LUẬN VĂN:
Bước đầu đánh giá kinh tế các tác động
môi trường do hoạt động của công ty Cao
su Sao vàng Hà Nội Lời nói đầu Quá trình lao động sáng tạo ra của cải vật chất của con người đều có tác động đến
môi trường xunh quanh theo chiều thuận lợi hoặc không thuận lợi cho đời sống và phát
triển của con người. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và những diễn đàn kinh tế xã hội
mang tính chất toàn cầu trong những thập kỷ qua đã gây ảnh hưởng rộng lớn, sâu sắc và cơ
bản đến điều kiện thiên nhiên và môi trường, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, cân bằng
sinh thái đảo lộn, chất lượng môi trường sống suy thoái đồng thời ảnh hưởng trực tiếp tới
quá trình sản xuất kinh doanh cũng như sức khoẻ của công nhân tại các cơ sở sản xuất.
Vì vậy làm sao để cho các cơ sở sản xuất kinh doanh trực tiếp lao động có hiệu quả
mà không tổn hại đến môi trường của con người? Làm sao để cho cơ sở sản xuất kinh
Chương 1: cơ sở lý luận chung
I. Ô nhiễm môi trường do chất thải công nghiệp.
1. Môi trường:
Bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với
nhau, bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, tồn tại, phát triển của con
người và thiên nhiên.
2. Chất thải:
Là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc trong các hoạt
động khác. Chất thải có thể ở dạng rắn, lỏng, khí hoặc các dạng khác.
3. Chất gây ô nhiễm:
Là những nhân tố làm môi trường trở nên độc hại.
4. Ô nhiễm môi trường do chất thải công nghiệp:
Ô nhiễm công nghiệp là sự có mặt của một chất ngoại lai trong môi trường tự nhiên
dù chất đó có hại hay không, là kết quả của hoạt động công nghiệp, khi vượt quá một
ngưỡng nào đó thì chất đó sẽ trở nên độc hại với các thành phần môi trường.
4.1. Ô nhiễm môi trường không khí:
4.1.1. Không khí: Là hỗn hợp gồm khoảng 78% là Nitơ, 21% là ôxy 1% là khí
Agon và 0,03% CO
2
. Ngoài ra nó còn có một lượng nhỏ các khí như: Neon, Heli ở điều
lỏng này (khí dung) lơ lửng trong một thời gian dài, có thể xâm nhập vào cơ thể cùng với
không khí được hít vào. Từ trạng thái khí dung này chỉ có được phần tử có kích thước nhỏ
hơn 1 micromet mới có thể tiến sang phế nang được ngoài ra những phần tử có kích thước
1- 0,6 và nhỏ hơn 2 miromet bị giữ lại ở phế nang nhiều nhất. Sự giữ lại những phần tử rắn
và lỏng của khí dung phụ thuộc một phần vào tần suất và biên độ hấp thụ cũng như phụ
thuộc vào nồng độ tương đối của chất hít vào. Sự hấp thụ những phần tử rắn từ phế nang
vào máu được xác định trên cơ sở tính toán hoà tan của chúng vào dịch thể tổ chức bộ mặt
của nhu mô phổi gây kích thích.
4.1.4.Ô nhiễm không khí gây kích thích:
Mức độ phát sinh kích thích của hơi khí đến đường hô hấp trên, một phần phụ thuộc
vào sự hoà tan của chúng vào nước, nếu các hơi khí này hoà tan trong phần chất lỏng của
đường hô hấp trên và gây tác động lên cơ quan này, ở đó biểu mô bền vững với tổn thương
hơn là những phần nêu ở sau. Tuy nhiên tính chất xâm nhập của các hơi khí này trong
nhiều trường hợp được xác định là do sự có mặt của khí dung trong không khí. Vì vậy
chính những hơi khí là lúc bình thường không xâm nhập được vào sâu trong khí quản và
phế quản có thể hấp thụ được bởi sự có mặt của khí dung nếu đường kính của chúng nhỏ,
lúc đó chúng sẽ xâm nhập được vào sâu trong phế quản và khí quản.
