BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG Nguyễn Văn Thái
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI
TRƢỜNG VÀ SINH TRƢỞNG CỦA TÔM TRONG CÁC
AO NUÔI TÔM (PENAEUS MONODON, FABRICIUS
1798) SÚ ĐA CHU KỲ ĐA AO TẠI HẢI PHÒNG Chuyên ngành: Nuôi trô
̀
ng thu
̉
y sa
̉
n
Mã số: 60.62.70
LUẬN VĂN THẠC SĨ
ii
LỜI CẢM ƠN
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Hoàng Thị Bích Mai đã tận tình giúp đỡ,
hƣớng dẫn và đóng góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô Khoa Nuôi trồng Thuỷ sản -
Trƣờng Đại học Nhà Trang đã giảng dạy, hƣớng dẫn tôi trong suốt khoá học.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Bùi Quang Tề - chủ nghiệm đề tài KC –
07.11/06-10 cùng tất cả các cán bộ, anh chị làm trong đề tài đã tạo mọi điều kiện tốt
nhất để tôi hoàn thành đƣợc đề tài nghiên cứu.
2.1. Đối tƣợng thời gian và địa điểm nghiên cứu 14
2.2. Nội dung nghiên cứu 14
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 14
2.3.1. Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm 14
2.3.2. Phƣơng pháp thu nƣớc mẫu 15
2.3.3. Phƣơng pháp thu thập và phân tích số liệu 15
Chƣơng 3 - KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 17
3.1. Diến biến các yếu tố môi trƣờng trong ao nuôi tôm sú của các Mô đun 17
3.1.1. Mô đun 1 cấp 17
3.1.2. Mô đun 2 cấp 20
3.1.3. Mô đun 3 cấp 26
3.2. Đánh giá yếu tố môi trƣờng trong ao nuôi tôm sú của các mô đun 32
3.3. Sinh trƣởng và tỷ lệ sống 33
iv
3.3.1. Mô đun 1 cấp 33
3.3.2. Mô đun 2 cấp 34
3.3.3. Mô đun 3 cấp 36
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
PHỤ LỤC 43 v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Sản lƣợng nuôi trồng thuỷ sản của thế giới giai đoạn 1964 - 2004 3
Bảng 1.2. Diện tích nuôi nƣớc lợ mặn và nuôi tôm của Việt Nam qua các
Hình 3.4. Diễn biến nhiệt độ nƣớc sáng- chiều trong các ao nuôi tôm của
mô đun 2 cấp 21
Hình 3.5. Diễn biến pH nƣớc sáng - chiều trong các ao nuôi tôm của
mô đun 2 cấp 22
Hình 3.6. Diễn biến Oxy hòa tan sáng - chiều trong các ao nuôi tôm của
mô đun 2 cấp 23
Hình 3.7. Diễn biến nhiệt độ nƣớc sáng - chiều trong các ao nuôi tôm của
mô đun 3 cấp 27
Hình 3.8. Diễn biến pH nƣớc sáng - chiều trong các ao nuôi tôm của 27
Hình 3.9. Diễn biến Oxy hòa tan sáng - chiều trong các ao nuôi tôm của
mô đun 3 cấp 28
Hinh 3.10. Đồ thị sinh trƣởng về khối lƣợng của tôm (g/con) trong mô đun
1 cấp 34
Hình 3.11. Đồ thị tốc độ sinh trƣởng về khối lƣợng theo ngày (g/ngày) của
tôm trong mô đun 1 cấp 34
Hinh 3.12. Đồ thị sinh trƣởng về khối lƣợng của tôm (g/con) trong mô đun 2
cấp (Vụ 1: A5-1, B6-1, B8-1, Vụ 2: A5-2, B6-2, B8-2) 35
vii
Hình 3.13. Đồ thị tốc độ sinh trƣởng về khối lƣợng theo ngày (g/ngày) của
tôm trong mô đun 2 cấp (Vụ 1: A5-1, B6-1, B8-1, Vụ 2: A5-2, B6-
2, B8-2) 35
Hình 3.14. Đồ thị sinh trƣởng về khối lƣợng của tôm (g/con) trong mô đun 3
cấp (Vụ 1: A1-1, A2-1, A3-1, Vụ 2: A1-2, A2-2, A3-2) 37
Hình 3.15. Đồ thị tốc độ tăng trƣởng về khối lƣợng theo ngày (g/ngày) của
tôm trong mô đun 3 cấp (Vụ 1: A1-1, A2-1, A3-1, Vụ 2: A1-2,
A2-2, A3-2) 37
hệ sinh thái ao nuôi.
