LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay ,nền kinh tế của toàn thế giới có nhiều sự thay đổi ,các quố
gia dần chuyển mình để hoà nhập với xu thế toàn cầu hoá .Cùng với sự phát
triểncủa nền kinh tế có nhiều vấn đề bất cập xảy ra .Một trong những vấn đề
luôn song hành với nền kinh tế đặc biệt là với thị trường tài chính tiền tệ là
lạm phát .Lạm phát là một trong những vấn đề kinh tế vĩ mô đã trở thành
mối quan tâm lớn nhất của các nhà chính trị và của cả công chúng .Lạm phát
được coi như là một căn bệnh thế kỉ của nền kinh tế thị trường ,nó là một
vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ
mới có thẻe đạt được kết quả khả quan nhất .Lạm phát ảnh hưởng đến toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là giới lao động,chống lạm phát không chỉ
là việc của doanh nghiệp ,của một cá nhân mà còn là nhiệm vụ của chính
phủ.
Ở Việt Nam,hiện nay về việc kiềm chế lạm phát, giữ vững sự phát
triển ổn định của nền kinh tế là một mục tiêu quan trọng trong việc phát
triển kinh tế xã hội ,nâng cao đời sống nhân dân .
Thật vậy ,vấn đề lạm phát đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu
và cũng đưa ra phương pháp khắc phục nhằm kiểm soát được lạm phát. Từ
lâu ,tiền giấy xuất hiện và sau một thời gian sẽ diễn ra tình trạng giảm giá
tiền và dẫn đến lạm phát .Nét đặc trưng cơ bản nền kinh tế thị trường khi có
lạm phát là giá cả của hầu hết các hàng hoá đêù tăng cao và sức mua của
đồng tiền ngày càng giảm nhanh .
Nhìn lại lịch sử lạm phát, từ cuối thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20 ở nước
ta lạm phát diễn ra kéo dài và nghiêm trọng .Lạm phát đã phá vỡ toàn bộ kế
hoạch của nền kinh tế ,phương hại đến tất cả các mối quan hệ trong nền kinh
tế xã hội .
1
1
PHẦN I :LÝ THUYẾT CHUNG VỀ LẠM PHÁT
1- CÁC KHÁI NIỆM VỀ LẠM PHÁT :
Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường ,nó xuất
- Một định nghĩa nữa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đưa
ra và nó đựoc sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường :”Lạm
phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian“.
- Lạm phát được đo bằng chỉ số giá cả :
+ Chỉ số giá cả được sử dụng rộng rãi nhất là chỉ số giá cả hàng tiêu
dùng CPI (Consumer Price Index) .CPI tính chi phí của một giỏ hàng tiêu
dùng và dịch vụ trên thị trường .Để tính CPI ,ta dựa vào tỷ trọng của phần
chi cho từng mặt hàng trong tổng chi tiêu cho tiêu dùng của thời kì có lạm
phát .
+ Một chỉ số nữa thường được sử dụng là chỉ số giá cả sản xuất (PPI:
Producer Price Index) ,đây là chỉ số giá bán buôn .PPI dùng để tính giá cả
trong lần bán đầu tiên do người sản xuất ấn định
Ip = ∑ip.d
ip:chỉ số giá của từng loại nhóm hàng
d:tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng
+ Ngoài 2 chỉ số trên ,chỉ số GNP cũng được sử dụng .Đây chính là
chỉ số giảm phát ,chỉ số giá cả cho toàn bộ NGP :chỉ số giảm phát GNP =
GDP danh nghĩa / GDP thực tế.