Thực tế là do nồng độ cao của những chất thải bẩn khi tác động phối hợp có thể gây
ra những biến đổi sinh lượng quan trọng. Do đó, người ta đưa ra khái niệm về tác động
thấy được của các chất kích thích ở phổi, theo sự phát sinh của chúng, tác động này không
phải do nồng độ trung bình cực đại của hơi khí kích thích. Những nghiên cứu thực nghiệm
về ảnh hưởng của các hơi khí kích thích đối với phổi người ta được chứng minh bằng hậu
quả nghiêm trọng do chúng gây ra.
4.1.5. Ô nhiễm tiếng ồn: Là một hiểm hoạ đến môi trường sống của con người.
Tiếng ồn được “thải vào” không khí không những gây ra sự nhiễm loạn sóng ảnh hưởng
đến thông tin liên lạc mà còn ảnh hưởng đến thính giác và thần kinh của con người. Vì vậy
tiếng ồn cũng được xem như là một yếu tố gây ô nhiễm đe doạ sự lành mạnh của môi
trường. Đơn vị đo lường tiếng ồn là deciben (dB) là một đơn vị tương đối dựa trên loga tỷ
số của cường độ tiếng ồn (I) và cường độ cưỡng bức (I
tăng quá trình ức chế, làm thay đổi hoạt động phản xạ có điều kiện của con người, phá huỷ
trạng thái của thần kinh trung ương, làm giảm sút sự tập trung tư tưởng, làm giảm khả
năng làm việc, đặc biệt làm giảm độ thông minh của con người.
Tiếng ồn ở mức 40 dB thì không ai ngủ được, khi tiếng ồn lên đến mức 50 dB thì
giấc ngủ bị ngắt quãng và 60 dB giấc ngủ bay biến mất. Tác động liên tục của tiếng ồn
cũng gây lên chứng loét dạ giầy, tiếng ồn cũng là nguyên nhân làm tăng bệnh thần kinh và
bệnh tăng huyết áp.
Theo nghiên cứu, định mức sinh lý của tiếng ồn như sau:
- 40 dB về ban đêm bình thường
- 60 dB về ban ngày bình thường
- 70- 80 dB mệt mỏi
- 90- 101 dB bắt đầu nguy hiểm
- 120- 140 dB đe doạ gây nguy hiểm
Vì vậy vấn đề làm giảm tiếng ồn và hạn chế tác động tiêu cực cho tiếng ồn gây nên
cho con người đang ngày càng trở nên cấp thiết.
4.2. Sự ô nhiễm các nguồn nước do chất thải công nghiệp:
Sự ô nhiễm các nguồn nước trên lục địa hiện đại là một trong những vấn đề ô nhiễm
trầm trọng nhất, đặc biệt là đối với các nước công nghiệp hoá. ậ Mỹ người ta ước tính
rằng 90% lượng nước sông được xem là phương tiện để vận tải các chất thải ra biển. Chỉ
một việc chống ô nhiễm Photphat cho vùng Ngũ hồ hàng năm cũng đã tốn hết 500 triệu
USD. ậ Liên xô cũ, hơn 400000 km sông ngòi ô nhiễm “mãn tính”. ậ Pháp nơi mà vấn đề
về môi trường được quan tâm tương đố sớm, và nhà nước đã đầu tư nhiều cho việc phòng
chống ô nhiễm, phần lớn các sông ngòi, đặc biệt là sông lớn như sông Xen, sông Ranh,
sông Ron… cũng vẫn luôn luôn ở trạng thái ô nhiễm đáng lo ngại.
4.2.1. Sự ô nhiễm sinh học:
Sự ô nhiễm “sinh học” các nguồn nước lục địa bắt nguồn từ việc thải vào sinh
quyển các chất thải chứa các hợp chất hữu cơ có thể bị lên men và các tác nhân gây bệnh
đồng hành với chúng. Sự ô nhiễm này trước hết làm thoái biến, huỷ hoại các hệ sinh thái
nước ngọt.
thường trong công nghiệp như chống nóng, làm nguội máy… Thế mà hàng năm khối
lượng của các nhà máy thuộc công ty hoá chất Potasse ở vùng Andat hàng năm cũng đã đổ
vào sông Ranh khoảng 7 triệu tấn muối.
