Xin chào!!. Rất vui khi được chia sẻ tài liệu với bạn. Nguồn: TANGGIAP.VN
NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1. Phân tích chức năng của NHTW là ngân hàng phát hành. Liên hệ VN.
- Độc quyền phát hành tiền là:
• NHTW là cơ quan duy nhất được phép phát hành tiền
• Giấy bạc do NHTW phát hành vào lưu thông là phương tiện thanh
toán hợp pháp duy nhất và không hạn chế trong cả nước
- Vai trò:
• Đảm bảo cho Chính phủ kiểm soát được sự thay đổi trong phạm vi
toàn quốc
• Tạo điều kiện cho NHTW kiểm soát được khả năng mở rộng tín
dụng của các NHTM và điều chỉnh lượng tiền phát hành cho phù
hợp với nhu cầu tiền của nền kinh tế.
• Tạo sự thống nhất lưu thông tiền tệ, đảm bảo giấy bạc NH phát
hành có cơ sở kinh tế và pháp lý cao
• Thu nhập qua phát hành tiền của NHTW được sử dụng vì lợi ích
quốc gia
- Nguyên tắc phát hành tiền:
• Phát hành dựa trên cơ sở trữ kim làm đảm bảo:
Nguyên tắc này quy định khối lượng giấy bạc ngân hàng phát hành
vào lưu thông phải được đảm bảo bằng dự trữ kim loại quý hiện có
trong kho dự trữ của ngân hàng.
• Phát hành có tài sản đảm bảo:
Theo nguyên tắc này, đảm bảo duy nhất cho khối lượng tiền trong
lưu thông giờ đây là hàng hoá, thông qua các chứng khoán của
chính phủ hoặc các giấy nhận nợ được phát hành từ các doanh
nghiệp. Yêu cầu phát hành tiền dựa vào cơ sở hàng hoá nhằm duy
trì vừa đủ cho nhu cầu của nền kinh tế
- Ý nghĩa:
Đồng tiền pháp định là cơ sở tạo tiền gửi của các NH trung gian
nên các hoạt động cung ứng tiền của NHTW sẽ ảnh hưởng đến
• Là trung tâm thanh toán cho hệ thống NHTG:
Các NHTG có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua
NHTW do có tài khoản tại NHTW. Thông qua hoạt động thanh
toán bù trừ, NHTW góp phần tiết kiệm được chi phí thanh toán cho
các NHTG và cho xã hội, thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển
vốn trong hệ thống NH, kiểm soát sự biến động vốn khả dụng của
từng NHTG và có các biện pháp điều chỉnh hợp lý.
• Cung cấp tín dụng cho các NHTG:
NHTW cấp tín dụng cho các NHTG thông qua nghiệp vụ tái chiết
khấu các chứng từ có giá ngắn hạn. Mục đích của nghiệp vụ này:
Phát hành thêm tiền trung ương theo kế hoạch
Xin chào!!. Rất vui khi được chia sẻ tài liệu với bạn. Nguồn: TANGGIAP.VN
Bổ sung thêm vốn khả dụng cho các NHTG một cách
thường xuyên.
Là cứu cánh cuối cùng khi NHTG gặp khó khăn bất khả
kháng và có nguy cơ lan tỏa, ảnh hưởng nghiêm trọng tới
toàn bộ hệ thống.
• Thực hiện quản lý nhà nước đối với các NHTG.
- Liên hệ VN:
Hiện nay, NHNNVN cũng thực hiện cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân
hàng như đã nêu trên. Các NHTG cũng thực hiện mở tài khoản tiền gửi
tại NHNN với tỷ lệ DTBB năm 2012 đối với tiền đồng áp dụng chung
cho các ngân hàng là 3% tổng vốn huy động, tỷ lệ này đã được duy trì
không thay đổi suốt năm 2012…. Thêm vào đó, NHNN còn cung cấp tín
dụng cho các NHTG thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu với lãi suất tái
chiết khấu hiện này, tháng 5- 2014, là 4,5%.
3. Phân tích chức năng ngân hàng của các Chính phủ. Liên hệ VN:
NHTW có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho chính phủ, bao
gồm:
chính sách thể chế của
CP.
