Tài liệu Đề tài "TÍNH THIỆT HẠI KINH TẾ DO TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Ở KCN" - Pdf 97

TÍNH THIỆT HẠI KINH TẾ DO TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Ở KCN
TS. Nguyễn Thế Chinh, Đinh Đức Trường
Khoa kinh tế - quản lý môi trường và đô thị.
Đại học kinh tế quốc dân
Bộ giáo dục và đào tạo
Thiệt hại do ô nhiễm môi trường bởi các hoạt động sản xuất kinh doanh
trong mọi lĩnh vực, trong đó có ngành công nghiệp nặng đang được nhiều
nhà kinh tế, môi trường quan tâm. Các nghiên cứu trước đây thường mới
chỉ dừng lại ở đánh giá định tính của tác động môi trường, ít có những
nghiên cứu cụ thể về kinh tế do ô nhiễm môi trường. Dựa trên cơ sở khoa
học và phương pháp luận xác định thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi trường,
tác giả đã đưa ra 3 phương thức tính toán thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi
trường ở 1 khu công nghiệp được lựa chọn - Khu gang thép Thái Nguyên.
Hy vọng bài viết sẽ giúp các nhà sản xuất, quản lý tham khảo vào hoàn cảnh
cụ thể trong công việc của mình.
Luật bảo vệ môi trường đã được Quốc hội thông qua ngày 27-12-1993 và bắt
đầu có hiệu lực từ ngày 10-1-1994. Trong luật này tại điều 30 thuộc chương III
quy định " Tổ chức, cá nhân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt
động khác làm suy thóai môi trường, ô nhiễm môi trường, gây sự cố môi
trường phải , có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp
luật". Việc bồi thường thiệt hại như thế nào và với mức đền bù bao nhiêu xét về
mặt giá trị, đòi hỏi phải có cơ sở khoa học để xem xét và tính toán, đồng thời
phải được cả bên gây ra thiệt hại và bên bị thiệt hại chấp thuận. Đây là vấn đề
không hề đơn giản.
Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước,
định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với sự tăng trưởng kinh tế nhanh và liên tục,
có sự đóng góp rất quan trọng của các doanh nghiệp công nghiệp, trong đó có
ngành công nghiệp nặng như công nghiệp gang, thép. Nhiều nghiên cứu trước
đây cũng đã có những đánh giá về tác động môi trường, nhưng phần lớn các
nghiên cứu đó chỉ mới dừng lại ở đánh giá kỹ thuật của tác động môi trường, ít
có những nghiên cứu đầy đủ về đánh giá kinh tế, đặc biệt là đánh giá thiệt hại

Đáp ứng những mục tiêu và yêu cầu nói trên, chúng tôi lựa chọn địa bàn Khu
công nghiệp gang thép Thái Nguyên để điều tra và nghiên cứu.
1. Cơ sở khoa học của việc tính toán thiệt hại ô nhiễm.
Hoạt động kinh tế bao gồm có sản xuất và tiêu thụ, sản xuất chính là việc sử
dụng những dạng vật chất và năng lượng của tự nhiên biến đổi thành các dạng
khác có ích cho con người mà chúng ta gọi là hàng hóa. Kết quả cuối cùng của
sản xuất và tiêu thụ các dạng vật chất và năng lượng sẽ được hoàn trả về môi
trường dưới dạng chất thải. Ô nhiễm môi trường gây ra ngoại ứng tiêu cực, đó
là một tác động xảy ra trong sản xuất và gây ra thiệt hại cho các đối tượng khác
mà thiệt hại này không được tính đến trong giá cả hàng hoá trên thị trường. Khi
có ngoại ứng xảy ra thì cái được và cái mất của cá nhân khác với cái được và
cái mất của toàn xã hội. Hậu quả của hiện tượng này là giá hàng hoá không
phản ánh đầy đủ giá trị xã hội của hàng hoá, nói cách khác giá không nội hóa
các ngoại ứng để sản xuất hàng hoá. Một điểm mấu chốt nữa cũng hết sức cơ
bản đó là không có một cơ chế xác lập quyền sở hữu rõ ràng cho những yếu tố
môi trường như nước, không khí , điều này quyết định tính phi kình địch của
bản thân nó trong nền kinh tế thị trường. Do đó, trên thị trường cũng dẫn tới sự
sai lệch về lượng sản xuất giữa mức hiệu quả cá nhân và mức hiệu quả xã hội,
vì thế nó gây ra một sự vô hiệu quả kinh tế do tổn thất phúc lợi xã hội.
Đánh giá kinh tế được xây dựng để tính toán các thiệt hại kinh tế do ô nhiễm
gây ra, có rất nhiều phương pháp khác nhau, nhưng được chia thành hai loại
chính là các phương pháp đánh giá trực tiếp và các phương pháp đánh giá gián
tiếp. Các phương pháp trực tiếp được sử dụng để đánh giá thiệt hại vật chất hữu
hình và các thiệt hại đó thường có giá thị trường, đó là phương pháp thay đổi
năng suất, phương pháp chi phí sức khoẻ, phương pháp chi phí cơ hội, phương
pháp chi phí phòng ngừa, phương pháp chi phí thay thế. Các phương pháp đánh
giá gián tiếp thường được sử dụng để đánh giá các thiệt hại vô hình khó lượng
giá được trên thị trường. Hai phương pháp đánh giá gián tiếp được sử dụng
trong nghiên cứu này là: Phương pháp giá trị hưởng thụ và phương pháp đánh
giá ngẫu nhiên.