Các loại phân bón hóa học chủ yếu là phân Nitrat và phân Photphat và phân bón
cho các cánh đồng bị nước mưa hoà tan rồi chảy ra sông ngòi cũng là một nguồn ô nhiễm
quan trọng đối với lục địa. ậ các vùng nông nghiệp phát triển mạnh người ta nhận thấy
rằng tất cả các sông, hồ, và ngay cả các lớp nước ngầm đều chứa các phần tử dinh dưỡng
này ở những nồng độ cao bất thường, đặc biệt là ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Theo tiêu chuẩn
của tổ chức y tế thế giới, nồng độ tối đa cho phép của ion Nitrat trong nước là 9 ppm, thế
mà nước ngầm ở các vùng này đều có nồng độ lớn hơn. Sự dư thừa nitrat có thể gây ra một
loại bệnh thiếu máu. ngoài ra, sự dư thừa nitrat có thể đưa đến sự tạo thành Nitrosamin
một hợp chất gây ung thư trong đường tiêu hoá.
Tuy nhiên, hậu quả đáng lo ngại của sự ô nhiễm nước trên lục địa bởi nitrat và
photphat là hiện tượng loạn dưỡng. Ngày nay phần lớn các hồ, và ngay cả các sông nước
chảy chậm đã có hiện tượng loại dưỡng mãn tính. Hiện tượng này thể hiện qua sự phát
triển của thực vật nổi và cây có hoa thuỷ sinh, do trong nước có quá nhiều muối khoáng
dinh dưỡng. Những khối lượng lớn thực vật được tạo thành do hoạt động quang hợp sẽ tích
luỹ ở đáy hồ, các vi khuẩn được ưa thích sẽ phân huỷ khối thực vật này qua con đường ôxy
hóa và điều đó kéo theo sự tiêu thụ ôxy có trong nước (BOD), nghĩa là làm cạn kiệt oxy
trong nước, kết quả là xẩy ra sự chết hàng loạt động vật, nhất là các loại cá quý như cá hồi,
loại cá ưa sống trong nước sạch và giầu ôxy. Giai đoạn tiếp theo của sự loạn dưỡng là sự
lên men yếm khí của khối thực vật nằm ở lớp sâu dưới đáy. ở giai đoạn này sự phân huỷ sẽ
giải phóng ra metan và các khí các khí có mùi khó chịu khác nhau, đặc biệt là H
2
S và NH
3
.
Ngày nay hầu hết các hồ lớn ở Bắc Mỹ và phần lớn các hồ xung quanh vùng Anpơ
đều bị loạn dưỡng ở các mức độ khác nhau. ở Bắc Mỹ, trong thời kỳ 1968- 1986, cái giá
của cuộc chiến chống loạn dưỡng ở vùng Ngũ hồ là vào khoảng 10 tỷ USD.
Pb
2+
Cr
3+
Cr
6+
CN
-
0,5
0,01
0,1
0,05
0,1
0,005
0,005
0,5
0,1
0,1
Amin mạch thẳng
Butylacrylac
Vinylaxetat
Hexacloran
Đimetylamin
Điclophenol
Đietyl thuỷ ngân
Tiophot
Hoạt động của các ngành công nghiệp cũng nảy sinh ra một khối lượng lớn các chất
thải rắn, trong ngành năng lượng, các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than thải ra nhiều chất
thải rắn nhất, quá trình đốt than để lấy nhiệt cung cấp cho nồi hơi luôn luôn giải phóng ra
tro và xỉ. Tuỳ thuộc vào sản phẩm của than, lượng tro và xỉ dao động trong khoảng từ 10
đến 30% khối lượng than đem đốt người ta đã xây dựng được trong vòng một ngày đêm,
một nhà máy nhiệt điện công suất 1 triệu KVA, trung bình tiêu thụ 10 nghìn tấn than và do
đó thải ra khoảng 2 nghìn tấn tro và xỉ. Hiện nay có nhiều nhà máy nhiệt điện có lượng
chất rắn thải lớn hơn 1 triệu tấn trên một năm.
