Báo cáo thực tập GVHD: Nguyễn Thị Hồng Hà
BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG TP.HCM
KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
BÁO CÁO THỰC TẬP
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI
HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT
NAM, CHI NHÁNH ĐÔNG SÀI GÒN–PGD SỐ 4
GVHD: NGUYỄN THỊ HỒNG HÀ
SVTH: NGUYỄN VĂN TRÌNH
LỚP: CCQ1219E
MSSV: 2112190338
Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 01 năm 2015
SVTT: Nguyễn Văn Trình Trang 1
Báo cáo thực tập GVHD: Nguyễn Thị Hồng Hà
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
như kinh nghiệm cho em trong quá trình học tập tại trường. Đặc biệt em xin gửi
lời cảm ơn đến Cô Nguyễn Thị Hồng Hà – Người đã trực tiếp chỉ dẫn em trong lần
thực tập này, luôn luôn hướng dẫn em trong quá trình thực tập và kịp thời cho em
những ý kiến cũng như kinh nghiệm quý báu để em hoàn thành bài báo cáo thực tập
này một cách tốt nhất.
Bên cạnh đó em xin chân thành cảm ơn các anh, chị trong Phòng Giao Dịch
Số 4 Chi nhánh Đông Sài Gòn – Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương
Việt Nam đã hết lòng chỉ bảo em hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp này.
Do kiến thức lý thuyết và thực tế phục vụ cho việc phân tích còn nhiều hạn
chế nên chắc rằng báo cáo thực tập tốt nghiệp này sẽ khó tránh khỏi những thiếu
sót, vì vậy em rất mong nhận được sự bổ sung, góp ý của thầy cô và các anh chị để
báo cáo này được tốt hơn.
Em kính chúc quý thầy cô Trường Cao Đẳng Công Thương Thành Phố Hồ
Chí Minh, Ban lãnh đạo cùng toàn thể các nhân viên trong PGD số 4-Chi nhánh
Đông Sài Gòn dồi dào sức khoẻ, gặt hái được nhiều thành công ngày càng
phát triển.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
TP. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 01 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Trình
SVTT: Nguyễn Văn Trình Trang 4
Báo cáo thực tập GVHD: Nguyễn Thị Hồng Hà
CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG
STT Chữ viết tắt Chữ viết thường.
1 BGĐ Ban giám đốc
2 BHXH Bảo hiểm xã hội
3 BHYT Bảo hiểm y tế
4 CBTD Cán bộ tín dụng
5 CN Chi nhánh
6 CNTT Công nghệ thông tin
Báo cáo thực tập GVHD: Nguyễn Thị Hồng Hà
DANH SÁCH CÁC BẢNG SỬ DỤNG
Bảng 2.1: Các chỉ số tài chính cơ bản
Bảng 2.2: Dư nợ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương
Bảng 2.3. Tình hình huy động vốn trung, dài hạn giai đoạn 2011-2013 44
Bảng 2.4. Tình hình cho vay, dư nợ vốn trung, dài hạn giai đoạn 2011- 2013 45
Bảng 2.5. Cơ cấu dư nợ tín dụng trung dài hạn trong tổng dư nợ giai đoạn
2011-2013 46
Bảng 2.6. Hiệu suất sử dụng vốn vay trung dài hạn giai đoạn 2011-2013 48
Bảng 2.7. Vòng quay vốn tín dụng giai đoạn 2011- 2013 48
Bảng 2.8. Dư nợ theo nội tệ, ngoại tệ năm 2013 49
Bảng 2.9: Dư nợ theo thành phần kinh tế doanh nghiệp được vay hỗ trợ lãi suất
năm 2013 49
Bảng 2.10. Dư nợ theo ngành kinh tế doanh nghiệp được vay hỗ trợ lãi suất
năm 2013 51
Bảng 2.11. Tình hình nợ quá hạn trung dài hạn giai đoạn 2011-2013 52
SVTT: Nguyễn Văn Trình Trang 7
Báo cáo thực tập GVHD: Nguyễn Thị Hồng Hà
DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Công thương 35
Sơ đồ 2.2 : Cơ cấu tổ chức bộ máy và điều hành của Trụ sở chính 35
Sơ đồ 2.3: Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành của Sở giao dịch, Chi nhánh
cấp 1, Chi nhánh cấp 2 36
