TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
QUỐC DÂN
CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM
HÀNG KHÔNG
§Ò tµi NGHI£N CøU
Th¬ng m¹i ®iÖn tö vµ c¬ héi ®Ó ph©n phèi
s¶n phÈm b¶o hiÓm trùc tuyÕn
HÀ NỘI - 2012
2
MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 5
LỜI MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG I 8
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ KÊNH PHÂN PHỐI 8
SẢN PHẨM BẢO HIỂM 8
CHƯƠNG II 34
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 34
2.1 Sơ lược về thị trường bảo hiểm Việt Nam 35
Thực trạng các kênh phân phối bảo hiểm phi nhân thọ: 38
CHƯƠNG III 44
MÔ HÌNH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ PHÂN PHỐI SẢN PHẨM BẢO
HIỂM PHI NHÂN THỌ HIỆN NAY 44
3.1 Sự phát triển của internet tại Việt Nam 44
3.1.1 Khái niệm 44
3.2 Sự cần thiết phải phát triển kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm qua mạng
internet 46
3.3 Đánh giá tiềm năng phát triển kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm qua Internet. 50
3.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển kênh phân phối sản phẩm bảo
hiểm qua internet 50
3.3.2 Đánh giá tiềm năng phát triển kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm qua
CHƯƠNG II 34
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 34
2.1 Sơ lược về thị trường bảo hiểm Việt Nam 35
Thực trạng các kênh phân phối bảo hiểm phi nhân thọ: 38
CHƯƠNG III 44
MÔ HÌNH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ PHÂN PHỐI SẢN PHẨM BẢO
HIỂM PHI NHÂN THỌ HIỆN NAY 44
3.1 Sự phát triển của internet tại Việt Nam 44
3.1.1 Khái niệm 44
3.2 Sự cần thiết phải phát triển kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm qua mạng
internet 46
3.3 Đánh giá tiềm năng phát triển kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm qua Internet. 50
3.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển kênh phân phối sản phẩm bảo
hiểm qua internet 50
3.3.2 Đánh giá tiềm năng phát triển kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm qua
mạng internet 55
3.4. Xu hướng phát triển của các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm trên thế giới. 69
3.5. Các điều kiện để phát triển kênhphân phối trực tuyến 73
3.5.1 Các điều kiện từ phía doanh nghiệp bảo hiểm 73
3.4.2 Điều kiện khách quan bên ngoài doanh nghiệp bảo hiểm 76
3.6. Giải pháp phát triển kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm qua mạng Internet tại
Việt Nam 82
3.6.1. Đối với cơ quan quản lý Nhà nước 82
3.6.2 Đối với DNBH 83
3.6.3 Đối với khách hàng 87
6
LỜI MỞ ĐẦU
Để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp bảo hiểm luôn cố gắng
tìm tòi, phát hiện và khai thác các nhu cầu tiềm ẩn của khách hàng, để đưa ra
những sản phẩm mới đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
tiền điện tử, quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng, tiếp thị Internet, quá trình
giao dịch trực tuyến, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), các hệ thống quản lý hàng
tồn kho, và các hệ thống tự động thu thập dữ liệu. Thương mại điện tử hiện
đại thường sử dụng mạng World Wide Web là một điểm ít nhất phải có trong
chu trình giao dịch, mặc dù nó có thể bao gồm một phạm vi lớn hơn về mặt
công nghệ như email, các thiết bị di động cũng như điện thoại.
Thương mại điện tử thông thường được xem ở các khía cạnh của kinh
doanh điện tử (e-business). Nó cũng bao gồm việc trao đổi dữ liệu tạo điều
kiện thuận lợi cho các nguồn tài chính và các khía cạnh thanh toán của việc
giao dịch kinh doanh.
E-commerce có thể được phân chia thành:
• E-tailing (bán lẻ trực tuyến) hoặc "cửa hàng ảo" trên trang web với các
danh mục trực tuyến, đôi khi được gom thành các "trung tâm mua sắm ảo".
