BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
----------
TRẦN THỊ THU NGA
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA
Chuyên ngành : Tài chính, lưu thông tiền tệ và tín dụng
Mã số : 50209
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS nguyÔn v¨n nam
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ
quý báu của các Thầy, Cô giáo trong Viện Đào tạo Sau đại học, Khoa Ngân
hàng Tài chính - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Ban Lãnh đạo và các
Phòng, Ban Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ban lãnh đạo và các Phòng,
Ban Ngân hàng Công thương Đống Đa.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với GS.TS Nguyễn Văn Nam –
Thầy đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn tác giả trong quá trình thực hiện
và hoàn thiện luận văn này.
Xin được cảm ơn sự hợp tác của các bạn đồng nghiệp.
Mặc dù vậy, do khả năng và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, luận văn
không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, thiếu sót.
Rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy giáo, Cô giáo và các bạn
đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
2/97
MỤC LỤC
DANH MỤC TRANG
Lời cảm ơn 2
Phần mở đầu 7
1.3.3.2. Doanh thu từ hoạt động dịch vụ 30
1.3.3.3. Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động dịch vụ trên tổng thu nhập 31
3/97
1.3.3.4. Đối tượng khách hàng phục vụ 32
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ của ngân hàng
thương mại
32
1.3.4.1. Nhóm nhân tố chủ quan 32
1.3.4.2. Nhóm nhân tố khách quan 36
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA
41
2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG
ĐA
41
2.1.1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển 41
2.1.2. Chức năng nhiệm vụ và mô hình tổ chức 43
2.1.3. Những kết quả đạt được trong hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng
44
2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA
49
2.2.1. Dịch vụ thanh toán 51
2.2.1.1. Dịch vụ thanh toán quốc tế 51
2.2.1.2. Dịch vụ thanh toán trong nước 55
2.2.2. Dịch vụ bảo lãnh 56
2.2.3. Dịch vụ thanh toán thẻ 57
2.2.4. Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ 60
2.2.5. Dịch vụ thu hộ, chi hộ 62
86
3.4.7. Đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ, phát triển các sản phẩm
dịch vụ mới trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại.
87
3.4.8. Xây dựng phong cách, văn hoá giao dịch của đội ngũ cán bộ 92
3.5. KIẾN NGHỊ 93
3.5.1. Đối với Ngân hàng Nhà nước 93
3.5.2. Với Nhà nước, Chính phủ 94
3.5.3. Đối với Ngân hàng Công thương Việt Nam 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
5/97
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập và phát triển, Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) - Tổ chức Thương mại đa phương lớn nhất
toàn cầu. Ngành ngân hàng là một trong những lĩnh vực được mở cửa mạnh mẽ
và phát triển nhất, nó là một kênh trung gian chuyển tải vốn ra thị trường và điều
chỉnh nguồn vốn của thị trường. Đồng nghĩa với đó, thị trường tài chính - tiền tệ
Việt Nam cũng là một sân chơi chung cho các Tổ chức Tín dụng trong và ngoài
nước, và từ đó, các ngân hàng nước ngoài sẽ được thiết lập sự hiện diện thương
mại của mình tại Việt Nam. Một hệ thống cạnh tranh mới về dịch vụ cũng được
khẳng định và chiếm lĩnh, các quan hệ thương mại theo đó sẽ trở nên ngày càng
phát triển và đa dạng. Điều này đã đặt ra những đòi hỏi và thách thức đối với các
ngân hàng thương mại trong nước.
Trong giai đoạn hiện nay, hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam
đang từng bước thiết chế cho mình các mạng lưới, đổi mới các hình thức hoạt
động, đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ nhằm nâng cao sức cạnh tranh để có thể
đứng vững trên thị trường. Đối với một ngân hàng hiện đại và phát triển như các
nước ngoài, hoạt động dịch vụ phát triển rất mạnh, nguồn thu từ hoạt động dịch
vụ chiếm tỷ trọng lớn và ảnh hưởng nhất định đến ngân hàng. Trong khi đó, đối
- Hoạt động dịch vụ của Ngân hàng Công thương Đống đa trong những
năm gần đây không bao gồm đến hoạt động nhận gửi, cho vay và đầu tư.