Sơ đồ 2.4: Cơ cấu tổ chức Ngân hàng TMCP Công Thương – PGD số 4 41
Biểu đồ 2.1: Nguồn vốn huy động Ngân hàng TMCP Công thương 37
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nguồn vốn theo loại hình huy động và theo loại tiền tại
NHTMCP Công Thương năm 2013 38
Biểu đồ 2.3: Tương quan dư nợ ngắn hạn, trung dài hạn giai đoạn 2011- 2013.47
Biểu đồ 2.4: Tương quan nợ quá hạn ngắn hạn, trung dài hạn giai đoạn
hàng mà còn có ý nghĩa với từng cá nhân, từng doanh nghiệp và với cả nền kinh
tế và chất lượng của nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Ngân hàng, khách hàng,
môi trường kinh tế Trước những vai trò to lớn của mình, nâng cao chất lượng
hoạt động tín dụng trung dài hạn là việc làm cần thiết và liên tục đối với mỗi
ngân hàng, đòi hỏi ngân hàng phải có những chính sách hợp lý mới thu được
hiệu quả cao.
Nhận thức được tầm quan trọng của tín dụng trung dài hạn nên em đã
chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng
TMCP Công Thương Việt Nam, Chi nhánh Đông Sài Gòn – PGD số 4” làm
đề tài nghiên cứu của mình.
SVTT: Nguyễn Văn Trình Trang 10
Báo cáo thực tập GVHD: Nguyễn Thị Hồng Hà
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về NHTM, tín dụng, chất lượng tín dụng
trung và dài hạn của NHTM.
- Khảo sát tình hình thực tế, phân tích, đánh giá về chất lượng tín dụng trung và dài
hạn tại Ngân hàng Công Thương chi nhánh Đông Sài Gòn - PGD số 4, những kết
quả đạt được, những yếu kém và tìm ra những nguyên nhân của những yếu kém đó.
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài
hạn tại Vietinbank chi nhánh Đông Sài Gòn - PGD số 4 , đảm bảo an toàn phát triển
bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Báo cáo thực tập nghiên cứu các vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng trung
và dài hạn của ngân hàng thương mại, xem xét đánh giá về thực trạng chất lượng tín
dụng trung dài hạn tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Đông
Sài Gòn - PGD số 4. Từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất
lượng tín dụng trung dài hạn tại PGD số 4, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng
trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
− Đối tượng nghiên cứu là hoạt động tín dụng trung và dài hạn.
− Phạm vi nghiên cứu:
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN
DỤNG TRUNG, DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. Ngân hàng thương mại.
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh
tế nói chung và đối với các cộng đồng địa phương, chủ thể nói riêng. Theo các
nghiên cứu, lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát
triển của nền sản xuất hàng hóa. Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi
sự phát triển của ngân hàng; đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng
trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Kinh tế thị trường sản sinh ra các chợ
tiền trong đó, ngân hàng thương mại không phải chạy theo tiền bạc mà bắt tiền bạc
chạy theo mình, điều khiển tiền bạc chuyển hóa tinh vi từ nơi này đến nơi khác. Các
ngân hàng mạnh, nền kinh tế sẽ mạnh; các ngân hàng yếu, nền kinh tế sẽ yếu. Thậm
chí nếu các ngân hàng đổ vỡ, nền kinh tế sẽ lâm vào khủng hoảng và sụp đổ. Vì thế,
các nhà kinh tế học đã thường gọi “ngân hàng là doanh nghiệp đặt biệt”, là “hệ thần
kinh, là trái tim của nền kinh tế”.
Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai
trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Song, các yếu tố trên đang không ngừng
thay đổi. Trong thực tế hiện nay có rất nhiều những tổ chức tài chính khác ( như
công ty chứng khoán, bảo hiểm, các quỹ) đang cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân
hàng. Và ngược lại, các ngân hàng cũng đang mở rộng phạm vi cung cấp sản phẩm,
dịch vụ về bất động sản, chứng khoán, bảo hiểm, đầu tư vào các quỹ, Theo cách
tiếp cận trên phương diện các loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp thì ngân hàng là
các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất,
đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và thanh toán- và thực hiện nhiều chức năng tài chính
nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Theo Luật các tổ
chức tín dụng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ghi “Hoạt động
ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung
thường xuyên là nhân tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng
các dịch vụ thanh toán”.
− Bảo quản tài sản hộ.
Ngân hàng thường giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố hay những
giấy tờ quan trọng khác của khách hàng với nguyên tắc an toàn, bí mật, thuận tiện.
SVTT: Nguyễn Văn Trình Trang 14
Báo cáo thực tập GVHD: Nguyễn Thị Hồng Hà
Dịch vụ này phát triển cùng nhiều dịch vụ khác như mua bán hộ các giấy tờ có giá,
thanh toán lãi hoặc cổ tức hộ,
− Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Việc giao dịch, thanh toán qua Ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không
dùng tiền mặt. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt đã góp phần rút
ngắn thời gian kinh doanh, nâng cao thu nhập cho khách hàng. Cùng với sự phát
triển của công nghệ thông tin đã phát triển một số hình thức thanh toán mới bằng
thẻ, điện,
− Quản lý ngân quỹ.
Quản lý ngân quỹ là việc Ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một
công ty kinh doanh, tiến hành đầu tư phần tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán
sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
− Tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ.
Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu không đủ,
Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận đến các khoản cho vay của Ngân hàng.Các
Ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện
với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ.
− Bảo lãnh.
Bảo lãnh là một nghiệp vụ ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân
hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa và trang thiết
bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác,
− Cho thuê thiết bị trung dài hạn ( Leasing).
Ngân hàng tích cực cho khách hàng quyền lựa chọn thuê các thiết bị máy
móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua trong đó Ngân hàng mua thiết bị và cho
khách hàng thuê với điều kiện khách hàng phải trả tới hơn 70% hoặc 100% giá trị
chính làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm,
đồng thời làm giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư ( tăng thu nhập cho người
đầu tư) từ đó mà khuyến khích đầu tư. Song, hoạt động của trung gian sẽ có hiệu
quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng các kĩ thuật nghiệp vụ hạn chế, phân tán
rủi ro và giảm chi phí giao dịch.
Một lý do nữa làm ngân hàng phát triển và thịnh vượng là khả năng thẩm
định thông tin. Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin
SVTT: Nguyễn Văn Trình Trang 16
Báo cáo thực tập GVHD: Nguyễn Thị Hồng Hà
được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thị
trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có chuyên môn và
kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn các công cụ
và có yếu tố rủi ro- lợi nhuận hấp dẫn nhất.
− Tạo phương tiện thanh toán.
Tiền có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán. Trước
đây, các ngân hàng thợ vàng đã tạo được phương tiện thanh toán bằng cách phát
hành các giấy nhận nợ với khách hàng. Với nhiều ưu thế, giấy nhận nợ của ngân
hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất giữ,
nó trở thành tiền giấy. Việc in tiền mang lại lợi nhuận lớn và với nhu cầu có
đồng tiền quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát
hành vào một tổ chức hoặc là Bộ Tài chính, hoặc là Ngân hàng Trung ương.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng
nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi
trả để có được hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu. Khi ngân hàng cho vay, số dư
trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hành tăng lên, khách hàng có thể
dùng để mua hàng hóa và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay, ngân hàng đã tạo ra
phương tiện thanh toán.