• Việc thu thập và sử dụng dữ liệu cá nhân thông qua các địa chỉ liên lạc web
• Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), trao đổi dữ liệu giữa Doanh nghiệp với
Doanh nghiệp
• Email và fax và các sử dụng chúng như là phương tiện cho việc tiếp
cận và thiếp lập mối quan hệ với khách hàng (ví dụ như bản tin - newsletters)
8
• Việc mua và bán giữa Doanh nghiệp với Doanh nghiệp
• Bảo mật các giao dịch kinh doanh
Sự hình thành thương mại điện tử
Về nguồn gốc, thương mại điện tử được xem như là điều kiện thuận lợi
của các giao dịch thương mại điện tử, sử dụng công nghệ như EDI và EFT.
Cả hai công nghệ này đều được giới thiệu thập niên 70, cho phép các doanh
nghiệp gửi các hợp đồng điện tử như đơn đặt hàng hay hóa đơn điện tử. Sự
phát triển và chấp nhận của thẻ tín dụng, máy rút tiền tự động (ATM) và ngân
hàng điện thoại vào thập niên 80 cũng đã hình thành nên thương mại điện tử.
Một dạng thương mại điện tử khác là hệ thống đặt vé máy bay bởi Sabre ở
Mỹ và Travicom ở Anh.
Mozilla. Pizza Hut đặt hàng trên trang web này. Ngân hàng trực tuyến đầu
tiên được mở. Một số nỗ lực nhằm cung cấp giao hoa tươi và đăng ký tạp chí
trực tuyến. Các dụng cụ "người lớn" cũng có sẵn như xe hơi và xe đạp.
Netscape 1.0 được giới thiệu vào cuối năm 1994, giao thức mã hóa SSL làm
cho các giao dịch bảo mật hơn.
10
• 1995: Thứ năm, ngày 27 tháng 4 năm 1995, việc mua sách của ông
Paul Stanfield, Giám đốc sản xuất của công ty CompuServe tại Anh, từ cửa
hàng W H Smith trong trung tâm mua sắm CompuServe là dịch vụ mua hàng
trực tuyến đầu tiên ở Anh mang tính bảo mật. Dịch vu mua sắm trực tuyến bắt
đầu từ WH Smith, Tesco, Virgin/Our Price, Great Universal Stores/GUS,
Interflora, Dixons Retail, Past Times, PC World (retailer) và Innovations.
• 1995: Jeff Bezos ra mắt Amazon.com và thương mại miễn phí 24h, đài
phát thanh trên Internet, Radio HK và chương trình phát sóng ngôi sao
NetRadio. Dell và Cisco bắt đầu tích cực sử dụng Internet cho các giao dịch
thương mại. eBay được thành lập bởi máy tính lập trình viên Pierre Omidyar
như là dạng AuctionWeb .
• 1998: Tem điện tử được mua bán và tải trực tuyến từ Web.
• 1998: Alibaba Group được hình thành ở Trung Quốc.
• 1999: Business.com bán khoảng 7.5 triệu USD cho eCompanies, được
mua vào năm 1997 với giá 149,000 USD. Phần mềm chia sẻ tập tin ngang hàng
Napster ra mắt. ATG Stores ra mắt các sản phẩm trang trí tại nhà trực tuyến.
• 2000: bùng nổ dot-com.
• 2001: Alibaba.com đạt lợi nhuận trong tháng 12 năm 2001.
• 2002: eBay mua lại PayPal với 1.5 tỉ USD.
• 2003: Amazon.com đăng tải bài viết lợi nhuận hàng năm.
• 2004: DHgate.com, công ty B2C giao dịch trực tuyến đầu tiên ở Trung
Quốc được thành lập, buộc các trang web khác B2B bỏ mô hình "trang vàng".
• 2005: Yuval Tal sáng lập giải pháp phân phối thanh toán trực tuyến bảo mật.
• 2007: Business.com mua lại bởi R.H. Donnelley với 345 triệu USD.
hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua
mạng Internet".
• Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á -
Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa: "Thương mại điện tử liên quan đến các
giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân)
mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên
Internet." Các kỹ thuật thông tin liên lạc có thể là email, EDI, Internet và
Extranet có thể được dùng để hỗ trợ thương mại điện tử.