Để có đƣợc vụ nuôi đạt kết quả tốt trong bất kỳ mô hình nào thì vấn đề quản lý
môi trƣờng luôn đƣợc đặt lên hàng đầu. Làm đƣợc điều này, chúng ta phải theo dõi
biến động các yếu tố môi trƣờng từ đó đƣa ra những quyết định về sự điều khiển môi
trƣờng một cách tối ƣu.
Vì thế đề tài “Nghiên cứu biến động các yếu tố môi trường và sinh trưởng
của tôm trong ao nuôi tôm sú (Penaeus monodon, Fabricius 1798) thâm canh đa
chu kỳ đa ao tại Hải Phòng” đƣợc thực hiện với nội dung sau: 2
Nội dung:
- Theo dõi diễn biến các yếu tố nhƣ: nhiệt độ, pH, độ đục, oxy hòa tan, độ mặn,
độ kiềm, NH
3
, NO
2
, H
2
S, mực nƣớc trong các ao nuôi tôm sú (Penaeus monodon,
Fabricius 1798) thâm canh đa chu kỳ đa ao.
- Đánh giá mối liên quan giữa sinh trƣởng và yếu tố môi trƣờng của tôm sú nuôi
thâm canh đa chu kỳ đa ao.
Đơn vị: 1000 tấn
Khu vực
1984
1994
2000
2001
2002
2003
2004
Châu Phi
36,9
95,3
408
414,33
463,4
531,3
570,1
Bắc Mỹ
351,9
528,5
711,2
783,1
834,4
887,7
955,2
Nam Mỹ
58,6
341,2
74.399
973
45.657
48.555
51.972
55.183
59.408
(Nguồn : Thống kê của FAO)
Những năm thập kỷ 80, lƣợng tôm bán trên thị trƣờng thế giới chủ yếu do đánh
bắt ngoài tự nhiên. Năm 1985, nghề nuôi tôm phát triển nhanh đột ngột và trở thành
một ngành công nghiệp nhiều lợi nhuận nhƣng cũng lắm rủi ro. sản lƣợng tôm chiếm
30% và 58% tổng sản lƣợng tôm bán ra trên thế giới vào năm 1995 và 1996 [10].
Ngày nay, tôm Sú là một loại hàng hóa thu hút rất nhiều các chủ đầu tƣ do nghề nuôi
tôm mang lại lợi nhuận không nhỏ cho ngƣời nuôi. Theo số liệu của FAO sản lƣợng
tôm nuôi của cả năm 2003 ƣớc đạt 1,35 triệu tấn tăng 11% so với sản lƣợng ƣớc tính
năm 2002 và 15% so với sản lƣợng thực tế năm 2001. Riêng Trung Quốc sản lƣợng
ƣớc đạt 390.000 tấn, tăng 15% so với sản lƣợng ƣớc tính năm 2002 và 28% sản lƣợng
thực tế năm 2001 là 30.400 tấn. Sản lƣợng của Việt Nam tăng mạnh từ 50.000 tấn năm
4
2001 đến 190.000 tấn năm 2002, và 240.000 tấn năm 2003 [5]. Xét về năng suất trung
bình thì những quốc gia có diện tích nuôi tôm nhỏ (< 250 ha) thƣờng đạt năng suất
bình quân cao (> 2000 kg/ha) nhƣ Venezuela, Mỹ, Nhật, Úc, Đài Loan, Malaysia, với
những quốc gia có khoa học kỹ thuật cao nhƣ Nhật Bản thì năng suất bình quân lớn
hơn 3000 kg/ha/vụ [6].
Bên cạnh những lợi nhuận mang lại thì những thiệt hại do nghề nuôi tôm gây ra
cũng rất lớn. Năm 1987 – 1988 dịch bệnh xảy ra đối với ngành công nghiệp nuôi tôm
ở Đài Loan gây thiệt hại 80% sản lƣợng. Tại Trung Quốc, sản lƣợng đã giảm sút
92.000 tấn từ năm 1992 đến năm 1993. Gần đây, sản lƣợng tôm Thái Lan năm 2002
giảm 60.000 tấn so với năm 2001. Để tránh những thiệt hại do tôm sú gây ra Thái lan
đã đƣa tôm he chân trắng vào nuôi thử nghiệm và loài này đã chiếm 10% tổng sản
lƣợng tôm cả nƣớc vào năm 2003 [3].
có giảm nhƣng vẫn tiếp tục gây thiệt hại cho ngƣời nuôi.