- NHTW chịu sự kiểm soát và
lãnh đạo của Quốc hội hoặc
Bộ Tài chính.
Ưu điểm - Tạo thuận lợi cho việc
điều hành và thực hiện
chính sách tiền tệ, kiềm
chế lạm phát bởi kiềm
chế lạm phát nếu chỉ
mình NHTW thì không
thể thực hiện được.
- Sự phối hợp giữa các
chính sách kinh tế vĩ mô,
đặc biệt giữa chính sách
tài khóa và chính sách
tiền tệ là yêu cầu bắt buộc
nhằm đạt được các mục
tiêu vĩ mô 1 cách đồng
bộ.
- Có bộ máy hành chính, 1
cơ quan nhà nước đầy
quyền lực, tạo được uy
tín, độ tin cậy.
- Giảm thất nghiệp, tạo
được công ăn việc làm,
tạo sự công bằng xã hội
thông qua việc cung cấp
hành hóa công.
- Chính phủ có thể sử dụng
nước.
- Phù hợp với yêu cầu cần
tập trung quyền lực để
khai thác tiềm năng xây
dựng kinh tế trong thời kỳ
tiền phát triển
nên: tăng tính chủ động và
giảm độ trễ của CSTT
- Có thể từ chối trong mục
tiêu thâm hụt ngân sách
- Tự chủ về tổ chức và cơ chế
tài chính, nhân sự
- Trách nhiệm giải trình đầy
đủ và minh bạch
Nhược
điểm
- Làm giảm tính độc lập
của NHTW vì CP thường
chỉ quan tâm tới các mục
tiêu ngắn hạn như tăng
trưởng kinh tế, công ăn
việc làm, trong khi đó lại
ít quan tâm tới vấn đề dài
hạn như lạm phát, ổn định
tiền tệ.
- Chính phủ lợi dụng công
cụ phát hành để bù đắp
bội chi NSNN, có thể gây
lạm phát.
- Khó có sự kết hợp hài hòa
kho tiền tại chi nhánh NHNN tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương.
Là quỹ chứa các loại tiền
được bảo quản và quản lý
tại kho tiền Sở giao dịch
NHNN và các kho tiền tại
chi nhánh NHNN tỉnh,
thành phố trực thuộc
trung ương.
Định mức Căn cứ vào diện tích kho tiền
Nhập quỹ - Tiền mới từ nhà in
- Tiền không đủ tiêu chuẩn
lưu thông, tiền đình chỉ lưu
hành thu hồi từ lưu thông
- Tiền từ quỹ DTPH tại chi
nhánh NHNN
- Tiền từ quỹ nghiệp vụ phát
hành tại SGD NHNN.
- Nhập từ quỹ dự trữ
phát hành
- Tiền thu hổi từ lưu
thông( tiền không
đủ tiêu chuẩn lưu
thông và tiền đình
chỉ lưu hành.)
Xuất quỹ - Chuyển đến quỹ DTPH tại
chi nhánh NHNN
- Đổi các loại tiền nhằm thay
đổi cơ cấu mệnh giá.
- Xuất tiền không đủ điều
+ tác dông nhtw mua ngoại hối trên thị trường ngoại hối đã đưa một lượng tiền
MB ra ngoài lưu thông. Bên cạnh mục đích phát hành tiền mặt ra ngoài lưu
thông thì nhtw còn thực hiện chính sách tỷ giá và sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối
có hiệu quả hơn.
(*) ở việt nam hiện nay phát hành tiền qua tất cả các kênh trên. Tùy từng thời
kỳ mà NHTW quyết định sử dụng kênh phát hành tiền nào cho hợp lý, tùy vào
biệc tác động nhanh hay chậm tới thị trường. chủ yếu là sử dụng kênh thị
trường mở do có hiệu quả hơn các kênh khác, tác dộng nhanh, không gây méo
mó thị trường.