Tro và xỉ của các nhà máy nhiệt điện chứa chủ yếu là SiO
2
(40-50%), nhôm ôxít
(20-25%), FeO và Fe
2
O
3
(15-20%), CaO (3-5%), MgO (1-2%), TiO
2
(1-2%), K
2
O (1-
2%)… Thành phần hoá học của tro phụ thuộc vào thành phần hóa học của than được dùng
làm nhiên liệu. Năm 1980 tổng hợp tro và xỉ của các nhà máy nhiệt điện trên thế giới
khoảng 2 tỷ tấn. Do nhu cầu năng lượng của thế giới ngày một tăng, trong khi nguồn
nguyên liệu chủ yếu cho các nhà máy nhiệt điện vẫn là than đá, người ta cho rằng khối
lượng tro và xỉ thải ra mỗi năm lớn hơn khối lượng to lớn này, đòi hỏi những bãi chứa
hàng vạn ha. Để giảm bớt diện tích trồng trọt vì lấn chiếm đồng thời giảm sự ô nhiễm môi
trường người ta có xu hướng sử dụng năng lượng tro và xỉ này làm phụ gia cho vật liệu
xây dựng cấp thấp.
Ngành công nghiệp luyện kim và luyện kim màu cũng là những ngành thải ra
những lượng lớn chất thải rắn mà điển hình là xỉ lò cao và lò luyện thép. Xỉ lò than cao
ximăng láng bằng vật liệu chống thấm để tránh sự rò rỉ của axit, kiềm và các cấu tử độc hại
khác ra bên ngoài và thấm vào lớp nước ngầm. Tuy nhiên trong thực tế nguyên tắc này ít
được tôn trọng, nhất là các nước nghèo, vì vậy tác hại ô nhiễm của chất thải với môi
trường ngày càng nghiêm trọng.
Ngoài các nghành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường chủ chốt nói trên cần phải
kể thêm các ngành công nghiệp khác như: nghành chế tạo máy, vải sợi, da, giấy, cao
su,…là những nghành cũng đóng góp đáng kể vào việc làm ô nhiễm môi trường. Có thể
nói rằng hiện nay tất cả các ngành công nghiệp, kể cả công nghiệp điện tử là ngành công
nghiệp được xem là “sạch” nhất, đều đóng góp làm ô nhiễm môi trường ở các mức độ khác
nhau.
II. Phân tích tác động đến môi trường.
1. Khái niệm:
Việc đánh giá tác động của môi trường đòi hỏi phải nhận định các hoạt động phát
triển, phát hiện và phân tích những biến đổi của môi trường, đánh giá định lượng các tác
động đến lợi ích, sức khoẻ con người do hoạt động phát triển gây ra.Việc xác định, đặc
biệt là lượng hoá những thay đổi chất lượng của các hệ thống tự nhiên và các thể tiếp nhận
của con người, động vật…là rất cần thiết, song vô cùng khó khăn phức tạp. Nó đòi hỏi
phải thực hiện hàng loạt các phân tích về kỹ thuật và công nghệ, về kinh tế- tài chính, về
xã hội.
Như có thể trong hình.
xung quanhTrong và
ngoài ph
ạm
Đánh
giá
kinh
tế
các
tác
động
ảnh hưởng
đến các
thể tiếp
nhận, con
người,
thực vật,
động vật. Trong và
Các bi
ện pháp quản lý
chất lượng môi trư
ờng
nh
ằm giảm nhẹ, loại
-Xác định rõ ràng hợp lý các mặt sau.
+Giới hạn lãnh thổ của các hoạt động vật chất.
+Nội dung của các vấn đề hoạt động phát triển.
+Mối quan hệ giữa các thành phần của hệ thống.
-Nhận dạng các tác động chính đối với môi trường dựa trên 3 tiêu chuẩn chủ yếu
sau:
+Độ dài thời gian và diện tích lãnh thổ mà trên đó xảy ra các ảnh hưởng.
+Tính cấp bách của các tác động, mức độ suy giảm nhanh chóng và khả năng phục
hồi môi trường.
+Mức tổn hại không phục hồi được đối với cây cối, động vật, đất, nước.
Ngoài ra, còn có các tác động khác như tác động đến môi trường sức khoẻ, sự thay
đổi vì khí hậu, tác động tổng hoá khi xem xét riêng từng thành phần cũng như xem xét
đồng thời các thành phần của hệ thống.