Sự phát triển nhanh của nghề nuôi tôm thƣơng phẩm đƣợc đánh dấu vào năm
2000, khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 09, cho phép chuyển đổi một phần diện tích
trồng lúa, làm muối năng suất thấp, đất hoang hoá sang nuôi trồng thuỷ sản. Diện tích
nuôi tôm đã tăng từ 250.000 ha năm 2000 lên đến 478.000 ha năm 2001 và 540.000 ha
năm 2003. Chỉ trong vòng một năm sau khi ban hành Nghị quyết 09, đã có 235.000 ha
gồm 232.000 ha ruộng lúa, 1.900 ha ruộng muối và 1.200 ha diện tích đất hoang hoá
ngập mặn đƣợc chuyển đổi thành ao nuôi tôm. Cho đến nay, diện tích nuôi tôm ở Việt
Nam vẫn tiếp tục tăng, tuy nhiên tốc độ đã có phần chững lại. Theo số liệu hiện có,
Việt Nam là nƣớc có diện tích nuôi tôm vào loại lớn trên thế giới, vƣợt xa Indonexia,
nƣớc có diện tích nuôi tôm lớn nhất vào năm 1996, khoảng 360.000 ha (Hanafi và T.,
Ahmad, 1999). Phần lớn diện tích nuôi tôm ở Việt Nam tập trung ở đồng bằng sông
Cửu Long, rải rác dọc các cửa sông, kênh, rạch ven biển miền Trung và ở đồng bằng
sông Hồng, sông Thái Bình ở miền Bắc.
Bảng 1.2. Diện tích nuôi nước lợ mặn và nuôi tôm của Việt Nam qua các năm (ha)
Năm
2001
2002
2003
2004
2005
2006
Diện tích nƣớc lợ mặn
502.2
556.1
612.8
642.3
661.0
689.2
Diện tích nuôi tôm
9.215
Bắc Trung bộ
168
888
1,351
1.713
3.552
6.387
Nam Trung bộ
589
4.135
6,993
17.153
23.727
20.890
Đông Nam bộ
542
1.570
3,652
990
3.153
4.359
Tây Nam bộ
30.333
47.121
44,307
81.875
127.899
153.122
(Nguồn: Báo cáo của bộ thủy sản 2003)
đa ao – 3 mô đun (theo Bùi Quang tề, 2008) [8]
Mô hình nuôi một cấp (1 chu kỳ nuôi gồm 1 giai đoạn):
7
- Một giai đoạn (1 cấp)- nuôi 120 ngày (16 tuần).
Ao của mô hình nuôi 1 cấp, thời gian nuôi của một chu kỳ là 16 tuần.
Biểu đồ phác họa hình 1 cho thấy với môđun một cấp, ao cấp 1 có thể nuôi lặp lại
đƣợc 2 chu kỳ là tối ƣu nhất. Thời gian nghỉ của các cấp ao giữa các chu kỳ là 1- 5 tuần.
Hình 1.1. Biểu đồ phác hoạ - chƣơng trình sản xuất tối ƣu mô đun 1 cấp, nuôi
2 vụ/năm
Mô hình nuôi hai cấp (1 chu kỳ nuôi gồm 2 giai đoạn):
- Giai đoạn 1 (cấp 1)- nuôi 40 ngày (6 tuần);
- Giai đoạn 2 (cấp 2)- nuôi 80 ngày (12 tuần);
Ao cấp 2 của mô hình nuôi 2 cấp, thời gian nuôi của một chu kỳ là 12 tuần, tối
đa nuôi một năm là 4 chu kỳ (52 tuần/12).
Biểu đồ phác họa hình 1 cho thấy với mô đun 2 cấp, ao cấp 1 trong một năm có
thể nuôi lặp lại đƣợc 6 chu kỳ, 2 ao cấp 2 có thể nuôi lặp lại đƣợc 3 chu kỳ là tối ƣu
nhất. Thời gian nghỉ của các cấp ao giữa các chu kỳ là 1- 5 tuần.