4. Phương pháp nghiên cứu
7/97
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thống kê, kết hợp giữa lý luận và
tình hình thực tế hoạt động của Ngân hàng. Đồng thời vận dụng phương pháp
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp số liệu, phương pháp
so sánh, phương pháp đánh giá báo cáo tổng kết để đưa ra nhận định và giải
pháp.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục, bảng biểu và các tài liệu tham
khảo, luận văn được trình bày trong 03 chương:
Chương I: Tổng quan về dịch vụ ngân hàng của ngân hàng thương
mại
Chương II: Thực trạng hoạt động dịch vụ của Ngân hàng Công
thương Đống Đa.
Chương III: Giải pháp phát triển dịch vụ của Ngân hàng Công
thương Đống Đa.
8/97
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 . TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất đối với nền
kinh tế. Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc
vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Tuy nhiên, các yếu tố trên không
ngừng thay đổi. Thực tế, có rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm có cả các công
ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ hỗ trợ và công
ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng.
1.1.2 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một tổ chức cung cấp các dịch vụ cho công chúng và doanh
nghiệp. Do vậy, việc xác định đúng các dịch vụ mà xã hội có nhu cầu và thực
hiện tốt các dịch vụ đó sẽ góp phần đem lại thành công cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng.
Ngân hàng thực hiện rất nhiều các nghiệp vụ khác nhau, trong đó có thể
kể đến một số hoạt động cơ bản như sau:
1.1.2.1 Nhận tiền gửi
Đây là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất đối với hoạt động kinh
doanh của một ngân hàng thương mại. Hoạt động nhận tiền gửi giúp ngân hàng
có được nguồn vốn để từ đó thực hiện các hoạt động kinh doanh khác, đặc biệt
10/97
là nghiệp vụ cho vay. Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền
gửi tiết kiệm của khách hàng. Khách hàng có những khoản tiền nhàn rỗi tạm
thời chưa có nhu cầu sử dụng có thể gửi vào ngân hàng trong khoảng thời gian
ngắn hoặc dài tuỳ nhu cầu dự kiến sử dụng trong tương lai. Vì đây là nguồn vốn
quan trọng, hơn nữa trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt nên các ngân
hàng đã tìm mọi cách để huy động nguồn vốn này bằng nhiều phương thức khác
nhau đồng thời cố gắng đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người gửi tiền.
Một nguồn vốn khác là lượng tiền trên các tài khoản tiền gửi giao dịch mà
ngân hàng có thể sử dụng trong thời gian khách hàng chưa cần dùng đến. Đây là
loại tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua
hàng hoá, dịch vụ và các nhu cầu cá nhân khác. Ngoài ra, ngân hàng còn có thể
huy động vốn từ nền kinh tế bằng việc phát hành các chứng khoán nợ trên thị
trường tài chính như: chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu. Để thu hút được nguồn vốn
này, ngân hàng thường phát hành các loại chứng khoán với nhiều loại kỳ hạn,
mức lãi suất khác nhau, có thể ghi danh hoặc không ghi danh.
1.1.2.2 Cho vay
Chiết khấu
Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế
đảm an toàn vốn do tài sản trong thời gian thuê vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng.
Tài trợ các hoạt động của chính phủ
Vào những năm đầu của cuộc cách mạng công nghiệp, khả năng huy động
vốn và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành tâm điểm chú ý
của các Chính phủ. Do vậy, thông thường ngân hàng được cấp giấy phép thành
lập với điều kiện phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên
tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được. Đây chính là hình thức tài trợ
12/97
cho khoản bội chi ngân sách (đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh thế giới hay
khủng hoảng kinh tế).
1.1.2.3 Các hoạt động dịch vụ khác
Bên cạnh nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại là cho vay và nhận
tiền gửi nhằm đem lại nguồn thu nhập cho ngân hàng từ chênh lệch lãi suất giữa
lãi suất cho vay thu được và lãi suất đầu vào phải trả thì các ngân hàng còn thực
hiện nhiều hoạt động dịch vụ khác. Đó là các công việc trung gian về tiền tệ
nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng về sinh lời, đầu tư, giữ hộ hay đảm bảo
an toàn tài sản…nhằm đem lại nguồn thu cho ngân hàng thông qua phí dịch vụ.