(*) đánh giá khả năng kiểm soát các kênh phát hành tiền của NHTW :
- cho vay nhtm. Mỗi nhtm tùy vào quy mô hoạt động, lĩnh vực hoạt động, mà
nhtw cung cấp cho một hạn mức tín dụng riêng. Như vậy việc kiểm soát của
nhtw với kênh này là tốt. nếu nhtw muốn cho vay ít đi, chỉ việc thắt chặt các
điều kiện chiết khấu, tái chiết khấu. Ngược lại, muốn cho vay nhiêu fthif nới
lỏng các điều kiện.
Xin chào!!. Rất vui khi được chia sẻ tài liệu với bạn. Nguồn: TANGGIAP.VN
- cho vay Chính phủ: nhtw chỉ có thể cho Chính phủ vay khi thiếu hụt ngắn hạn
tạm thời và không cho vay với thiếu hụt ngân sách. Mức độ thiếu hụt như nào
lại phục thuộc vào tình hình thu chi của Chính phủ, lượng tiền MB sẽ phụ thuộc
vào mức thiếu hụt tạm thời. Nên việc kiểm soát của NHTW là k triệt để.
- Thị trường mở: kiểm soát tốt do quy định điều kiện với các giấy tờ có giá, tổ
chức tín dụng được tham gia thị trường mở,
- thị trường ngoại hối. việc mua bán ngoại hối trên thị trường ngoại hối gặp
nhiều rào cản do phải đảm bảo cân bằng dự trữ ngoại hối, tỷ giá, cung – cầu
ngoại hối
Câu 8: phân tích sự giống, khác nhau giữ quỹ dự trữ phát hành và quỹ
nghiệp vụ phát hành tiền mặt. Nêu mối quan hệ.
Giống câu 6, phần khác nhau. Giống nhau:’’ tiền nằm trong cả 2 quỹ đều chuẩn bị
được đưa ra ngoài lưu thông và đều phản ánh lượng tiền mặt đưa từ lưu thông về””
Quỹ dự trữ phát hành và quỹ nghiệp vụ phát hành tiền mặt có mối quan hệ mật
Câu 12: Phân tích điều kiện các TCTD, chi nhánh NH nước ngoài & GTCG
được tham gia nghiệp vụ CK tại NHNN. Khi TCTD, chi nhánh NH nước
ngoài vi phạm quy trình CK, NHNN xử lý ntn?
-ĐN: CK là nghiệp vụ mà NHNN mua ngắn hạn các GTCG còn thời hạn thanh
toán và đã được NHTM giao dịch trên thị trường sơ cấp hoặc mua lại trên thị
trường thứ cấp.
*Điều kiện được tham gia nghiệp vụ CK (TT 01/2012-NHNN, ban hành
16/02/2012):
A,Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tham gia nghiệp vụ
chiết khấu phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
1. Là các tổ chức tín dụng không bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.
2. Không có nợ quá hạn tại Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm đề nghị chiết khấu.
3. Có tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng Nhà nước
4. Có hồ sơ đề nghị thông báo hạn mức chiết khấu giấy tờ có giá gửi Ngân hàng
Nhà nước đúng hạn theo quy định
Xin chào!!. Rất vui khi được chia sẻ tài liệu với bạn. Nguồn: TANGGIAP.VN
5. Có giấy tờ có giá đủ điều kiện và thuộc danh mục các giấy tờ có giá được chiết
khấu tại Ngân hàng Nhà nước.
6. Trường hợp giao dịch theo phương thức gián tiếp, tổ chức tín dụng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài phải trang bị đầy đủ máy móc, thiết bị tin học,
đường truyền và kết nối với hệ thống máy chủ tại Ngân hàng Nhà nước (Sở
Giao dịch và Cục Công nghệ tin học).