2) PHÂN LOẠI LẠM PHÁT :
Có nhiều cách đẻ phân loại lạm phát .Dựa trên các tiêu thức khác
nhau sẽ có các loại lạm phát khác nhau .
a) Căn cứ vào định lượng gồm:
- Lạm phát vừa phải :Còn gọi là lạm phát một con số ,có tỷ lệ lạm
phát dưới 10% một năm .Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương
đối. Trong thời kì này nền kinh tế hoạt động một cách bình thường ,đời sống
của người lao động ổn định .Sự ổn định đó được biểu hiện : Giá cả tăng
3
3
chậm ,lãi xuất tiền gửi không cao ,không xảy ra tình trạng mua bán và tích
trữ hàng hoá với số lượng lớn …
doanh nghiệp .Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của
người lao động và dến nền kinh tế nói chung.
* Lạm phát không cân bằng :Tăng không tương ứng với thu nhập của
người lao động.Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra .
-Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường
* Lạm phát dự đoán trước : là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong
một thời kì tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn .Loại lạm phát
này có thể dự đoán trước được tỷ lệ của nó trong các năm tiếp theo.Về mặt
tâm lý ,người dân đã quen với tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị
trước.Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống ,đến kinh tế .
* Lạm phát bất thường: xảy ra đột biến mà có thể từ trước chưa xuất
hiện .Loại lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý ,đời sống người dân vì họ
chưa kịp thích nghi .Từ đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với
nền kinh tế và niềm tin của nhân dân vào chính quyền có phần giảm sút
Trong thực tế lịch sử của lạm phát cho thấy lạm phát ở nước ta đang
phát triển thường diễn ra trong thời gian dài ,vì vậy hậu quả của nó phức tạp
và trầm trọng hơn .Và các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại với tỷ lệ
khác nhau : lạm phát kinh liên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới
50% một năm ,lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài hơn 3 năm với tỷ lệ
lạm phát trên 50% và siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát
trên 200% một năm .
3. TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT :
Lạm phát có nhiều loại,cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hưởng của
lạm phát đối với nền kinh tế .Xét trên góc độ tương quan ,trong một nền
kinh tế lạm phát là một nỗi lo của toàn xã hội và ta cũng thấy được các tác
động của nó .
a) Tác động đến lĩnh vực sản xuất :
5
5
Ở vị trí các nhà sản xuất ,khi tỷ lệ lạm phát cao sẽ làm cho giá đầu
nhàn rỗi trong tay.Như vậy ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động
vốn ,hệ thống ngân hàng phải luôn cố gắng duy trì mứclãi suất ổn định .Mà
lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát ,khi tỷ lệ lạm phát tăng
cao ,muốn lãi suất thực ổn định thì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên cùng
với tỷ lệ lạm phát .
Trong khi đó người đi vay là những người có lợi lớn nhờ sự mất giá
đồng tiền nhanh chóng .Do vậy hoạt động của hệ thống Ngân hàng không
còn bình thường nữa. Chức năng kinh doanh tiềntệ bị hạn chế, không
cònnguyên vẹn bởi khi có lạm phátthì chẳng có ai tích trữ tiền mặt dưới hình
thức tiền mặt.
d) Tác động đến cán cân ngân sách – chính sách tài chính của nhà
nước :
Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hoá,
khi lạm phát xảy ra thì những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến động
của giá cả và làm cho thị trường bị rối loạn. Khi đó người ta khó phân biệt
được những doanh nghiệp làm ăn tốt và kém. Đồng thời làm cho nhà nước
thiếu vốn, các khoản thu cho ngân sách nhà nước không tăng. Do đó, nhà
nước không còn đủ sức cung cấp tiền cho các khoản dành cho phúc lợi xã
hội, các nghành, các lĩnh vực dự định được chính phủ đầu tư hỗ trợ vốn bị
thu hẹp lại hoặc không có gì. Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì
các mục tiêu cải thiện và nâng cao đời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều
kiện để thực hiện.
4. NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT :
a) Lạm phát do cầu kéo :
Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung – cầu. Nguyên nhân
chính là do tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc
tăng không kịp.