Các dịch vụ ở đây bao gồm các dịch vụ truyền thống nhu thu đổi ngoại tệ,
dịch vụ thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế, dịch vụ bảo quản vật có
giá, cung cấp các tài khoản giao dịch, dịch vụ uỷ thác…Các dịch vụ mới phát
triển theo xu hướng ngân hàng hiện đại như tư vấn tài chính, quản lý ngân quỹ,
bảo lãnh…Các loại dịch vụ mới như giao dịch qua internet và thẻ thông minh
(Smart), dịch vụ bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán cũng đang được mở rộng.
Nhìn chung, danh mục các dịch vụ do ngân hàng cung cấp tạo ra một sự thuận
lợi rất lớn cho khách hàng. Khách hàng có thể hoàn toàn thoả mãn tất cả các nhu
cầu dịch vụ tài chính của mình thông qua một ngân hàng và tại một địa điểm.
1.2 DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm
Khái niệm "dịch vụ ngân hàng" cho đến nay vẫn chưa có sự minh định rõ
ràng và còn nhiều cách hiểu khác nhau. Có ý kiến cho rằng ngành ngân hàng
về tín dụng (chiếu khấu thương phiếu, cho vay tài trợ dự án, cho vay tiêu dùng),
dịch vụ uỷ thác, cho thuê tài chính, tư vấn tài chính, dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ
cấp.
14/97
Tuy nhiên, dịch vụ ngân hàng cần được hiểu theo hai khía cạnh: Rộng và
hẹp.
Theo nghĩa rộng: Dịch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín
dụng, thanh toán, ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đối với doanh nghiệp và
công chúng. Quan niệm theo nghĩa rộng này được sử dụng để xem xét lĩnh vực
dịch vụ ngân hàng trong cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân của một quốc
gia. Quan niệm này phù hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch
vụ tài chính của WTO và Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng như
nhiều nước phát triển.
Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài
chức năng truyên thống của định chế tài chính trung gian (nhận tiền gửi và cho
vay). Quan niệm này nên dùng trong phạm vi hẹp khi xem xét hoạt động của
một ngân hàng cụ thể để xem xét các dịch vụ mới phát triển như thế nào, cơ cấu
của chúng trong toàn bộ hoạt động của mình.
Trong bài này, dịch vụ ngân hàng được xem xét theo nghĩa hẹp, không
bao hàm hoạt động truyền thống của ngân hàng thương mại như huy động vốn
và cho vay. Các dịch vụ ngân hàng được đề cập ở đây là các hoạt động gắn liền
với việc thu phí, hưởng hoa hồng do các ngân hàng thương mại thực hiện thông
qua việc phục vụ các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân nhằm tăng nguồn
thu cho ngân hàng.
1.2.2 Đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng trước hết mang những đặc điểm chung của hoạt động
dịch vụ như: dịch vụ là vô hình (phi vật chất). Tính vô hình là đặc điểm để phân
biệt sản phẩm dịch vụ với các sản phẩm của ngành sản xuất vật chất khác trong
các ngành kinh tế. Bởi vô hình nên sản xuất và cung ứng dịch vụ diễn ra đồng
thời nhưng không thể sản xuất hàng loạt và lưu giữ trong kho để sau đó tiêu
vực ngân hàng. Hơn nữa, đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình và thành thạo
trong các hoạt động nghiệp vụ cũng là đòi hỏi của hoạt động dịch vụ ngân hàng.
Năm là, Các dịch vụ ngân hàng mang tính hỗ trợ cao, có mối liên kết chặt
chẽ với nhau. Sự ra đời và phát triển dịch vụ này là tiền đề cho sự ra đời và phát
triển của dịch vụ khác. Ví dụ: Dịch vụ thanh toán quốc tế phát triển đã đẩy mạnh
sự phát triển của dịch vụ mua bán ngoại tệ.v.v…
Nhờ đó, đã tạo nên sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các dịch vụ trong sự phát triển
dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng có thể cung cấp những dịch vụ trọn gói cho
khách hàng.