Định lượng các thay đổi của các yếu tố tự nhiên, kinh tế- xã hội do hoạt động phát
triển gây ra. Để định lượng trước hết cần đo đạc các tham số liên quan đến chất lượng môi
trường.
Đánh giá mức độ của hoạt động phát triển đến môi trường, sức khoẻ và phúc lợi của
con người trước mắt cũng như lâu dài.
3. Phân tích kinh tế, tài chính và ứng dụng thực tế:
- Phân tích kinh tế: Bao gồm phân tích chi phí-lợi ích của các hoạt động phát triển
mang lại đối với môi trường. Vì thế, phân tích kinh tế được gọi là phân tích lợi ích-chi phí
mở rộng hay phân tích lợi ích-chi phí mở rộng chính là phân tích kinh tế của một hoạt
động phát triển cụ thể nào đó.
- Phân tích tài chính: Khi phân tích tài chính người ta tập trung chủ yếu và việc
phân tích giá trị thị trường và các dòng lưu thông tiền tệ.
- ứng dụng thực tế:
Phân tích kinh tế các tác môi trường được tiến hành trên cơ sở công tác nhiều lĩnh
vực khác nhau. Điều khó khăn nhất ở đây là quyết định chọn những tác động nào đến tài
nguyên và môi trường để đưa vào phân tích và bằng cách nào đó có thể định lượng cũng
mức giảm thu nhập và mức giảm chi phí y tế do sự thay đổi chất lượng môi trường gây
nên. nói chung, có tthể đánh giá ảnh hưởng môi trường bằng phương pháp này khi bệnh
xẩy ra trong một thời gian tương đối ngắn , rời rạc và không có di chứng lâu dài. Căn bệnh
mãn tính thì xử lý khó hơn. có thể chọn cách tiếp cận sự giảm thu nhập để phân tích các
hoạt động phát triển trong các trường hợp sau:
+ Khi có thiết lập mối quan hệ nhân quả và nguyên nhân gây ra bệnh có thể xác
định rõ ràng .
+ Bệnh xẩy ra trong một thời gian ngắn không đe doạ tính mạng và không có hiệu
quả lâu dài.
+ Biết được thu nhập một cách chính xác và cả mức độ chăm sóc thuốc men.
Một số dạng bệnh tật có liên quan đến chất lượng môi trường rất khó có thể đánh
giá được, do đó khi sử dụng phương pháp này cần thiết có một số điều kiện sau:
- Nguyên nhân không được thiết lập rõ ràng
- Nhiều nguồn ô nhiễm sẽ làm cho mối quan hệ này khó xác định.
Nếu như là bệnh mãn tính và ảnh hưởng của nó làm suy giảm chứ không gây bệnh
tật thì vấn đề đánh giá trở nên phức tạp, bởi vì nó vẫn thường như là “khoẻ mạnh”
- Chi phí cơ hội: khái niệm này dựa trên sự phân tích chi phí sử dụng tài nguyên do
những mục đích không thể làm ra hoặc không thể buôn bán, có thể ước lượng được bằng
cách sử dụng lợi nhuận ròng thu được khi sử dụng ô nhiễm và mục đích khác. thay cho
việc xác định trực tiếp mục đích của việc bảo vệ tài nguyên (không định gía hoặc buôn bán
được) ta đo giá trị bị mất cho bảo tồn nó. Vì vậy, chi phí cơ hội là một cách tiếp cận trong
việc xác định “cái giá” của việc bảo vệ.
Bình thường, kỹ thuật này dựa trên cách tiếp cận tới chi phí. Tuy nhiên, trên thực tế
nó đo lợi ích của việc bảo vệ, bản thân việc này rất khó đánh giá. Những trường hợp mà
trong đó tiếp cận này tỏ ra có giá trị là các hoạt động có liên quan tới các khu rừng nhiệt
đới, thành lập các khu bảo vệ, các khu di tích lịch sử văn hoá.