δ

2
Trong đó: t: Phân vị chuẩn (thường =2 ở độ tin cậy 95%), (: Độ lệch chuẩn về
số hộ ở một cuộc điều tra đã có, E: Sai số chuẩn, N: Số hộ của tổng thể chung,
n: Số hộ của tổng thể mẫu.
Cũng có thể tính kích thước mẫu bằng 5% tổng số đơn vị của tổng thể chung.
Trong nghiên cứu vì chưa biết nên ta sẽ chọn cách 2 tức là kích thước mẫu sẽ
là: n= 0.05 x 2512= 125 hộ.
Các phiếu điều tra được xử lý bằng phần mềm SPSS và Excel. Trong 130 phiếu
phát ra, số phiếu thu về được là 100 (tỷ lệ 80%), tuy nhiên số phiếu hợp lệ để
có thể phân tích chỉ là 84 phiếu (tỷ lệ 69%). Mặc dù tỷ lệ này không cao nhưng
những thông tin thu về là có giá trị và được sử dụng trong các phân tích thống
kê và hồi qui kết hợp với các thông tin trong các dữ liệu gián tiếp khác.
Tổng thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi trường gây ra được tính bằng 3 phương
thức sau:
Thứ nhất: Đánh giá trực tiếp. Tổớng thiệt hại kinh tế do ô nhiễm được tính
bằng tổng chi phí tính từ 6 loại: Chi phí thay đổi năng suất, chi phí sức khoẻ,
chi phí cơ hội, chi phí phòng ngừa, chi phí thay thế (khắc phục) và cuối cùng là
giá trị hưởng thụ.
Chi phí thay đổi năng suất tính thiệt hại kinh tế do giảm năng suất cây trồng vật
nuôi cụ thể. Chi phí sức khoẻ được tính chi phí trung bình vì thiệt hại cho 1 ca
bệnh dưới dạng tiền chữa bệnh đối với từng loại bệnh. Chi phí cơ hội tính sự
chênh lệch về thu nhập của người dân trong vùng ô nhiễm trước và sau khi mắc
bệnh (ở đây ta giả thiết là người dân bị thiệt hại thu nhập do phải nghỉ ngơi
điều trị bệnh). Chi phí phòng ngừa tính số tiền mà nhân dân phải bỏ ra hàng
năm để phòng ngừa ô nhiễm. Chi phí thiệt hại thay thế tính các chi phí để khắc
phục ô nhiễm hoặc sự cố môi trường do Khu công nghiệp gây ra. Tính giá trị
hưởng thụ trong nghiên cứu này, có một giả định là chất lượng môi trường
được coi như một yếu tố quyết định giá đất tại khu vực. Do có ô nhiễm nên giá

toán WTA được thể hiện ở bảng 2 (đơn vị: đồng).
Bảng 2

Số hộ điều tra
trong mẫu
Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình Độ lệch
chuẩn
WTA 80 200000 12000000 2399900 2333800
Như vậy là trong 84 hộ được phỏng vấn có 4 hộ không trả lời câu hỏi này.
Trong 80 hộ còn lại chọn các mức WTA khác nhau, trong đó hộ muốn nhận
nhiều nhất là 12000000 đ/năm và hộ muốn nhận ít nhất là 200000 đ/năm.
Trung bình một hộ chấp nhận 2400000 đ/ năm. Tổng WTA của các hộ trong
tổng thể mẫu là 191000000 đ.
Trong các chi phí tổn hại do ô nhiễm môi trường thì các chi phí hữu hình là rất
nhỏ (chỉ 14%), còn chi phí vô hình là khá lớn, đến 86% tổng thiệt hại. Theo kết
quả tính toán thì có một sự chênh lệch đáng kể giữa thiệt hại trung bình của một
hộ dân tính theo phương thức thứ nhất (420000 đ) và con số tương ứng tính
theo phương pháp WTA (2400000 đ). Sở dĩ như vậy là vì, thứ nhất tổng thiệt
hại mà ô nhiễm gây ra cho một hộ dân trong thực tế có thể lớn hơn 420000 đ.
Số tiền này mới chỉ là con số tính toán theo mô hình. Thứ hai, khi sử dụng
phương pháp WTA thì nhân dân thường muốn nhận nhiều hơn con số mà họ
phải chịu trong thực tế.
c) Đánh giá tổng hợp trên cơ sở mô hình hóa.
Trên cơ sở xây dựng mô hình, sử dụng phiếu điều tra tại địa bàn nghiên cứu và
từ nhiều nguồn dữ liệu thu thập khác nhau, bằng việc viết phần mềm cho chung
mô hình, kết quả đánh giá thiệt hại kinh tế bằng phương pháp này ở Khu gang
thép Thái Nguyên năm 2001 là 1386000000 đ. Như vậy so với phương thức
đánh giá thứ nhất; sự chênh lệch của cách tính này cao hơn 331860000 đ. Như
vậy sự chênh lệch này có khả năng chấp nhận được.
Kiến nghị.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status