Việc tăng cung ứng tiền tệ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tăng
cầu về hàng hoá và dịch vụ. Nhưng đây không phải là nguyên nhân duy nhất
7 2 Lúc đầu nền kinh tế đạt ở mức cân bằng tại điểm 1 .Khi các nhà hoạch
định chính sách muốn có một tỷ lệ thất nghiệp dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự
nhiên , họ sẽ đưa ra những biện pháp nhằm đạt được chỉ tiêu sản lượng lớn
hơn mức sản lượng tiềm năng (Yt > Yn).Từ đó sẽ làm tăng tổng cầu và
đường tổng cầu sẽ dịch chuyển đến AD2 nền kinh tế chuyển đến điểm 1’
.Lúc này sản lượng đã đạt tới mức Yt lớn hơn sản lượng tiềm năng và mục
tiêu của các nhà hoạch định chính sách đã thực hiện được .
Tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp thực tế thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
nên tiền lương tăng và đường tổng cung sẽ di chuyển đến AS2 ,đưa nền kinh
tế từ điểm 1’ sang 2’ .Nền kinh tế quay trở về mức sản lượng tiềm năng và
tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nhưng ở một mức giá cả P2 > P1 .Lúc này tỷ lệ
thất nghiệp lại cao hơn mục tiêu ban đầu .Do đó các nhà hoạch định chính
8
8
sách lại tìm cách làm tăng tổng cầu .Quá trình này cứ tiếp diễn và đẩy giá cả
trong nền kinh tế lên cao hơn .
b) Lạm phát do chi phí đẩy :
Hình thức của lạm phát do chi phí đẩy phat sinh từ phía cung ,do chi
phí sản xuất cao hơn đã được chuyển sang người tiêu dùng .Điều này chỉ có
thể đạt trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng sẵn sàng trả
công suất ,nguồn nguyên nhiên vật liệu được khai thác tối đa .Khi đó lực
lượng lao động được sử dụng một cách triệt để và làm sản lượng tăng lên rất
nhiều.Tuy nhiên tình hình sẽ dẫn đến một vài kênh tắc nghẽn trong lưu
thông .Chẳng hạn khi các nhà máy ,xí nghiệp hoạt động hết công suất sẽ dẫn
đến thiếu năng lượng ,thiếu lao động ,nguyên vật liệu dần bị han hiếm …
Vai trò của chính phủ và các nhà quản lý phải xác định được kênh lưu thông
nào bị tắc nghẽn và tìm cách khơi thông nó .Nếu không sẽ gây ra lạm
phát.Lúc đó sản lượng không tăng mà giá cả tăng nhiều thì lạm phát tất yếu
sẽ xảy ra .
Trong việc chống lạm phát các Ngân hàng trung ương luôn giảm sút
việc cung tiền .
Trường hợp tăng cung tiền có thể đạt được bằng hai cách :
Ngân hàng trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi xuất thấp và điều
kiện kinh doanh tốt ) hợac các ngân hàng thương mại có thẻ tăng tín dụng
.Trong cả hai trường hợp sẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư và chi
phí .Về mặt trung và dài hạn ,điều đó dẫn đến cầu và hàng hoá và dịch vụ
tăng .Nếu cung không tăng tương ứng với cầu thì việc dư cầu sẽ được bù
đắp bằng việc tăng giá.Tuy nhiên giá cả sẽ không tăng ngay nhưng nó sẽ
tăng sau đó 2-3 năm .In tiền để trợ cấp cho chi tiêu công cộng sẽ dẫn đến
lạm phát nghiêm trọng .Ví dụ năm 1966-1967 ,chính phủ Mỹ đã sử dụng
việc tăng tiền để trả cho những chi phí leo thang của cuộc chiến tranh taị
Việt Nam ,lạm phát tăng từ 3%(năm 1967) đến 6% (năm 1970).
Xét trong dài hạn lãi xuất thực tế (i) và sản lượng thực tế (Y) đạt mức cân
bằng ,nghĩa là (i) và (Y) ổn định .Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P
10
10
cũng không đổi .Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ
tăng lên với tỷ lệ tương ứng .Vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ .Đây
cũng chính là lý do tại sao Ngân hàng Trung ương rất chú trọng đến nguyên
nhân này.