- Chi phí phòng ngừa: trong một vài trường hợp, có thể xác lập một giá trị tối thiểu
mà mỗi cá nhân có thể chi phí cho việc giữ chất lượng môi trường của họ, do đó cần thiết
có bao nhiêu người sẵn sàng cho việc phòng ngừa việc phá hủy môi trường này. Điều đó
trường.
+ Các khoản phạt do các quy định trong tương lai
+ Các chi phi trong tưong lai do các hậu quả không mong muốn về việc cấp giấy
phép….
Hiện này chi phí này thường dựa trên xem xét với mục đích khác nhau nên nó
không được quan tâm đầy đủ trong hệ thống hạch toán, quản lý nội bộ và quá trình ra
quyết định.
- Chí phí cho uy tín và mối quan hệ: Một số chi phí môi trường được gọi là hữu
hình hay vô hình nó được chi trả để tác động đến nhận thức của người quản lý, của khách
hàng, của nhân viên, cộng đồng và những người điều khiển. Loại chi phí này có thể bao
gồm chi phí cho các báo cáo môi trường và chương trình chống ô nhiễm. Chương II. Bước đầu đánh giá kinh tế các tác động môi trường do hoạt động của
công ty.
I. Hiện trạng môi trường tại công ty.
1. Vị trí địa lý.
Công ty Cao su Sao vàng được xây dựng tại khu công nghiệp Thượng Đình ở phía
Tây nam Hà Nội.
- Phía bắc giáp với tập thể Công ty Cao su Sao vàng cách 100 m.
- Phía nam tiếp cận với công ty Xà Phòng Hà Nội
- Phía tây giáp quốc lộ 6 và cách khu dân cư mới xây dựng 200 m.
- Phía đông giáp xã Khương Đình (một khu vực dân cư nhỏ)
tháng 8 năm sau, mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 11.
2.3. Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới quá trình khuyếch tán và
chuyển hoá các chất gây ô nhiễm không khí.
Độ ẩm khu vực Công ty Cao su Sao vàng cả năm là 70 %, mùa khô có độ ẩm giảm
đi, mùa mưa có độ ẩm tăng lên.
2.4. Chế độ gió
Đây là yếu tố ảnh hưởng rất mạnh tới sự phát tán trong môi trường không khí và độ
thông thoáng trong môi trường làm việc.
Mùa khô tốc độ gió 2m/giây, mùa mưa 1,5 m/giây.
2.5. Nắng và bức xạ.
Bức xạ mặt trời là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chế
độ nhiệt trong vùng và độ bền vững khí quyển là yếu tố khí hậu quan trọng ảnh hưởng đến
quá trình phát tán, biến đổi các chất gây ô nhiễm môi trường không khí.
Thời gian nắng trung bình trong ngày là 7 giờ. Cường độ bức xạ trong những ngày
nắng cũng không giống nhau, cường độ mùa hè lớn hơn cường độ bức xạ vào mùa đông,
những buổi trưa hè cường độ lớn hơn cường độ vào buổi tối, buổi sáng.
3. Cấp và thoát nước
3.1. Cấp nước
Hiện tại công ty khai thác nước từ 3 giếng khoan có độ sâu 70 đến 75 m, với tổng
công suất 7000 m
3
/ngày đêm (chỉ sử dụng 6360 m
3
).
Nước khai thác từ giếng được xử lý thông thường (dàn mưa ô xi hóa, lắng, lọc).
Nước dùng cho nồi hơi được xử lý bằng lọc áp suất cao và trao đổi ion. Lượng nước được
sử dụng như sau:
- Cấp cho nồi hơi 765 m
3
- Các sản phẩm chủ yếu.
+ Lốp xe đạp: 93.664 chiếc
+ Săm xe đạp: 38.388 chiếc
- Với đội ngũ cán bộ công nhân viên 232 người (không có tốt nghiệp đại học chỉ
có hai người trình độ trung cấp). Được phân bổ trong 3 phân xưởng sản xuất và 6 phòng
ban nghiệp vụ.
- Vốn sản xuất chủ yếu là tài sản cố định không quá 1000.000 đ, vốn lưu động rất
ít.