B.Giấy tờ có giá được chiết khấu
Tiêu chuẩn giấy tờ có giá được chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước:
a) Được phát hành bằng đồng Việt Nam (VND);
b) Được phép chuyển nhượng;
c) Thuộc sở hữu hợp pháp của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
đề nghị chiết khấu;
d) Không phải là giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài đề nghị chiết khấu phát hành;
khấu không thực hiện đúng các quy định (Trong thời hạn tối đa 15 ngày làm việc,
kể từ ngày Ngân hàng Nhà nước có thông báo chấp nhận chiết khấu, tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đề nghị chiết khấu tiến hành các thủ tục
chuyển quyền sở hữu và giao nhận giấy tờ có giá cho Ngân hàng Nhà nước) coi
như tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã hủy bỏ đề nghị chiết
khấu 2 lần thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó sẽ không được
tiếp tục tham gia nghiệp vụ chiết khấu với Ngân hàng Nhà nước trong thời hạn 6
tháng, kể từ ngày Ngân hàng Nhà nước có thông báo chấp nhận chiết khấu đối với
đề nghị chiết khấu lần thứ 2.
Câu 13: Phân tích các nguyên tắc hoạt động TD của NHTW. Cơ sở xác định
hạn mức TD của NHNN VN.
-Đn: Hoạt động tín dụng của NHTW là viecj NHTW cung ứng tiền cho nền kinh tế
qua việc cho vay đối với các TCTD và kho bạc NN trên nguyên tắc cho vay có
hoàn trả theo quy định.
*Nguyên tắc hoạt động:
Xin chào!!. Rất vui khi được chia sẻ tài liệu với bạn. Nguồn: TANGGIAP.VN
1,Hoạt động của NHTW phải hướng đến việc thực hiện mục tiêu CSTT
trong từng thời kì.
-Vai trò của TCTD trong nền KTTT là rất to lớn và quan trọng, vai trò đó
chỉ phát huy tác dụng khi chúng ta xây dựng được một CSTCTT tích cực và
đúng đắn. CS đó khẳng định được việc NN sử dụng TCTT như là các công
cụ để phát triển nền kinh tế và đồng thời thông qua TCTT để giám sát các
hoạt động KT theo mục tiêu năng suất và hiêu quả.
-Hoạt động tín dụng của NHTW phải hướng đến việc thực hiện mục tiêu của
CSTT , nghĩa là khẳng định tính nhất quán trong Phương thức hoạt động TD
của NHTW đồng thời khẳng định lợi ích của hđ đó không ngoài lợi ích
chung của XH.
-Trong một giai đoạn nhất định, CSTT có thể được hoạch định theo 2 hướng:
+CSTT mở rộng nhằm chống suy thoái kinh tế và thất nghiệp: NHTW thực
hiện mở rộng hoạt động TD bằng cách cắt giảm lãi suất TCV và tăng
-Đn: Hoạt động tín dụng của NHTW là viecj NHTW cung ứng tiền cho nền kinh tế
qua việc cho vay đối với các TCTD và kho bạc NN trên nguyên tắc cho vay có
hoàn trả theo quy định.
*Mục đích:
1, Bổ sung vốn khả dụng cho các NHTM và TCTD trong quá trình hoạt động nhằm
tăng khả năng cho vay của các ngân hàng đối với nền KT hoặc giúp các TCTD
đảm bảo khả năng thanh toán nhằm duy trì sự ổn định và an toàn cho cả hệ thống
ngân hàng. Đây là mục tiêu hàng đầu trong hoạt động của NHTW vì NHTM và
TCTD có vai trò to lớn trong nền kinh tế, mọi hoạt động của NHTM và TCTD đều
có tác động và ảnh hưởng tới nền kinh tế.
Xin chào!!. Rất vui khi được chia sẻ tài liệu với bạn. Nguồn: TANGGIAP.VN
2, Điều chỉnh nhịp độ phát triển của nền KT cả về quy mô và cơ cấu, qua đó thúc
đẩy tăng trưởng KT bền vững.
Hoạt động TD của NHTW không đơn thuần chỉ là bổ sung nguồn vốn ngắn hạn
cho các NHTM mà qua đó còn mở rộng tín dụng cho nền KT nhờ sự ổn định tăng
trưởng bền vững. Đây chính là mục tiêu cao nhất cần đạt được, mọi hệ thống của
NH quốc gia đều hướng đến mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng và ổn định vĩ mô nền
KT.
