PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. Bối cảnh, lý do chọn đề tài
Trong dạy học lịch sử, ngoài việc giúp cho học sinh nắm được kiến
thức cơ bản, giáo dục tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, giáo viên còn
phải giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức.
Theo Giáo trình phương pháp dạy học lịch sử, hệ thống bài tập nhận
thức là điều kiện cần thiết để phát triển tư duy học sinh trong học tập lịch
sử. Tuy nhiên, theo nhận định của một số nhà nghiên cứu: “bài tập nhận
thức hiện còn mới mẻ đối với việc học lịch sử ở nước ta”, “chúng ta chưa có
quan niệm đầy đủ về sự cần thiết của hệ thống bài tập nhận thức trong học
lịch sử, (thậm chí có người cho rằng học tập lịch sử không cần bài tập”[3,
tr.115-116]. Đây chính là lý do mà tôi quan tâm đến việc “Xây dựng và sử
dụng bài tập nhận thức trong dạy học lịch sử”.
1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Do thực tế được phân công lớp dạy và điều kiện thời gian, nên phạm
vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở giới hạn nghiên cứu quan niệm về bài tập nhận
thức, cách xây dựng bài tập, thử xây dựng một số bài tập và áp dụng vào
thực nghiệm trên đối tượng học sinh khối10.
1.3. Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu vấn đề này, bản thân mong muốn tìm cách áp dụng lý
luận về bài tập nhận thức vào thực tiễn dạy học, nghiên cứu hiệu quả, khả
năng ứng dụng vào dạy học lịch sử. Trình bày lại quá trình và kết quả
nghiên cứu, tôi cũng rất mong được quý đồng nghiệp trao đổi, góp ý nhằm
1
tìm ra cách thức xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học lịch
sử một cách có hiệu quả nhất.
1.4. Nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, tôi đã thực hiện các nhiệm vụ, các bước nghiên
cứu như sau: Trước hết, tôi nghiên cứu quan niệm về bài tập nhận thức, làm
cơ sở cho việc vạch ra cách thức xây dựng và sử dụng bài tập. Bước tiếp
theo, tôi thực hành nghiên cứu, soạn một số bài tập và thực nghiệm sử dụng
với việc học lịch sử ở trường phổ thông ở nước ta. Từ thực tiễn, chúng ta sẽ
bổ sung nhận thức lý luận và kinh nghiệm thực hành của loại bài tập
này.”[3, tr.116]
Trong điều kiện như vậy, việc tìm ra cách thức xây dựng bài tập và áp
dụng vào thực tế dạy học một cách có hiệu quả là rất cần thiết.
2.1. Xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học lịch sử
2.2.1 Thế nào là bài tập nhận thức?
Theo I.Ia.Lerner, bài tập nhận thức là một vấn đề mà “có sự mâu
thuẫn giữa điều đã biết và điều chưa biết, và vấn đề này được giải quyết
bằng toàn bộ những thao tác và phán đoán về trí tuệ và thực tiễn có tính
chất trung gian giữa câu hỏi và câu trả lời của bài tập”. “Bài tập nào cũng
đòi hỏi học sinh phải tự mình trải qua bước đường phải giải quyết hoặc tìm
ra câu trả lời một cách độc lập và được chứng minh rõ ràng”.[2, tr.2]
I.Ia. Lerner minh họa:
Khi giảng đề mục “Sự xuất hiện của tôn giáo”, thầy giáo kể cho học
sinh biết tôn giáo là gì, tôn giáo xuất hiện lúc nào và sau đó cho một bài tập:
“Các nhà khảo cổ đã tìm thấy một ngôi mộ trong đó có hài cốt của một
người được chôn từ hồi xưa nào đó. Người này nằm theo tư thế của một
4
người ngủ nằm nghiêng, 2 chân co và mặc quần áo thường mặt hàng ngày.
Bên cạnh hài cốt có vũ khí, bát, đĩa và di tích của thức ăn.
Câu hỏi: Ngôi mộ thuộc về thời kì nào, trước khi có tôn giáo hay lúc
tôn giáo đã xuất hiện rồi? Hãy chứng minh câu trả lời của em.