− Trung gian thanh toán.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất tại các quốc gia hiện
nay. Thay mặt khách hàng của mình, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng
vị kinh tế, các tổ chức xã hội và dân cư trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai
trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay”. Có rất nhiều cách để phân chia tín
dụng ngân hàng như phân chia theo thời gian, theo hình thức tài trợ, theo hình thức
đảm bảo, theo rủi ro
1.1.4.1. Tín dụng chia theo thời gian.
Việc phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì
thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn, sinh lợi của tín dụng cũng như khả
năng thanh toán của khách hàng. Theo thời gian: tín dụng được chia thành 3 loại:
SVTT: Nguyễn Văn Trình Trang 18
Báo cáo thực tập GVHD: Nguyễn Thị Hồng Hà
+ Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn từ 12 tháng trở xuống, chủ yếu tài trợ cho tài sản
lưu động.
+ Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm( có ngân hàng quy định là 7
năm), tài trợ cho các tài sản cố định như phương tiện vận tải, cây trồng vật nuôi,
trang thiết bị chống hao mòn.
+ Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên 5 năm (có ngân hàng là 7 năm) tài trợ cho
công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu, đường, máy móc, thiết bị có giá trị
lớn, thường có thời hạn sử dụng lâu.
Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn trong ngân hàng thương mại thường cao hơn
tỷ trọng trung dài hạn vì tín dụng trung dài hạn có rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt
hơn và khan hiếm hơn.
1.1.4.2. Tín dụng chia theo hình thức tài trợ.
+ Cho vay: Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách
hàng phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong khoảng thời gian xác định. Cho vay là tài
sản lớn nhất trong các khoản mục tín dụng.
+ Chiết khấu thương phiếu: Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước
tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu, trừ đi phần thu nhập
của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn hoặc một giấy nợ.
+ Cho thuê: Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê
theo những thỏa thuận nhất định. Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trả cả
1.1.4.5. Phân loại khác.
+ Theo ngành kinh tế: Công nghiệp, nông nghiệp,
+ Theo đối tượng tín dụng: Tài sản lưu động, tài sản cố
định.
+ Theo mục đích: sản xuất, tiêu dùng
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hóa
trong cấp tín dụng của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở
rộng phạm vi tài trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi
thế.
1.1.5. Tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng thương mại.
1.1.5.1. Khái niệm.
SVTT: Nguyễn Văn Trình Trang 20
Báo cáo thực tập GVHD: Nguyễn Thị Hồng Hà
Theo định nghĩa, tín dụng trung và dài hạn là hoạt động tài chính cho
khách hàng vay vốn trung và dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản
xuất kinh doanh, phục vụ đời sống.
Tùy theo ở từng quốc gia, từng thời kỳ mà có những quy định khác nhau
về tín dụng trung và dài hạn. Ở Việt Nam, thời hạn cho vay được xác định phù
hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng
và tính chất nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng. Hiện nay, thời hạn của tín dụng
trung và dài hạn được xác định là những khoản cho vay trên 1 năm. Chúng được
trả bằng những khoản trả vay theo thời gain trong kỳ hạn của khoản vay, được
đảm bảo bằng những tài sản thế chấp, cầm cố. Mục đích của hoạt động tín dụng
trung dài hạn là để đầu tư dự án, xây dựng mới, mua sắm tài sản cố định, mở
rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới cải tiến thiết bị công nghệ, ứng dụng khoa học
kỹ thuật nhằm mục tiêu lợi nhuận, phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã
hội và pháp luật quy định.
1.1.5.2. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn.
1.1.5.2.1. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với doanh
nghiệp.
hành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng ký Việc trả nợ cũng được xây dựng theo một
sự phân chia ổn định và hợp lý để doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các
nguồn trả nợ một cách dễ dàng.
1.1.5.2.2. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với nền kinh
tế.