Với tầm vĩ mô, bao quát toàn bộ nền kinh tế, NHTW có thể nhìn nhận và
đánh giá sự phát triển của các ngành, cac lĩnh vực, cacvùng lãnh thổ và các
thành phần KT, từ đó điều chỉnh những bất cập thông qua hoạt động TD,
NHTW tác động đến vốn khả dụng của từng loại hình NH, tác động đến khả
năng cho vay của từng NH đối với nền KT, từ đó tác động đến sự phát triển
của từng ngành và sự phát triển chung của nền KT.
3. Điều chỉnh các điều kiện tiền tệ theo mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời
kỳ. Vì thế nên mức độ cấp TD, thời điểm cấp TD và lãi suất tD đều bị cho phối bởi
mục tiêu của CSTT mà không nhằm mục đích lợi nhuận.
4, Thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng. Thông qua hoạt động này NHTW
tác động tới các NH nhằm điều chỉnh các cân đối trong quá trình huy động vốn và
cho vay.
1.3. Cách xử lí thu hồi nợ bắt buộc.
- Trích tài khoản tiền gửi của tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước để thu
nợ;
- Thu nợ gốc và lãi từ các nguồn khác (nếu có) của tổ chức tín dụng;
- Trường hợp sau khi đã trích tài khoản tiền gửi để thu nợ gốc và lãi và thu nợ
từ các nguồn khác của tổ chức tín dụng nhưng vẫn không đủ để thu hồi hết
nợ, Ngân hàng Nhà nước sẽ chuyển phần nợ còn lại sang nợ quá hạn và áp
dụng lãi suất quá hạn. Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục trích tài khoản tiền
gửi để thu nợ hoặc có thể bán hoặc thanh toán với người phát hành các giấy
tờ có giá cầm cố trên thị trường tiền tệ để thu hồi nợ gốc và lãi quá hạn của
tổ chức tín dụng vay.
Câu 16: phân tích hoạt động quản lí ngoại hối của NHTW; quản lí tỷ giá của
NHNH Việt Nam đến 1/2011?
1. Hoạt động quản lý ngoại hối cuẩ NHTW
1.1. Chính sách quản lí ngoại hối
Xin chào!!. Rất vui khi được chia sẻ tài liệu với bạn. Nguồn: TANGGIAP.VN
Nhằm mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền quốc gia, tạo sự cân bằng trong cán
cân thanh toán và tăng dự trữ ngoại hối. chính sách này bao gồm những nội
dung:
- Hệ thống quy định với các giao dịch vãng lai giẵ người cư trú và người
không cư trú.
- Hệ thống quy định đối với các giao dich vốn; quản lí đầu tư trực tiếp, đầu tư
gián tiếp các chứng từ có giá
- Hệ thống các quy định về hoạt động ngoại hối cuẩ các TCTD gồm: cấp phép
hoạt động ngoai hối, điều kiện, phạm vi hoạt động của ngoại hối…
- Hệ thống các quy định quản lí vàng dự trữ quốc tế
- Các quy định về cơ chế tỷ giá cũng như nguyên tắc xác định công bố tỷ giá
1.2. Chính sách tỷ giá
NHTW sẽ xây dựng chính sách tỷ giá nhằm sử dụng chính sách tỷ giá một cách
hiệu quả cho mục tiêu kinh tế vĩ mô. Để xây dựng chính sách này NHTW cần
như ngược lại với xu hướng mất giá chung của USD trên thị trường thế giới.
Linh hoạt tỷ giá, ngày càng trở thành phương châm hành xử phổ biến trong
chính sách tỷ giá của hơn ¾ số nước trên thế giới hiện nay.
- Trong một thời gian ngắn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên
tục có 2 lần thay đổi mạnh tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ.
Lần thay đổi thứ nhất vào ngày 26/11/2009, tỷ lệ phá giá là 5,44%, đồng thời
NHNN thu hẹp biên độ biên độ giao động của tỷ giá từ 5% xuống 3%. Lần
thay đổi thứ hai, chỉ cách lần thứ nhất chưa đầy 2 tháng, vào ngày 11/2/2010
tỷ giá VND/USD tăng thêm 3,36%.
Câu 17: phân tích ý nghĩa của việc tổ chức thanh toán giữa các ngân hàng
thông qua NHNH?