Để giải quyết bài tập này, học sinh đã xác lập mối tương quan giữa sự
kiện về ngôi mộ với những điều chúng được biết về tôn giáo (câu hỏi đòi
hỏi điều đó), con người đã tin vào các lực lượng siêu tự nhiên, vào một cuộc
sống ở bên kia thế giới sau khi chết. Sau đó, học sinh phán đoán và kết luận:
Vì trong mộ có bát đĩa, thức ăn, quần áo, vậy thì người ta đã cho rằng
những thứ đó cần thiết cho người được chôn cất sau khi chết. Và nếu như
thế thì đó là những con người có tôn giáo và do đó, ngôi mộ đã xuất hiện
Việc sử dụng bài tập nhận thức là một trong những cách thức, biện
pháp trang bị kiến thức, rèn luyện năng lực tư duy, giáo dục tư tưởng cho
học sinh. Do đó, việc xây dựng, sử dụng bài tập nhận thức ở bài học nào đó
phải bám sát yêu cầu về mục tiêu của bài học, mục tiêu cụ thể của đề mục
có liên quan.
6
- Bước 2: Tìm “vấn đề” để xây dựng bài tập
Cách trình bày của sách giáo khoa hiện tại vẫn còn theo lối giải thích
hoặc chứng minh kiến thức lịch sử, nghĩa là đưa ra nhận định trước, sau đó
minh họa bằng các sự kiện, hiện tượng hoặc trình bày các sự kiện, hiện
tượng rồi đưa ra kết luận. Như thế, giáo viên sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi
chọn vấn đề để xây dựng bài tập. Nói như vậy không có nghĩa là không thể
xây dựng bài tập. Nghiên cứu sách giáo khoa chúng ta thấy, bên cạnh những
vấn đề được giải thích, chứng minh rõ ràng, vẫn còn nhiều vấn đề, nhiều
phần kiến thức, nhiều khía cạnh mà nếu chỉ đọc sách giáo khoa, học sinh
chưa thể hiểu, cần có sự giúp đỡ của giáo viên. Đó là những “vấn đề” mà
chúng ta có thể khai thác để xây dựng bài tập.
Từ tư liệu do sách giáo khoa cung cấp, khai thác ở nhiều góc độ, nhiều
mức độ, giáo viên cũng có thể tìm được “vấn đề” để xây dựng bài tập nhận
thức.
- Bước 3: Xây dựng bài tập
Trên cơ sở xác định được những vấn đề học sinh còn gút mắc, những
vấn đề cần khai thác thêm từ tư liệu trong sách giáo khoa nhằm giúp học
sinh nhận thức thêm, giáo viên tiến hành tìm tư liệu lịch sử qua các nguồn
tài liệu tham khảo hoặc sử dụng tư liệu từ sách giáo khoa để đặt vấn đề theo
cách xây dựng bài tập nhận thức.
Do bài tập nhận thức giống như một “bài toán” nên tư liệu lịch sử ở
phần “giả thiết” phải đảm bảo đúng và đủ để học sinh dựa vào đó, vận
dụng kiến thức đã học chứng minh, tìm ra “kết luận”. Kết luận đạt được
7
Có thể cho học sinh giải bài tập này ở nhà, sau khi dạy xong mục 2.
Thị quốc Địa Trung Hải (hết tiết 1 của bài này).
Để trả lời câu hỏi thứ nhất, học sinh phải sử dụng kiến thức đã biết: nô
lệ là lực lượng sản xuất chính, nuôi sống xã hội. Đối chiếu với thông tin từ
tư liệu trên, học sinh có thể tìm được câu trả lời: Nô lệ là lực lượng sản xuất
chính, nuôi sống xã hội, lẽ ra phải được bảo vệ. Song, tư liệu trên cho thấy,
tính mạng của nô lệ bị xem thường. Đây là điều nghịch lý.
Đối với câu hỏi thứ hai, trên cơ sở nhận thức được hiện tượng nêu trên
là biểu hiện của áp bức, vận dụng hiểu biết về quy luật “có áp bức có đấu
tranh”, học sinh có thể tìm được câu trả lời: Hiện tượng nêu trên là biểu
hiện cụ thể của hành vi áp bức. Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh. Hệ quả
chắc chắn xảy ra là nô lệ sẽ nổi dậy đấu tranh.
Bài 11. Tây Âu thời hậu kì trung đại; Mục 4. Cải cách tôn giáo và
chiến tranh nông dân
Một trong những kiến thức cần giúp học sinh hiểu rõ: nguyên nhân
dẫn đến cải cách tôn giáo.