Tóm lại , nếu như thâm hụt ngân sách kéo dài thì trong mọi trường
hợp vẫn làm tăng cung tiền và lạm phát xảy ra là một điều chắc chắn.
Một nguyên nhân nữa có thể gây ra lạm phát là tỷ giá hối đoái .Khi tỷ
giá tăng đồng bản tệ sẽ bị mất giá Khi đó tâm lý những người sản xuất trong
nước muốn đẩy giá hàng lên tương ứng với mức tăng tỷ giá hối đoái .Mặt
khac khi tỷ giá hối đoái tăng ,chi phí cho các nguyên vật liệu ,hàng hoá nhập
khẩu sẽ tăng lên .Do đó giá cả của các hàng hoá này tăng lên cao.Đây chính
là lạm phát do chi phí đẩy
Bên cạnh đó các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà
nước ,chính sách thuế ,chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý ,mất cân đối
cũng xảy ra lạm phát.
5. BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LẠM PHÁT
Khi lạm phát tăng cao và kéo dài sẽ gây ra những hậu quả lớn ,ảnh
hưởng trầm trọng đến đời sống nhân dân lao động và sự tăng trưởng kinh tế.
Ở mỗi nước tỷ lệ lạm phát khác nhau với những nguyên nhân và tác động
khác nhau .Do đó chính phủ ở các nước sẽ có những biện pháp khác nhau .
Tuỳ vào từng hoàn cảnh cụ thể chính phủ sẽ áp dụng biện pháp tình thế và
các biện pháp có tính chiến lược .
Từ lịch sử chống lạm phát ở các nước sẽ có những biện pháp điển
hình sau:
- Những biện pháp tình thế: là những biện pháp áp dụng nhằm làm
giảm tức thời cơn sốt lạm phát
Đầu tiên biện pháp tình thế mà các nước thường áp dụng là giảm
lượng tiền cung ứng trong lưu thông .Đây được gọi là biện pháp thắt chặt
lượng cung tiền tệ hay còn gọi là đóng bảng tiền tệ .Cụ thể là Ngân hàng
trung ương ngừng thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu đối
12
12
với các tổ chức tín dụng ,dừng việc mua vào các chứng khoán ngắn hạn trên
thị trường tiền tệ ,không phát hành tiền đề bù đắp bội chi ngân sách nhà
điều hành Ngân sách nhà nước dựa trên việc tăng các khoản thu cho Ngân
sách một cách hợp lý chống thất thu như thất thu về thuế và điều chỉnh các
khoản chi p
PHẦN II
THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
1. THỰC TRẠNG VÀ LỊCH SỬ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM.
Từ năm 1980 trở về trước, lạm phát cũng đã tồn tại của nó không
công khai, các nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam không sử dụng khái
niệm lạm phát mà chỉ sử dụng cụm từ “ chênh lệch giữa thu và chi giữa
hàng và tiền" "Thị trường vật giá không ổn định…”
Sau một thời gian, lạm phát đã bộc phát công khai với mức bộc phát
phi mã. Đảng đã kịp thời nhận định tình hình này.
“ Chúng ta chưa có chính sách cơ bản về tài chính gắn liền với chính
sách đúng đắn về giá cả, tiền tệ, tín dụng. Các khoản chi ngân sách mang
nặng tính bao cấp và một thời gian dài vượt quá nguồn thu. Việc sử dụng
vốn vay và viện trợ kém hiệu quả. Tất cả những cái đó gây ra thâm hụt ngân
sách là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thâm hụt ngân sách trầm trọng “.