1.2.3 Các dịch vụ Ngân hàng chủ yếu
1.2.3.1 Dịch vụ thanh toán
Dịch vụ này tạo điều kiện cho cho các khách hàng thực hiện các khoản
thanh toán mà không phải mang đi mang lại một lượng lớn tiền mặt, mở đầu cho
hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt. Thanh toán không dùng tiền mặt là
thanh toán qua ngân hàng, là tổng hợp các mối quan hệ chi trả tiền tệ được thực
hiện bằng cách trích chuyển từ tài khoản của người này sang tài khoản của
người khác với sự kiểm soát của ngân hàng mà không cần dùng tiền mặt.
Trong mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, ngoài những nghiệp vụ
tín dụng, nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt đóng vai trò cực kỳ quan
trọng. Khối lượng và chất lượng của nghiệp vụ thanh toán của ngân hàng thương
mại về phương diện vi mô, nó tác động đến sự tăng giảm nguồn tài nguyên khả
dụng của ngân hàng và sự khai thác của nguồn tài nguyên đó. Do vậy, ngân
hàng cần phải sử dụng các công cụ thanh toán một cách thuận tiện, hữu hiệu và
chính xác.
Các công cụ thanh toán qua ngân hàng bao gồm:
Séc
17/97
Séc là một tờ mênh lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản, ra lệnh cho
ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên trong séc, hoặc
theo lệnh của ngời ấy hoặc trả cho người cầm séc một số tiền nhất định bằng tiền
như không lãng phí vốn trong nền kinh tế, giảm thiểu rủi ro, thuận tiện cho
khách hàng đặc biệt là những người hay phải đi xa…nên thẻ thanh toán đã
nhanh chóng đi vào cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
Thẻ là một sản phẩm dịch vụ có nhiều tiện ích, an toàn dựa trên cơ sở sở
công nghệ hiện đại được ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm hạn chế việc
thanh toán bằng tiền mặt khi mà dân số ngày càng tăng, khối lượng giao dịch
ngày càng lớn. Đồng thời đây cũng là loại hình dịch vụ làm tăng thêm nguồn thu
nhập và khả năng cạnh tranh cho ngân hàng.
Các ngân hàng thường phát hành thẻ của ngân hàng mình với các loại như
thẻ từ, thẻ chíp, thẻ thông minh…Ngoài ra, còn có những tổ chức thẻ Quốc tế
như Master, Visa, Amex…với các sản phẩm thẻ như Visa, Mastercard, Amex,
Dinner’s Club…Dịch vụ thẻ đã được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia, vùng
lãnh thổ. Số lượng thẻ đã phát hành và đang sử dụng vào khoảng trên 2 tỷ, với
trên 21 triệu đại lý chấp nhận thanh toán thẻ, hơn 700.000 máy rút tiền tự động
ATM trên thế giới.
Ở Việt Nam, hoạt động thanh toán thẻ mới chỉ được triển khai từ đầu
những năm 90 với sự đi đầu của ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Song cho
đến nay đã có trên 20 ngân hàng trong nước đã và đang triển khai dịch vụ này.
Thư tín dụng
Phương thức thanh toán này là một sự thoả thuận mà trong đó một ngân
hàng nơi mở thư tín dụng theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín
19/97
dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người hưởng
lợi số tiền của thư tín dụng) khi người thứ ba này xuất trình cho ngân hàng một
bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng nếu
bên bán thực hiện đúng và đầy đủ những quy định theo thư tín dụng.
Hình thức thanh toán này có độ an toàn và chuẩn xác cao, do đó nó được
dùng phổ biến trong quan hệ thanh toán quốc tế.
Hối phiếu
Hối phiếu ngân hàng là một tờ mênh lệnh trả tiền vô điều kiện do một
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều chuyên
gia về quản lý tài chính. Ngân hàng cung cấp dịch vụ tư vấn dựa trên nhu cầu
của khách hàng và đội ngũ chuyên gia tài chính của mình. Ngân hàng có thể tư
vấn về thuế, tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp
nhập doanh nghiệp, tư vấn về công nghệ, thị trường cho các doanh nghiệp trên
cơ sở quan hệ với khách hàng và thông tin về thị trường, về công nghệ.