Trải qua nhiều năm tồn tại trong cơ chế hành chính bao cấp (1960- 1987) nhịp độ
sản xuất của nhà máy luôn tăng trưởng, số bình quân lao động tăng không ngừng, năm
1986 là 3280 người, song nhìn chung sản phẩm đơn điệu, chủng loại nghèo nàn ít được cải
tiến vì không có đối tượng cạnh tranh, bộ máy gián tiếp thì cồng kềnh, hoạt động còn trì
trệ, hiệu quả kém, thu nhập của lao động thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn.
Từ những năm 1988- 1989, nhà máy trong thời kỳ quá độ chuyển từ cơ chế hành
chính bao cấp sang cơ chế thị trường, với tinh thần sáng tạo, đoàn kết, nhất trí, nhà máy đã
tiến hành tổ chức, xắp xếp lại có chọn lọc với phương châm vì lợi ích của nhà nước trong
đó có lợi ích chính đáng của cá nhân mình, họ đã dần dần đưa nhà máy thoát khỏi cơn
khủng hoảng.
Năm 1990, sản xuất dần dần được ổn định, thu nhập của người lao động có chiều
hướng tăng, đã có biểu hiện tích cực chứng tỏ nhà máy có thể tồn tại và hoà nhập trong cơ
chế mới.
Từ năm 1991 đến nay nhà máy đã khẳng định được vị trí của mình là một doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có doanh thu tăng dần và các khoản nộp ngân
sách năm sau cao hơn năm trước, thu nhập của người lao động dần dần được nâng lên và
đời sống được cải thiện. Doanh nghiệp luôn được công nhận là đơn vị thi đua xuất sắc,
được nhiều cờ tặng và bằng khen của cơ quan cấp trên, các tổ chức đoàn thể luôn được
công nhận là đơn vị vững mạnh.
Từ thành tích trên đã dẫn đến kết quả là. Theo quyết định số 645/CNNG ngày
27/08/1992 của Bộ công nghiệp nặng đổi tên nhà máy thành Công ty cao su sao vàng.
Xí nghiệp cao su số 1: chuyên sản xuất lốp xe đạp, xe máy, băng tải, gioăng cao su,
dây curoa, cao su chống ăn mòn, cao su chịu dầu, chịu nhiệt, ủng bảo hộ người lao
động…(gọi tắt là xí nghiệp tạp phẩm).
- Xí nghiệp cao su số 2: chuyên sản xuất lốp xe đạp các loại, ngoài ra còn có
phân xưởng sản xuất tanh xe đạp.
- Xí nghiệp cao su số 3: chuyên sản xuất săm lốp ôtô và lốp máy bay dân dụng.
- Xí nghiệp cao su số 4: chuyên sản xuất các loại săm xe đạp, xe máy.
- Chi nhánh cao su Thái Bình: chuyên sản xuất một số loại săm lốp xe đạp nằm ở
địa bàn tỉnh Thái Bình.
- Nhà máy Pin- cao su Xuân Hoà: có nhiệm vụ sản xuất pin khô mang nhãn hiệu
“Con Sóc”, ắc quy, điện cực chất độn hoá học và một số thiết bị nằm tại tỉnh Vĩnh Phúc.
Các đơn vị sản xuất phụ trợ: chủ yếu là các xí nghiệp cung cấp năng lượng, ánh
sáng động lực điện máy, hơi đốt cho các xí nghiệp sản xuất chính.
- Xí nghiệp năng lượng: có nhiệm vụ cung cấp hơi nén, hơi nóng và nước cho các
đơn vị sản xuất kinh doanh chính toàn công ty.
- Xí nghiệp cơ điện: có nhiệm vụ cung cấp điện máy lắp đặt, sửa chữa về điện cho
các xí nghiệp và toàn công ty.
- Phân xưởng kiến thiết và bao bì: có nhiệm vụ xây dựng và kiến thiết nội bộ sửa
chữa các tài sản cố định và làm sạch các thiết bị máy móc, sản xuất bao bì đóng gói sản
phẩm.
Ngoài các xí nghiệp sản xuất chính và phụ công ty còn có các đội vận chuyển bốc
dỡ, đội xe vận tải và dịch vụ, các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm tới tận tay người
tiêu dùng
1.1. 2. Chức năng, nhiệm vụ của công ty Cao su sao vàng.