+ Tín dụng trung dài hạn thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, điều hòa
lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế, giúp nền kinh tế phát triển theo chiều
sâu. Ngân hàng thương mại có chức năng chủ yếu là trung gian tài chính, tập
trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và cho vay đối với các đối tượng có
nhu cầu. Ngân hàng thương mại là một kênh truyền dẫn vốn hiệu quả từ nơi thừa
vốn đến nơi thiếu vốn, nó giúp các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói
chung hoạt động liền mạch, không đứt quãng, hiệu quả cao. Những điều này
cũng được thể hiện rõ trong hoạt động tín dụng trung, dài hạn. Thông qua cho
vay trung dài hạn mà xây dựng được cơ sở hạ tầng, đổi mới khoa học công nghệ,
đấy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, thúc đẩy lưu
thông hàng hóa, đẩy nhanh quá trình chu chuyển tiền tệ.
SVTT: Nguyễn Văn Trình Trang 22
Báo cáo thực tập GVHD: Nguyễn Thị Hồng Hà
+ Tín dụng trung và dài hạn có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn. Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn là chủ trương chung của
Đảng và Nhà nước ta và tín dụng trung dài hạn có vai trò quan trọng trong vấn
đề này. Đầu tư cho vay trung dài hạn góp phần phát triển khoa học công nghệ,
tạo công ăn việc làm, ổn định lạm phát, nâng cao đời sống dân cư, phát triển lực
lượng lao động, giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định.
+ Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại .
Hiện nay trong nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của một quốc gia không đứng
độc lập riêng rẽ mà nằm trong tổng thể của nền kinh tế thế giới và chịu sự ảnh
hưởng nhất định của nó. Tín dụng trung dài hạn đã trở thành một trong những
phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau thông qua các hình thức: tín dụng
đầu tư vào các dự án có thời gian tương đối dài như mua sắm máy móc thiết bị,
đổi mới trang thiết bị và công nghệ, xây dựng sửa chữa nhà xưởng cơ sở vật chất
kỹ thuật nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, và phát triển trong
tương lai của doanh nghiệp.
1.1.5.3.2. Đối tượng cho vay.
Với mục đích cho vay như trên, đối tượng cho vay của tín dụng trung và
dài hạn là giá trị vật tư, máy móc thiết bị, công nghệ chuyển giao, chi phí nhân
công, giá thuế và chuyển nhượng đất đai, giá thuê mua các tài sản, chi phí mua
bảo hiểm và các chi phí khác. Đó chính là các chi phí cấu thành trong tổng mức
đầu tư của dự án không phân biệt thành phần kinh tế, là tổ chức, cá nhân hay là
doanh nghiệp.
1.1.5.3.3. Điều kiện cho vay.
Để được vay vốn, đơn vị xin vay phải gửi đến ngân hàng:
+ Đơn xin vay
+ Luận chứng kinh tế, kỹ thuật và dự toán đã được thẩm định và cấp trên phê
duyệt.
+ Các báo cáo tài chính của đơn vị trong một vài năm trước.
Ngoài ra, vì liên quan đến vấn đề doanh nghiệp có đủ khả năng trả nợ
không đơn vị xin vay phải chứng tỏ được dự án đưa ra là hiệu quả, có tính khả
thi cao. Bởi vậy, họ phải gửi đến ngân hàng các bản tính toán hiệu quả của dự
án, lợi nhuận mà dự án mang lại qua các năm, các chỉ tiêu phản ánh khả năng
SVTT: Nguyễn Văn Trình Trang 24
Báo cáo thực tập GVHD: Nguyễn Thị Hồng Hà
sinh lợi của dự án. Bên cạnh đó có tính toán đầy đủ các số tiền xin vay, các
nguồn trả nợ và lệnh trả nợ. Ngân hàng cho vay sẽ xem xét kỹ các tài liệu nhằm
đánh giá đầy đủ khả năng của đơn vị vay vốn trước khi quyết định cho vay, tình
hình tài chính và nghiã vụ của họ với Nhà nước và các tổ chức tài chính như thế
nào.
Một trong các điều kiện để cho các Ngân hàng Thương mại cho vay là
thế chấp. Thế chấp có thể chia làm 2 loại: đảm bảo đối vật và đảm bảo đối nhân.