Trong điều hành vĩ mô phát triển nền kinh tế, mọi quốc gia trên thế giới
đều phải quan tâm tới chính sách tài chính, tiền tệ để chống lạm phát. Đối
với nước ta hiện nay, kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả đang là một vấn đề
lớn đặt ra trong điều hành của chính phủ, của các nhà quản lý vì sự phát
triển và ổn định. Và về phương diện này, Việt Nam đã thành công. Lạm phát
đã giảm từ hơn 70% một năm vào năm 1986 xuống còn 35% một năm vào
năm 1989. Đây là một thành công lớn, phản ánh kết quả từ nhiều yếu tố như
tự do hoá nền kinh tế, áp dụng một tỷ giá hối đoái thực tế hơn, ngươi dân
không còn tồn trữ hàng hoá, vàng và đô la bắt đầu tích luỹ bằng đồng tiền
trong nước, xuất khẩu dàu thô ngày càng tăng…Tuy nhiên, những tiến bộ
14
14
vượt bậc trong năm 1989 đã không được củng cố ngay bằng các chính sách
XHCN anh em nên chúng ta đã hạn chế được lạm phát trong thời gian này.
- Thời kỳ 1976 đến nay : sau khi thống nhất đất nước, chúng ta thiếu
nhiều kinh nghiệm trong thời bình nên duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp toàn diện, không mở rộng sản xuất. XHCN không tiến hành
hạch toán kinh doanh nên đã tự gây cho mình nhiều khó khăn, sản xuất
không đủ tiêu dùng, ngân sách không đủ chi tiêu, lạm phát tiền giấy liên tục
và bùng nổ dữ dội với tỷ lệ lên tới 3 con số. Nhưng kể từ năm 1999 đến nay,
với sự chỉ đạo đúng đắn của Nhà nước thì lạm phát hiện nay chỉ dừng ở mức
độ tưong đối tốt cho sự phát triển nền kinh tế (15-17%). Có thể nói, đây là
một thành công không nhỏ của đất nước ta.
2. ĐẶC TRƯNG CỦA LẠM PHÁT Ở NƯỚC TA.
Lạm phát ở Việt Nam cũng có những biểu hiện chung giống với lạm
phát ở các quốc gia khác như : chỉ số giá cả nói chung tăng phổ biến do vậy
giá trị của đồng tiền giảm. Song lạm phát ở Việt Nam có đặc trưng riêng do
điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể.
- Lạm phát của một nền kinh tế kém phát triển trong đó khu vực kinh
tế nhà nước có địa vị thống trị. Khu vực kinh tế nhà nước ở Việt Nam chiếm
1 tỷ trọng lớn hiếm có trên thế giới. Thế nhưng, khu vực với số vốn đầu tư
lớn và tỷ lệ chất xám cao này lại chỉ có thể làm ra từ 30%-37% tổng sản
phẩm xã hội. Các xí nghiệp quốc doanh nhìn chung nộp cho ngân sách nhà
nước một số tiền rất thấp so với số tiền nhà nước cung cấp để bù lỗ, bù giá,
cấp phát tín dụng, lãi xuất thấp. Ngược lại, khu vực tư nhân làm ăn có hiệu
quả và đóng góp một phần quan trọng trong ngân sách nhà nước. Chính
những hoạt động của các hãng kinh tế nhà nước với lãi giả lỗ thật đã làm
cho thị trường hônx loạn, lỗ lãi khó kiểm tra, từ đó hiệu quả kinh doanh
giảm sút. Do vậy mà công tác giảm sút của nhà nước không có hiệu quả dẫn
đến thu không đủ bù chi và lạm phát xảy ra.
16
16
- Lạm phát của một nền kinh tế độc quyền mà nhà nước có địa vị thốn
sự mất cân đối giữa cung và cầu, thu với chi ngân sách thể hiện nền kinh tế
kém hiệu quả, các xí nghiệp làm ăn thua lỗ…Đó là những nguyên nhân dẫn
đến lạm phát phi mã.