- Thúc đẩy sự vận động về vốn giữa các NHTM, phát huy vai trò thanh toán
của NHTM trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự chu chuyển vốn giữa các
DN,TCKT, cá nhân. Điều này được minh chứng thông qua việc NHNH sữ
thực hiện các nghiệp vụ thanh toán của mình như thanh toán từng lần hoặc
thanh toán bù trừ, như vậy sẽ làm cho số dư tài khoản của các NHTM có tài
khoản tại NHTW sẽ thay đổi tùy vào mức đô giao dịch của từng ngân hàng,
như vậy làm cho lượng vốn của các NHTM luân chuyển nhanh hơn.
- Giúp quá trình thanh toán nhanh chóng, chính xác hơn bởi vì NHNH sẽ là
người tính toán và thanh toán các NH với nhau, học không cần phải gặp
nhau để giao dich mà việc này NHNH sẽ làm hộ cho các NHTM. Đồng thời
nó cũng đảm bảo được yêu cầu vốn của nền kinh tế.
- Tạo nguồn vốn tín dụng cho NHTW và điều kiện cho thị trường tiền tệ phát
triển
- Tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt, giảm chi phí lưu thông, giảm
áp lực tiền mặt, giảm chi phí lưu thông, giúp NHTW xác định và điều tiết
Xin chào!!. Rất vui khi được chia sẻ tài liệu với bạn. Nguồn: TANGGIAP.VN
MB,MS chính xác. Ở góc độ NHTW, việc hạn chế giao dịch tiền mặt trong
lưu thông sẽ giúp cơ quan quản lý kiểm soát được cung tiền, theo đó kiểm
soát được lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Còn đứng dưới góc độ xã hội, nếu
vai trò là công cụ điều hành chính sách tiền tệ, giúp NHTƯ kiểm soát hệ số nh
ân tiền và trên cơ sở đó kiểm soát khối lượng tiền cung ứng, do đó, tuỳ vào mục
tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ mà tỷ lệ dự
trữ bắt buộc trong quy định khác nhau. Điều này được chứng minh rất
rõ ở nước ta trong thời gian qua:
Ở nước ta, để ngăn ngừa sự tăng trưởng tín dụng quá nóng nhằm kiểm soát lạm
phát, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã được điều chỉnh khá
mạnh vào năm 2007 (từ 5% lên 10%) và năm 2008 khi tình hình dần bình ổn tr
ở lại, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã được điều giảm dần một cách
linh hoạttừ tháng 01/2008-01/2011 đến nay, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được điề
u chỉnh giảm, việc điều chỉnh này của NHNN, một mặt, nhằm đưa ra tín hiệu n
ới lỏng tiền tệ; mặt khác, thông qua việc nâng
cao hệ số nhân tiền chính thức mở rộng khả năng cho vay, kích thích
các ngân hàng thương mại đẩy mạnh hoạt động tín dụng,tích cực cung ứng vốn
cho nền kinh tế.
Ngày 9/4/2011: NHNN tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ,
NHNN đã ban hành Quyết định số 750/QĐNHNN điều chỉnh tỷ lệ dự
trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng tăng thêm 2
điểm phần trăm và sẽ có hiệu lực bắt đầu từ tháng 5.
tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ sẽ khiến cho các
ngân hàng phải tính toán, cân nhắc việc giảm lãi suất huy động, đồng
thời tăng lãi suất cho vay ngoại tệ để bù đắp phần vốn huy động phải
dự trữ bắt buộc. Khi lãi suất huy động ngoại tệ giảm, người dân sẽ
chuyển sang gửi tiền đồng từ đó giảm tình trạng găm giữ USD, tăng
cung ngoại tệ cho thị trường. Đồng thời các doanh nghiệp cũng giảm
vay ngoại tệ do lãi suất cho vay tăng lên.
Xin chào!!. Rất vui khi được chia sẻ tài liệu với bạn. Nguồn: TANGGIAP.VN
Như vậy,công cụ dự trữ bắt buộc ngày càng hoàn thiện và trở thành công cụ
đắc lực của NHNN Việt Nam trong điều hành chính sách tiền tệ.Tuy
nhiên,DTBB là công cụ mạnh nhưng cũng thiếu linh hoạt với những điểm hạn
hàng của CC DTBB.