• Theo Ủy ban châu Âu: "Thương mại điện tử có thể định nghĩa chung là
sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình,
cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet
hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến). Thật ngữ
bao gồm việc đặt hàng và dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán
và quá trình vận chuyển hàng hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực
tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công."
Tóm lại, thương mại điện tử chỉ xảy ra trong môi trường kinh doanh
mạng Internet và các phương tiện điện tử giữa các nhóm (cá nhân) với nhau
thông qua các công cụ, kỹ thuật và công nghệ điện tử. Ngoài ra, theo nghiên
cứu tại đại học Texas, các học giả cho rằng thương mại điện tử và kinh doanh
điện tử đều bị bao hàm bởi Nền kinh tế Internet (Internet economy)
1.1.2. Các loại hình thương mại điện tử
13
Dựa vào chủ thể của thương mại điện tử, có thể phân chia thương mại
điện tử ra các loại hình phổ biến như sau:
- Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp - B2B (business to business);
- Giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng - B2C (business to consumer);
- Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước - B2G (business to
government);
- Giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau - C2C (consumer to
consumer);
tiện điện tử. Cơ quan nhà nước cũng có thể thiết lập những website tại đó
đăng tải thông tin về nhu cầu mua hàng của các cơ quan nhà nước, tiến hành
việc đấu thầu hàng hoá, dịch vụ và lựa chọn nhà cung cấp trên website. Điều
này một mặt giúp tiết kiệm các chi phí tìm nhà cung cấp, đồng thời giúp tăng
cường tính minh bạch trong hoạt động mua sắm công.
C2C là loại hình giao dịch giữa các cá nhân với nhau. Sự phát triển của
các phương tiện điện tử làm cho nhiều cá nhân có thể tham gia hoạt động
thương mại với tư cách là người bán, người cung cấp dịch vụ. Một cá nhân có
thể tự thiết lập website để kinh doanh những mặt hàng do mình làm ra hoặc
sử dụng một website có sẵn để đấu giá một số món hàng mình có. C2C góp
phần tạo nên sự đa dạng của thị trường.
G2C là loại hình giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân. Đây chủ
yếu là các giao dịch mang tính hành chính, nhưng có thể mang những yếu tố
của TMĐT. Ví dụ khi người dân đóng tiền thuế qua mạng, trả phí khi đăng ký
hồ sơ trực tuyến, v.v
1.1.3. Khung pháp lý cho thương mại điện tử
Năm 2006 là năm đầu tiên triển khai Kế hoạch tổng thể phát triển
thương mại điện tử giai đoạn 2006-2010 theo Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ. Năm 2006 cũng là năm mà khung pháp lý cho thương mại điện tử
bắt đầu đi vào cuộc sống: Luật Giao dịch điện tử, Luật Thương mại (sửa
15
đổi), Bộ luật Dân sự (sửa đổi) được Quốc hội thông qua năm 2005 và có hiệu
lực từ đầu năm 2006.
Nhiều sự kiện thương mại điện tử đã diễn ra trong 6 tháng đầu năm nay,
điển hình là việc Chính phủ ban hành Nghị định thương mại điện tử ngày
9/6/2006 hướng dẫn thi hành Luật Giao dịch điện tử và Luật Thương mại.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử ở mọi hình thức giao
dịch, các vấn đề an ninh, tội phạm liên quan đến thương mại điện tử có dấu
hiệu gia tăng.
Nghị định về Thương mại điện tử đánh dấu một bước tiến lớn trong việc
khai ứng dụng giao dịch điện tử trong các lĩnh vực lớn của đời sống xã hội.
Ngày 9/6/2006, Chính phủ ban hành Nghị định về Thương mại điện tử
với việc thừa nhận chứng từ điện tử có giá trị pháp lý tương đương chứng từ
truyền thống trong mọi hoạt động thương mại từ chào hàng, chấp nhận chào
hàng, giao kết hợp đồng cho đến thực hiện hợp đồng.
