không đúng quy trình
và quy định hiện hành. 20
d)Đối với các hộ bị tác động
Tổ chức giám sát cộng đồng về môi trường để phát hiện, ngăn chặn và ứng phó
kịp thời với nguy cơ ảnh hưởng của nước thải đến cây trồng và thủy sản; phát hiện và
báo cáo với cơ quan chức năng về các hành vi vi phạm trong quản lý chất thải và môi
trường từ làng nghề.
4.2.2. Giải pháp kiểm soát thiệt hại kinh tế liên quan đến làng nghề CBNS
a) Đối với các Bộ, Ngành
Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện bộ phương pháp đánh giá; thử nghiệm các mô
hình thực nghiệm và dự báo vể thiệt hại do tác động của chất thải phát sinh, trong
đó chú trọng đến các thiệt hại do ô nhiễm môi trường nước và chất thải rắn; tạo
hành lang pháp lý để thực thi cơ chế chia sẻ lợi ích kinh tế và trách nhiệm bảo vệ môi
trường giữa hộ làm nghề và hộ bị ảnh hưởng bởi làng nghề.
b) Đối với các địa phương

tư cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng môi trường ở làng nghề; đẩy mạnh các hỗ trợ
về cơ chế chính sách đất đai; chính sách đãi ngộ cho đội ngũ càn bộ làm công tác
quản lý môi trường ở các xã có làng nghề.
4.2.4. Giải pháp về tổ chức quản lý
a) Đối với các Bộ, Ngành
Tạo hành lang pháp lý cho hình thành hệ thống hoặc gắn kết hệ thống quản lý
sản xuất và môi trường làng nghề CBNS với các hệ thống quan trắc, khuyến nông,
khuyến công, chương trình nông thôn mới để tăng tính hiệu quả quản lý; tăng cường
các hoạt động kiểm tra, giám sát môi trường làng nghề.
b) Đối với các địa phương
- Đối với các cơ quan quản lý cấp tỉnh, huyện: giao rõ nhiệm vụ cho cơ quan
đơn vị chuyên trách về quản lý môi trường làng nghề nên là Phòng Nông nghiệp và
PTNT; cần phân tách rõ trách nhiệm quản lý nhà nước và cơ quan thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về môi trường làng nghề; phân cấp chức năng quản lý trên cơ
sở nâng cao trách nhiệm, quyền hạn và quyền lợi cho chính quyền cấp cơ sở; tăng
cường giám sát cấp cơ sở trong kiểm soát ô nhiễm môi trường ở làng nghề.
- Đối với cấp xã: Đổi mới hệ thống tổ chức quản lý môi trường và thiệt hại
kinh tế xã hội ở làng nghề, coi trọng mục tiêu BVMT khi phê duyệt mục tiêu phát
triển làng nghề CBNS.
- Đối với cấp cộng đồng: bổ sung chức năng, nhiệm vụ và tăng cường vai
trò của các tổ chức chính trị xã hội nông thôn; hình thành các hội, nhóm hành động
liên quan đến quản lý môi trường ở làng nghề CBNS.
4.3.5. Giải pháp về thông tin, tuyên truyền và giáo dục nâng cao nhận thức
a) Đối với các Bộ, Ngành
Cần xây dựng các chương trình khung tuyên truyền sâu rộng để nâng cao nhận
thức; đổi mới hình thức tuyên truyền thông qua hình thức sân khấu hóa, mở rộng các
phương tiện truyền thông thông qua các chương trình hành động chung và các 22

hơn làng thuần nông 8,01 lần. Sự gia tăng các chỉ tiêu ô nhiễm môi trường đã đã gây
thiệt hại lớn về kinh tế cho nông dân, cụ thể:
- Hoạt động sản xuất CBNS ở các làng nghề nghiên cứu đã gây thiệt hại kinh tế
từ 2,9 đến 5,4 tỷ đồng/làng nghề/năm, hoạt động chế biến tinh bột sắn, miến dong và 23
bún khô xuất khẩu gây thiệt hại kinh tế cao hơn so với các làng nghề CBNS khác;
- Thiệt hại kinh tế do suy giảm sức khỏe cộng đồng chiếm tỷ lệ cao từ 37,03%
đến 67,6% phụ thuộc vào mức độ phát sinh chất thải, các làng nghề sử dụng nhiều
nguyên liệu thô, nhiều nước và than như nấu rượu, chế biến miến dong, tinh bột sắn
gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng ở nông thôn;
- Nước thải phát sinh từ làng nghề không được kiểm soát và sử dụng hợp lý đã
gây thiệt hại kinh tế cho trồng trọt và thủy sản từ 9,77% đến 29,82% tổng giá trị thiệt
hại kinh tế; thiệt hại kinh tế do xử lý nước thải, chất thải rắn chưa tính toán được đẩy
đủ do chưa có các hoạt động thu gom, xử lý nước thải ở các làng nghề.
- Ngoài gây thiệt hại cho các hộ làm nghề, hoạt động làng nghề CBNS còn gây
thiệt hại kinh tế lớn cho cộng đồng ở các khu vực bị tác động đặc biệt là các làng
nghề phát sinh nhiều nước thải;
3) Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng hiện trạng triển khai các biện pháp quản lý
làng nghề CBNS vẫn còn có những bất cập, vướng mắc chủ yếu là (i) chưa có tính
thống nhất cao về phân cấp quản lý nhà nước về môi trường làng nghề; (ii) thiếu cả
về chính sách và cơ chế hỗ trợ cho công tác quản lý, ngăn ngừa suy thoái ô nhiễm
môi trường ở làng nghề; (iii) thiếu các văn bản hướng dẫn, văn bản kỹ thuật đặc thù
cho làng nghề; (iv) hệ thống tổ chức quản lý môi trường và thiệt hại kinh tế cấp vi mô
rất hạn chế về năng lực và tổ chức thực hiện; (v) thiếu và lạc hậu về cơ sở vật chất
môi trường ở làng nghề CBNS; (vi) hiệu quả của công tác thông tin, tuyên truyền và
giáo dục cộng đồng trong quản lý môi trường ở làng nghề chưa cao; (vii) thiếu sự
phân cấp phù hợp và hạn chế về giám sát và xử lý các hành vi vi phạm trong quản lý
môi trường ở làng nghề.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status