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức tín dụng phải giữ lại, mà không được
dùng để cho vay hoặc đầu tư, mức dự trữ này do ngân hàng trung ương quy định
và bằng một tỷ lệ nhất định so với tổng số tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức
tín dụng. NHTW quy định số dư tiền gửi DTBB phải luôn > 0, bình quân tháng
phải đảm bảo quy định của NHTW. Do vậy, trong các ngày trong tháng, NHTM có
thể sử dụng số tiền này để đem cho vay trên thị trường liên ngân hàng thu lợi
nhuận, do vậy, đã tăng cung trên thị trường liên ngân hàng, có tác động bình ổn lãi
suất qua đêm
Chức năng bình ổn lãi suất của DTBB được thực hiện qua lượng dự phong trung
bình. Để đáp ưng nhu cầu dự trữ bắt buộc theo phương pháp bình quân, các ngân
hàng sẽ lập được mức dự trữ phù hợp dưới hình thức mức dự phòng trung bình.
Mức dự trư này sẽ được quyết định trên cơ sở mức dự trữ trung bình hàng ngày
của một ngân hàng và được lập cho thời hạn 1 tháng, 1 tuần, 2 tuần… Các ngân
hàng có thể lập dự trữ trước hoặc sau tùy theo ngân quỹ, tùy theo mức độ chi phí
tiền gửi qua ngày và tùy theo dự báo tăng hay giảm lãi suất trên thị trường tiền tệ.
Mức dự phòng cho phép các ngân hàng có thể điều hoa được biến động về vốn khả
dụng. Sự thiếu cân bằng tức thời về nhu cầu tiền mặt cho chi trả có thề được các
ngân hàng bù đắp bằng một lượng trong phần dự phòng ngay trong kì duy trì mà
ko cần phải đi vay, giảm áp lực với lãi suất thị trường
Ngoài ra, mỗi khi lãi suất rất ngắn trên thị trường tiền tệ tăng nhiều hơn dự tính thì
các ngân hàng có thể kiếm lời bằng cách cho vay, qua dó cũng thêm vốn khả dụng
cho thì trường dự trữ cho thanh toán khi có thiếu hụt và lượng dự phòng trung bình
sẽ bù đắp cho số thiếu hụt này. Ngược lại, các Nh có thể vay trên thị trường và làm
cho dự trữ của mình thêm dồi dào. Về mặt lý thuyết, kinh doanh chênh lệch theo
thời gian có thể đảm bảo sự cân bằng trong suốt kì duy trì giữa mức lãi suất rất
ngăn hiện hành và mức dự kiến trên thị trương tiền tệ cho đến cuối kì duy trì. Đó
chính là cơ chế ổn định lãi suất qua đêm trong suốt kì duy trì và vì thế ngân hàng
trung uong không cần can thiệp thường xuyên vào thị trường tiền tệ. Trong cả kì
Xin chào!!. Rất vui khi được chia sẻ tài liệu với bạn. Nguồn: TANGGIAP.VN
cụ chính sách tiền tệ sẽ cao hơn so với PP nối tiếp
Hiện nay Việt Nam đang áp dụng phương pháp nối tiếp đó là kỳ duy trì và kỳ
dự trữ nối tiếp nhau để quản lý dự trữ bắt buộc. Theo Quyết định 581/2003/QĐ-
NHNN quy định:
- Kỳ xác định dự trữ bắt buộc là khoảng thời gian của tháng trước kể từ ngày 01 đầu
tháng đến hết ngày cuối cùng của tháng.