9
Có thể sử dụng tư liệu sau đây để xây dựng bài tập:
Đầu thế kỉ XVI khắp phố chợ ở Tây Âu người ta thấy các tu sĩ xà vào
những chỗ đông người, ra bán (thẻ xá tội): “Đem tiền ra mau! Hãy cứu vớt
những người ruột thịt và thân thích ! Chỉ cần đồng tiền kêu trong đáy túi
của ta, linh hồn của người phạm tội sẽ được lên thiêng đàng !”[1, tr.36]
Hỏi: Cho biết nhận xét của em về tính chất (bình thường hay không
bình thường) của hiện tượng trên? Theo em, hiện tượng trên có thể tồn tại
lâu dài được không? Vì sao?
Có thể cho học sinh giải bài tập này trước khi giảng mục 4. Cải cách
tôn giáo và chiến tranh nông dân.
Để giải được bài tập này học sinh phải vận dụng những những kiến
thức đã biết về nghi lễ, luật lệ Kitô giáo làm căn cứ, đối chiếu với hiện
tượng cụ thể mà tư liệu bài tập cung cấp để phát hiện tính chất của hiện
Rôma, kết thúc bài học, tôi yêu cầu học sinh giải bài tập nhận thức sau:
Trong cuộc xâm chiếm thành phố Xoát Xông, quân đội Phơrăng (một
bộ tộc của ngưởi Giecman) đã cướp đoạt được nhiều chiến lợi phẩm, trong
11
đó có cái bình thờ rất đẹp. Clôvit muốn biếu cái bình đó cho nhà thờ Cơ
đốc giáo, nên xin riêng cái bình thờ đó. Một người lính đã đập vỡ cái bình
đó và nói: “Anh chỉ được nhận phần nào mà anh rút thăm được”. Clôvit
căm tức, nhưng không nói gì. Năm sau, sau khi chinh phục được đế quốc
Rôma, Clôvit xưng vua. Khi duyệt binh, Clôvit gặp lại người lính cũ đã đập
vỡ cái bình . Lấy cớ người lính giữ gìn vũ khí không sạch, Clôvit vứt cái rìu
của anh ta xuống đất để anh ta cúi xuống nhặt. Lợi dụng lúc anh ta không
đề phòng, Clôvit liền bổ vào đầu anh ta và nói: “Mày còn nhớ cái bình
Xoát Xông không?” Những người lính khác không dám phản đối hành động
của Clôvit.[6, tr.14]
Hỏi:
1. Thái độ, hành động của Clôvit và những người lính trước và sau
khi chinh phục được đế quốc Rôma khác nhau như thế nào?
2. Dựa vào những hiểu biết về xã hội của người Giecman trước và
sau khi chinh phục được đế quốc Rôma, em hãy giải thích vì sao có sự khác
nhau này?
Yêu cầu về mặt nội dung và phương pháp khi giải bài tập này:
Để trả lời câu hỏi thứ nhất, học sinh cần sử dụng năng lực phân tích tư
liệu để nêu lên cốt lõi của vấn đề:
Trước khi chinh phục Rôma, những người lính đã phản đối việc
Clôvit lấy của chung làm của riêng; Clôvit phục tùng ý kiến của tập thể.
Sau khi chinh phục được đế quốc Rôma, Clôvit hành động tàn bạo; những
người lính không dám phản đối hành động của Clôvit.
12
Câu thứ hai đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức đã biết về
xã hội của người Giecman trước và sau khi chinh phục Rôma đối chiếu với
thích câu trả lời của em.
Yêu cầu đối với học sinh về mặt nội dung và phương pháp khi giải bài
tập này:
Vận dụng kiến thức đã biết về vai trò của đê đập, vai trò của nông
nghiệp, vai trò của luật pháp, đối chiếu với tư liệu mà bài tập cung cấp để
tìm ra câu trả lời.
Đê đập có vai trò quan trọng trong việc ổn định nguồn nước. Giữ
được đê đập là góp phần đảm bảo năng suất sản xuất nông nghiệp. Như
vậy, trước mắt, nhà nước muốn thông qua việc bảo vệ đê đập để bảo vệ sản
xuất nông nghiệp, ổn định kinh tế.
Mất mùa có thể ảnh hưởng đến việc nộp tô thuế, gây mất ổn định xã
hội. Luật có vai trò bảo vệ quyền lợi của giai cấp, ổn định xã hội. Cho nên,
ngoài mục đích bảo vệ sản xuất nông nghiệp, sâu xa hơn, điều luật trên còn
góp phần bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, ổn định trật tự xã hội.