1.2.3.5 Dịch vụ bảo hiểm
Loại hình dịch vụ này nhằm đảm bảo cho khách hàng thanh toán nợ trong
trường hợp tử vong, thương tật hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng
thanh toán. Tuy nhiên, tuỳ theo quy định của từng quốc gia cũng giới hạn các
ngân hàng thực hiện dịch vụ này như phải thành lập công ty bảo hiểm trực thuộc
ngân hàng hoặc chỉ cung cấp bảo hiểm theo một tỷ lệ nhất định so với vốn chủ
sở hữu ngân hàng.
1.2.3.6 Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
21/97
Các ngân hàng có khuynh hướng đa năng trong việc cung cấp các dịch vụ
tài chính trọn gói cho khách hàng, trong đó có dịch vụ môi giới. Dịch vụ môi
giới được phát sinh nhờ các ngân hàng thương mại có lợi thế thông tin tài chính,
do vậy cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng
khoán khác.
1.2.3.7 Dịch vụ đại lý
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh
hoặc văn phòng ở nhiều nơi. Do vậy, các ngân hàng (thường là những ngân hàng
thương mại lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như
thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối
trong đồng tài trợ.
Bên cạnh những dịch vụ kể trên, ngân hàng còn có các dịch vụ khác như
cung cấp các kế hoạch hưu trí, cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp, cung
cấp các dịch vụ của ngân hàng quốc tế…
1.2.3.8 Quản lý ngân quỹ
như tư vấn môi giới đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, bảo lãnh…Đồng thời, đẩy
mạnh phát triển các dịch vụ ứng dụng khoa học kỹ thuật cao như thanh toán qua
thẻ, dịch vụ internet banking.
Như vậy, phát triển ở đây có nghĩa là phải luôn đưa ra được dịch vụ mới,
đáp ứng được những yêu cầu của khách hàng.
Phát triển về chiều sâu đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng dịch vụ,
hoàn thiện các dịch vụ hiện có. Khi giữa các ngân hàng không có sự phân biệt
về đa dạng hoá loại hình dịch vụ thì chất lượng dịch vụ là yếu tố quyết định sự
thành công của mỗi ngân hàng. Vì vậy, ngay từ đầu các ngân hàng phải có kế
23/97
hoặch và chiến lược ngày càng củng cố và hoàn thiện các hoạt động dịch vụ trên
cơ sở cung ứng cho khách hàng các sản phẩm tiện tích nhanh chóng, thuận tiện,
chi phí hợp lý trên cơ sở đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng và tuân
thủ các quy định của pháp luật.
Chính sách phát triển dịch vụ ngân hàng hướng tới mở rộng khả năng
“cung” dịch vụ Ngân hàng, đồng thời góp phần kích “cầu” về dịch vụ ngân hàng
của nền kinh tế.
Tóm lại, chính sách phát triển dịch vụ ngân hàng hướng tới mở rộng khả
năng “cung” dịch vụ Ngân hàng, đồng thời góp phần kích “cầu” về dịch vụ ngân
hàng của nền kinh tế.
1.3.2 Sự cần thiết của việc phát triển dịch vụ ngân hàng thương mại
Ngân hàng là ngành cung ứng dịch vụ đặc biệt đối với dân cư và nên kinh
tế, sự tồn tại của ngân hàng gắn với sự tồn tại của các dịch vụ do ngân hàng
cung ứng. Do vậy, phát triển dịch vụ ngân hàng là hết sức cần thiết nhằm góp
phần củng cố ngân hàng lớn mạnh, nâng cao vị thế của ngành ngân hàng đối với
nền kinh tế, khẳng định lòng tin trong dân chúng và tự tin trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế.
1.3.2.1 Từ yêu cầu của nền kinh tế
Dịch vụ ngân hàng thúc đẩy nền kinh tế theo xu hướng nền kinh tế tri
thức.
có vai trò tạo động lực kích thích sự ra đời và cơ hội phát triển cho các nguồn
cung ứng dịch vụ trong nước, vốn còn đang rất nghèo nàn.
1.3.2.2 Từ yêu cầu đối với Ngân hàng
25/97