Ngày 15/2/2007, Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết về Chữ
ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số được ban hành. Nghị định này quy
định về chữ ký số và các nội dung cần thiết liên quan đến sử dụng chữ ký số,
bao gồm chứng thư số và việc quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ chứng
thực chữ ký số. Đây là những quy định nền tảng để thiết lập một cơ chế đảm
bảo an ninh an toàn cũng như độ tin cậy của các giao dịch điện tử, là điều kiện
tiên quyết về mặt kỹ thuật để thúc đẩy ứng dụng thương mại điện tử rộng rãi
trong xã hội.
Ngày 23/2/2007,Chính phủ ban hành Nghị định số 27/2007/NĐ-CP quy
định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính. Nghị
định này ra đời nhằm đảm bảo các điều kiện cần thiết để hình thành và phát
triển một môi trường giao dịch điện tử an toàn, hiệu quả; giúp Chính phủ
quản lý được giao dịch điện tử trong hoạt động nghiệp vụ tài chính, giảm
17
thiểu hậu quả xấu phát sinh trong giao dịch điện tử như trốn thuế, gian lận khi
lập hóa đơn chứng từ.
Ngày 8/3/2007, Nghị định số 35/2007/NĐ-CP về Giao dịch điện tử trong
hoạt động ngân hàng được ban hành tập trung hướng dẫn việc áp dụng Luật
Giao dịch điện tử cho các hoạt động ngân hàng cụ thể, bảo đảm những điều
kiện cần thiết về môi trường pháp lý để củng cố, phát triển các giao dịch điện
tử an toàn và hiệu quả đối với hệ thống ngân hàng.
1.2. Thị trường hàng không và xu hướng thương mại điện tử
1.2.3. Thị trường hàng không
Năm 2010, tổng số hành khách của toàn thị trường hàng không Việt
Nam được ghi nhận là 21 triệu, tăng 20% so với năm 2009, trong số này,
2010 ở mức cao kỷ lục. Số lượng tăng là 11% hàng năm kể từ năm 2009.
Điều này trùng hợp với lượng khách quốc tế đến Châu Á tăng 13%.
Với 62 dân số thế giới (4tỉ) và 27% GDP của thế giới, năm 2010 đạt
được 2,3 tỉ lượt hành khách, 43 triệu tấn hàng hoá, tổng doanh thu là 545 tỉ
US$ và lãi 7,7 tỉ US$, lớn nhất trên toàn thế giới.
Châu Á cũng đã ghi nhận có 43% của người sử dụng mạng trực tuyến,
3,1 dịch vụ thuê bao di động, 56% của thuê bao 3G trên thế giới và hơn 450
triệu người sử dụng internet trên điện thoại di động.
Từ sự phát triển nhanh chóng trong sử dụng dịch vụ trực tuyến, dịch vụ phụ
trợ, đặt chỗ từ xa và sự hồi phục nhu cầu đi lại phục vụ kinh doanh, Châu Á đã
sẵn sàng tiếp nối sự phát triển mạnh mẽ của 2010 để tiếp tục trong năm 2011.
“CƠ HỘI: mô hình hàng không giá rẻ của AirAsia gặt hái thành quả tài
chính
Trích dẫn từ báo “The Melbourne Age newsaper”, ngày 10/03/2011, tác
giả Clive Dorman
19
Tony Fernandes, người sáng lập Air Asia, thừa nhận “ông thật sự không
là người của hàng không”. Trong ngành hàng không, tỷ lệ lợi nhuận là rất
nhỏ, nhưng tháng trước Fernandes gây ấn tượng mạnh khi ông cho thấy một
hãng hàng không có thể kiếm được tiền ( thông qua việc nâng thu nhập phụ).
Những con số ngoạn mục: 500 triệu US$ lợi nhuận ròng trên 18,83 tỉ
US$ doanh thu trong năm 2010; trong khi năm 2009 2010 tập đoàn Qantas,
bao gồm cả Jetstar, chỉ đật được 112 triệu US$ trên 13.8 tỷ US$ doanh thu.
Nhưng đây chẳng phải là một bí quyết kỳ diệu nào cả. Khoảng 2/3 lợi
nhuận của hãng Air Asia đều từ “thu nhập phụ” - doanh thu gia tăng chủ yếu
từ “hàng hoá dịch vụ không chi phí”. Biệt ngữ kỹ thuật này nhằm chỉ dịch vụ
không tốn hay tốn rất ít chi phí sản xuất.