Kết quả giải bài tập này của học sinh ở các lớp thực nghiệm:
14
- Tỉ lệ học sinh trả lời được “mục đích trước mắt”: 92,2%
- Tỉ lệ học sinh trả lời được “mục đích sâu xa”: 82,4%
Tiếp theo, tôi tiến hành kiểm tra nhận thức ở các lớp thực nghiệm và
các lớp đối chứng. Câu hỏi kiểm tra nhận thức: 1. Cho biết vai trò của luật
pháp? 2. Sự quan tâm của nhà nước đối với nông nghiệp được thể hiện như
thế nào? Kết quả:
- Tỉ lệ học sinh các lớp thực nghiệm trả lời được câu 1: 97%, câu 2:
94%
- Tỉ lệ học sinh các lớp đối chứng trả lời được câu 1: 90%, câu 2: 65%
2.2.2.2. Nhận xét về hiệu quả của việc sử dụng bài tập nhận thức
Kết quả kiểm tra nhận thức sau khi sử dụng hai bài tập cho thấy, ở các
lớp thực nghiệm, khả năng nhớ và vận dụng kiến thức lịch sử, cách lập
luận, trình bày vấn đề của các em tốt hơn các lớp đối chứng. Những mặt
tích cực có được như thế chắc chắn là hệ quả của quá trình giải bài tập
xây dựng bài tập. Khi xây dựng bài tập cần bám sát mục tiêu của bài học,
mục tiêu cụ thể của các đề mục có liên quan. Trên cơ sở xác định kiến thức
trọng tâm của bài học, đề mục, cần khai thác những vấn đề, những khía
cạnh mà học sinh khó hiểu, cần giáo viên giúp đỡ để hiểu sâu để tìm tư liệu
xây dựng bài tập như một “bài toán”. Yêu cầu hay câu hỏi mà bài tập nhận
thức đặt ra nhất thiết phải đảm bảo yêu cầu học sinh phải tư duy, vận dụng
kiến thức đã biết soi vào tư liệu do bài tập cung cấp mới có thể tìm ra câu
trả lời.
Tùy theo chủ ý của giáo viên khi xây dựng bài tập, chuẩn bị bài giảng,
đặc điểm học sinh, có thể sử dụng bài tập nhận thức ở đầu, giữa hay cuối
chương, bài hay đề mục nào đó.
17
Thời gian đầu, giáo viên chỉ nên ra các bài tập đơn giản và cần hướng
dẫn các em cách giải bài tập, chẳng hạn giải thích các bước tiến hành, cách
phân tích giả thiết, cách xây dựng các bước trong lập luận… Khi học sinh
quen dần với việc giải bài tập, giáo viên có thể cho học sinh giải các bài tập
phức tạp hơn, yêu cầu học sinh độc lập tìm ra lời giải.
3.2. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm
Do chưa có nhiều thời gian nghiên cứu và ứng dụng, đôi điều đúc kết
được trên đây chỉ là kinh nghiệm bước đầu. Bản thân xem đây là cơ sở để
tiếp tục nghiên cứu xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức trong thời gian
tới. Trên cơ sở nắm vững cách thức xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức,
nếu được vận dụng vào thực tế dạy học, chắc chắn đây sẽ là biện pháp tích
cực nhằm phát triển tư duy học sinh, thực hiện tinh thần đổi mới phương
pháp, khắc phục tâm lý cho rằng học sử chỉ cần học thuộc lòng.
3.3. Khả năng ứng dụng và triển khai
Xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học lịch sử là công
việc không đơn giản. Chính vì thế cho nên đến hiện tại công việc này “vẫn
còn mới mẻ”. Song đây cũng không phải là công việc quá khó. Thực tế
nghiên cứu xây dựng và thực nghiệm sử dụng bài tập cho phép tôi khẳng
…………………………………………………………………… 1
20
1.1. Bối cảnh, lý do chọn đề
tài………………………………………………….1
1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên
cứu………………………………………… 1
1.3. Mục đích nghiên
cứu…………………………………………………………1
1.4. Nhiệm vụ, phương pháp nghiên
cứu……………………………………… 1
1.5. Điểm mới trong kết quả nghiên
cứu……………………………………… 2
Phần 2. Nội
dung…………………………………………………………………… 3
2.1. Thực trạng xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức
trong dạy học lịch sử
………………………………………………………. 3
2.2. Xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học lịch
sử………… 3
2.2.1 Thế nào là bài tập nhận thức?
……………………………………… 3
2.2.2. Xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức
……………………………. 5
2.2.2.1. Xây dựng bài tập minh họa…
…………………………… 6
21
2.2.2.2. Thực nghiệm sử dụng bài tập nhận thức
trong dạy học lịch
sử………………………………………………. 9
2.2.2.3. Nhận xét về hiệu quả của việc sử dụng