- Thứ hai : do sự điều hành sai lầm của bộ máy nhà nước, như xác
định cơ cấu không xuất phát từ hiệu quả. Sự đổi tiền và tăng giá năm 1985
là chính sách phá giá đồng tiền, làm giảm niềm tin của dân vào đồng tiền
của nhà nước, chính sách lãi xuất thấp so với mức trượt giá làm cho người
dân không muốn gửi tiết kiệm. Sự mất cân đối tài chính gây lạm phát qua
kênh tín dụng, ngân hàng nhà nước luôn phải phát hành tiền để cân đối các
nguồn vốn cho vay của ngân hàng, đáp ứng yêu cầu của các nghành kinh tế
và xây dựng cơ bản ngày càng tăng. Nhà nước lại không chủ động trong
việc cân bằng cung cầu hàng hoá, gây ra sự rối loạn trên thị trường, giá cả
thay đổi một cách bất hợp lý so với giá quốc tế. Mặt hàng giá cả bị nhích lên
do cơn sốt xi măng, thép, xăng dầu và ngoại tệ.
- Thứ ba : cho đến nay, xương sống của nền kinh tế Việt Nam vẫn là
các doanh nghiệp. những doanh nghiệp này đóng góp 37% vào ngân sách
nhà nước. Việc làm ăn của nhiều công ty xuất nhập khẩu hàng năm nhà
nước phải bù lỗ, bù giá qua lớn chiếm gần 40% tổng số thu chi cho ngân
sách.
- Thứ tư : môi trường đầu tư chậm cải tiến, tích luỹ ở trong nước còn
ở mức thấp. Đầu tư nhũng công trình có vốn lớn, thời gian thi công kéo dài
qua sức chịu đựng của nền kinh té trong khi đó nguồn thu hạn hẹp, thất thu
lớn. Tình hình đó làm cho nguồn tài chính quốc gia bị thâm hụt, không còn
cách nào khác nhà nước buộc phải in tiền giấy bù đắp và đã gây ra lạm phát.
- Thứ năm : nguyên nhân từ cơ chế kinh tế độc quyền, cơ chế quan
liêu bao cấp nặng nề. Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động của nền
kinh tế. Các quan hệ tiền tệ không phát huy một cách đầy đủ tác dụng kích
thích, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
18
18
a. Giải pháp của Đảng và nhà nước :
20
20
Đảng cần nâng cao nhận thức chính trị, kinh tế. Đảng viên phải theo
hướng đổi mới trên mọi lĩnh vực. Đồng thời nhà nước phải vững mạnh
chuyên chính vô sản, lập lại trật tự kỷ cương xã hội, giữ vững phép nước
phải kiên quyết thực hiện nguyên tắc tập chung dân chủ trong hệ thống
Đảng và các cơ quan nhà nước, đấu tranh không khoan nhượng, xoá bỏ
những đặc quyền, đặc lợi, những tư tưởng cục bộ địa phương đang làm trì
trệ, tê liệt những chủ trương chính sách nhà nước. Để làm được việc này,
nhà nước cần ban hành những đạo luật chung về kinh tế, các đạo luật cụ thể
về giá cả, lao động, tái chính, ngân hàng… làm cơ sở thống nhất cho việc thi
hành trong cả nước đồng thời phải đề ra chức năng thoái soát kiểm kê của
nhà nước đối với các hoạt động kinh tế, xã hội… Ngoài ra, nhà nước tạo
điều kiện phát triển kinh tế ngoài quốc doanh. Nhà nước cho phép các thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh được kinh doanh trên nhiều lĩnh vực. Pháp
luật của nhà nước đảm bảo các quyền lợi, quyền bình đẳng, không phân biệt
đối xử giữa các thành phần kinh tế. Từ đây, các thành phần kinh tế tạo nên
được cạnh tranh trong hoạt động, gây sức ép với nhau để đổi mới, tạo ra
nhiều việc làm cho người lao động. Mục tiêu cụ thể giảm tỷ lệ lạm phát
xuống khoảng 30-40% năm 1994 và dưới 12% năm 1997, năm 1999 còn
3,6%.
b) Các biện pháp tiền tệ – tín dụng, thanh toán và giải pháp của
ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại.