“ Hãy nhớ rằng, chúng tôi thêm những thứ như bảo hiểm. Vì thế chúng
tôi nói, nếu bạn đi du lịch, thì đây tất cả những thứ mà bạn có thể chi trả -
hàng miễn thuế, khách sạn, thức ăn, bảo hiểm…v…v… và chúg tôi nhấn
Qantas Có Quốc tế và quốc nội
Air NZ Có Quốc tế và quốc nội
Malaysian
Airlines
Có Quốc tế và quốc nội
Cathay Paccific Có Quốc tế
Air india Có Quốc nội
Air Asia (3 nước) Có Quốc tế và quốc nội
Bangkok Airways Có Quốc tế và quốc nội
Jetstar Có Quốc tế và quốc nội
Lion Air Có Quốc tế và quốc nội
Vigin Có Quốc tế và quốc nội
Mandala Airlines Có Quốc tế và quốc nội
Nok Air Có Quốc nội
Theo nghiên cứu của Hiệp hội vận chuyển hàng không quốc tế ( IATA),
theo đó:
21
Các hãng hàng không giá rẻ: Tỷ lệ khách hàng mua bảo hiểm du lịch
trực tuyến trong khoảng 35% - 45%
Những hãng hàng không truyền thống: Tỷ lệ khách hàng mua bảo hiểm
du lịch trực tuyến trong khoảng 25% - 40%
VNI là một công ty thành viên thuộc VNA có đội ngũ cán bộ có kinh
nghiệm và khả năng trong việc phối hợp, xây dựng các chương trình bảo hiểm
và quản lý rủi ro cho VNA, và khách hàng của VNA. Chương trình bảo hiểm
du lịch này là một phần trong một kế hoạch tổng thể quan hệ hợp tác chiến
lược của VNA và VNI, tạo thêm những giá trị gia tăng cho các hoạt động liên
quan đến sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm, quản lý rủi ro cũng như nâng cao uy
tín của VNA.
Để đảm bảo thành công, VNI đã tác hợp với các đối tác có năng lực và
kinh nghiệm hàng đầu trên thế giới. Đây là sự kết hợp giữa kinh nghiệm thị
dịch vụ.
Các cơ hội khác
Khi việc triển khai dịch vụ phát triển, chúng tôi phối hợp nghiên cứu và
đề xuất khả năng gia tăng dịch vụ bằng các chương trình bổ sung mà trong
bản giới thiệu này đã đề cập tới, đó là:
Chương trình tiếp thị đối với những khách hàng tiềm năng chưa mua bảo
hiểm thông qua hình thức tiếp cận bằng Email
Chương trình bảo hiểm hàng năm cho khách hàng thường xuyên của
VNA ( khách thẻ vàng, bạch kim).
Các kênh bán hàng trực tuyến khác của chúng tôi sẽ hỗ trợ cho việc tiếp
cận khách hàng nhiều chiều.
23
Sản phẩm và dịch vụ
- Vé một chiều
Bảo hiểm cho các dạng bay một chiều từ Việt Nam.
VNI đề xuất
Quyền lợi bảo
hiểm
Giới hạn
trách
nhiệm
(VND)
Giới hạn
trách
nhiệm
(US$)
Phí bảo
hiểm
VND US$
Huỷ chuyến đi Chi phí thực
khủng bố
Bao gồm Bao gồm
24
Jetstar Pacific
Quyền lợi bảo
hiểm
Giới hạn
trách nhiệm
(VND)
Giới hạn
trách nhiệm
(US$)
Phí bảo
hiểm
VND US$
Huỷ chuyến đi Chi phí thực
tế
Chi phí thực
tế
Quốc nội 40,000 2.50
Hoãn chuyến đi 160,000 mỗi
4 giờ lên
đến 800.000
10 mỗi 4
giờ lên đến
50
Quốc tế 60,000 3.50
Mất thiệt hại
hành lý ký gửi
4,800,000 300