- Kỳ duy trì dự trữ bắt buộc là khoảng thời gian của tháng hiện hành kể từ ngày 01
đầu tháng đến hết ngày cuối cùng của tháng
Diễn biến tỷ lệ DTBB của Việt Nam từ 2008 đến nay
Tỷ lệ DTBB đối với VND từ năm 2008 được điều chỉnh giảm và từ 2009 đến
nay thì tỷ lệ đó không thay đổi. Từ năm 2008 điều chỉnh giảm cho thấy một dấu
hiệu khả quan của nền kinh tế nên NHTW đã thực hiện nói lỏng tiền tệ, kích thích
các ngân hàng đẩy mạnh hoạt động tín dụng, tích cực cung ứng vốn cho nền kinh
tế. Từ năm 2009 thì NHTW không thay đổi tỷ lệ DTBB vì: Nền kinh tế khá ổn
định, lạm phát được kiểm soát ở mức 1 con số (6,88% thay vì 19.88% năm 2008).
Hơn nữa giai đoạn 2009-2012 là giai đoạn nhạy cảm mà công cụ DTBB lại tác
động mạnh vào lượng cung tiền trong lưu thông theo cấp số nhân nên NHTW đã sử
dụng các công cụ khác như lãi suất, nghệp vụ thị trường mở lãi suất đang ở mức
cao nếu tăng tỷ lệ DTBB thì tăng chi phí đầu vòa của nguồn vốn cho vay làm tăng
lãi suất cho vay của cá TCTD. Hơn nữa trong thời gian qua thì hệ thống NHTM
thiếu tính thanh khoản nếu tăng tỷ lệ DTBB thì nền kinh tế sẽ lại gặp khó khăn. Mà
Xin chào!!. Rất vui khi được chia sẻ tài liệu với bạn. Nguồn: TANGGIAP.VN
thay vào đó NHNN đã tăng lãi suất tiền gửi DTBB để bù đắp chi phí huy động
vốn, đảm bảo khả năng thanh toán cho hệ thống NHTM.
Đối với ngoại tệ: 9/4/2011 NHNN tăng tỷ lệ DTBB đối với ngoại tệ để giảm
sức hấp dẫn của ngoại tệ vì khi đó các ngân hàng sẽ phải giảm lãi suất huy động
đồng thời tăng lãi suất cho vay để bù đắp phần vốn phải DTBB làm cho người dân
không còn thấy hấp dẫn vad sẽ chuyển sang gửi VND, giảm tình trạng găm giữ
ngoại tệ, chống tình trạng đô la hóa.
22. Phân tích nguyên nhân thay đổi của tỷ lệ DTBB quá cao của NHNN Việt
cuối năm mà có thể cả trong năm 2011.
• Cụ thể
Ngày 1/6/2011, NHNN đã chính thức điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc b
ằng
ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng, với mức cao nhất là 7% trên tổng số dư tiền g
ửi nhằm 2 mục đích là:
a) Đảm bảo khả năng thanh toán
Vì lạm phát cao nên người dân sẽ có xu hướng đầu tư vào các công cụ tài chính
khác có khả năng sinh lời cao hơn trên thị trường tài chính (cổ phiếu, trái phiếu,
ngoại tệ) thay vì gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng vì vậy khả năng ngân hàng mất
khả năng thanh toán trong giai đoạn này là khá cao. Trong nhiều năm trở lại đây,
Ngân hàng nhà nước (NHNN) kiên trì chính sách ổn định đồng tiền Việt Nam so
với đồng đô la Mỹ. Diễn biến tỷ giá trong năm 2010 là khá phức tạp. Cuối năm tỷ
giá càng biến động và mất giá mạnh, thị trường ngoại hối luôn có biểu hiện căng
thẳng. Những bất ổn về tỷ giá có nguyên nhân sâu xa từ những bất ổn về kinh tế vĩ
mô đó là bội chi cao, nhập siêu lớn và hiệu quả đầu tư công thấp… làm cho cầu
ngoại tệ luôn lớn hơn cung ngoại tệ. Nên tăng dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ là rất
cần thiết để điều tiết thị trương.
Theo đó, tỷ lệ DTBB đối cới tiền gửi dưới 12 tháng bằng ngoại tệ áp dụng cho
tất cả các ngân hàng là từ % đến 6% và đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng là
từ 3-4%. Những động thái này sẽ là giảm sức hút với đông ngoại tệ so với đồng nội
tệ do lãi suất tiết kiệm bằng ngoại tệ sẽ bị giảm xuống.