“ Kiên quyết đẩy lùi và khống chế lạm phát, ổn định về tăng cường
nền tài chính, tiền tệ, tạo môi trường cho sản xuất hàng hoá phát triển có
hiệu quả “.
Như vậy, Đảng đã thấy rõ tầm quan trọng của việc đẩy lùi và kiềm
chế lạm phát với việc thi hành các chính sách tài chính, tín dụng, tiền tệ, xây
dựng một nền tài chính lành mạnh. Các giải pháp đó gồm :
22
22
do hướng tín dụng ngân hàng có lựa chọn và chú trọng tính hiệu quả của nó
có thể tạo ra một khối lượng hàng hoá nhất định bán và thu tiền về, đồng
thời giảm đi một khối lượng đáng kể số tiền sẽ chi cho các kỳ phiếu thương
mại giữa ngân hàng và khách hàng cũng như các hoạt động tái chiết khấu và
tín dụng cuối cùng của ngân hàng nhà nưóc và ngân hàng thương mại.
- Để hạn chế và điều hoà tín dụng, ngân hàng Trung ương thường sử
dụng các biện pháp : tăng hay giảm lãi suất để giảm hay tăng khối lượng tín
dụng, nghĩa là đối với công cụ lãi suất này sẽ khuyến khích hoặc hạn chế
trong hoạt động kinh doanh, thực hiện mua hay bán các chứng khoán tại thị
trường bỏ ngỏ.
c. Điều chỉnh giá cả và sự quản ký của nhà nước.
Nhà nước thả nổi giá cả hầu hết các mặt hàng, giờ đây giá cả hàng
hoá do thị trường định đoạt. Nhà nước chỉ dừng lại ở mức quy định một ít
mặt hàng theo giá của nhà nước đưa ra. Từ năm 1989, giá cả hầu hết các
hàng hoá được thị trường xác định, đến nay nhà nước chỉ còn xác định giá
cước tải liên lạc, giá năng lượng, xăng dầu. Một số mặt hàng quan trọng nhà
nước can thiệp bằng các biện pháp kinh tế tích cực chẳng hạn như giá gạo hạ
thấp, nhà nước bỏ tiền ra mua với giá cao hơn thị trường tự do để giữ vững
và khuyến khích sản xuất nông nghiệp, giá vàng lên cao, ngân hàng nhà
nước bán vàng ra thị trường với mức giá thấp hơn để kéo giá vàng hạ
xuống. Với giải pháp này, nhà nước đã xoá bỏ tình trạng ngân sách phải bao
cấp cho các xí nghiệp và các tổ chức kinh tế.
Nhà nước Việt Nam cho phép ngân hàng quốc gia được xác định tỷ
giá ngoại tệ xấp xỉ với thị trường tự do, biện pháp này có tác dụng xoá bỏ
hiện tượng đầu cơ vàng và ngoại tệ gây rối loạn thị trường. Hiện nay, nhà
nước cùng với ngân hàng Trung ương đang tiến dần đến việc điều chỉnh giá
vàng và giá đô la thoe mức giá cả của thị trường thế giới, đây là một trong
những kế hoạch hoà nhập kinh tế Việt Nam với thế giới.
chúng ta bất cứ lúc nào. Chính vì vậy Đảng và nhà nước phải luôn thận
trọng trong mỗi bước đi của mình để đảm bảo cho nền kinh tế nước nhà phát
triển vững mạnh, làm nền tảng để phát triển khoa học, giáo dục, đuổi kịp sự
phát triển của các nước trong khu vực nói riêng và các nước trên thế giới nói
chung. Điều này không chỉ của riêng ai mà của tất cả các cá nhân, doanh
nghiệp đặc biệt là các nhà doanh nghiệp trẻ và của toàn xã hội.
25
25