Hình 1.2. Biểu đồ phác hoạ- chƣơng trình sản xuất tối ƣu- mô đun 2 cấp, nuôi 6
vụ- ao cấp 1 /năm; nuôi 3 vụ- ao cấp 2 /năm
Mô hình nuôi ba cấp (1 chu kỳ nuôi gồm 3 giai đoạn):
- Giai đoạn 1 (cấp 1)- nuôi 40 ngày (6 tuần);
- Giai đoạn 2 (cấp 2)- nuôi 40 ngày (6 tuần);
- Giai đoạn 3 (cấp 3)- nuôi 40 ngày (6 tuần).
Ao cấp 1 của mô hình 3 cấp, thời gian nuôi một chu kỳ là 6 tuần (40 ngày), nhƣ
vậy trong một năm tối đa nuôi đƣợc 8 chu kỳ (52 tuần/6).
Ao cấp 2 và cấp 3 của mô hình nuôi 3 cấp, thời gian nuôi của một chu kỳ là 6
tuần, tối đa nuôi một năm là 8 chu kỳ (52 tuần/6).
hydrogen sulfide- H
2
S. Ngoài ra một số trƣờng hợp gây độc do kim loại và thuốc trừ
sâu có thể gây ô nhiễm trong nuôi trồng thủy sản [10].
Nhiệt độ nƣớc
Tôm là nhóm động vật biến nhiệt, nhiệt độ cơ thể của chúng chủ yếu phụ thuộc
vào nhiệt độ nƣớc (môi trƣờng sống), dù chúng có vận động thƣờng xuyên, thì kết quả
vận động sinh ra nhiệt không đáng kể. Nhiệt độ nƣớc quá cao hoặc quá thấp đều không
thuận lợi cho đời sống của tôm. Nếu nhiệt độ vƣợt quá giới hạn cho phép có thể dẫn
đến tôm chết thậm chí chết hàng loạt do đó mỗi một loài tôm có ngƣỡng nhiệt độ khác
nhau. Khi nhiệt độ nƣớc trong ao là 35
0
C tỷ lệ sống của tôm sú (Penaeus monodon) là
100%, nhƣng ở nhiệt độ 37,5
0
C tôm chỉ còn sống 60%, nhiệt độ 40
0
C tỷ lệ tôm sống
40%. Nhiệt độ thích hợp nhất là 28
0
-33
0
C đối với tôm sú nuôi thƣơng phẩm.
9
Sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ (ngay cả trong phạm vi thích hợp) cũng có thể
khiến cho tôm bị sốc (stress) mà chết. Trong quá trình vận chuyển, nuôi dƣỡng cần
chú ý sự chênh lệch nhiệt độ và nhất là sự thay đổi nhiệt độ đột ngột. Nếu nhiệt độ
chênh lệch 5
0
Tôm sống trong nƣớc nên hàm lƣợng oxy hoà tan trong nƣớc rất cần thiết cho
đời sống của tôm. Nhu cầu oxy phụ thuộc vào từng loài, từng giai đoạn phát triển,
trạng thái sinh lý, nhiệt độ. Khi nhiệt độ tăng thì lƣợng tiêu hao oxy của tôm cũng tăng
10
lên. Nhu cầu oxy hoà tan trong nƣớc tối thiểu của cá là 3 mg/l, với tôm là 5 mg/l.
Trƣờng hợp oxy hoà tan thấp hơn mức gây chết kéo dài làm cho tôm bị sốc, ảnh hƣởng
xấu đến tỷ lệ sống, tăng trƣởng và phát dục của chúng. Tôm sú giống (P. monodon) và
tôm chân trắng giống (P. vannamei) giới hạn gây chết của oxy hòa tan từ 1,17-
1,21mg/l (theo Seidman và Lawrence, 1985).
Độ pH của nƣớc
Độ pH của nƣớc ảnh hƣởng rất lớn đến đời sống của động vật thuỷ sinh. Tuy
phạm vi thích ứng độ pH của tôm tƣơng đối rộng; Phần lớn các loài tôm là pH = 6,5-
9,0. Nhƣng pH từ 4,0-6,5 và 9,0-11 làm cho tôm chậm phát triển và thấp dƣới 4 hoặc
cao quá 11 là giới hạn gây cho tôm chết. Ví dụ: một số khu vực đồng bằng sông Cửu
Long bị xì phèn mùa nƣớc lũ pH của nƣớc giảm xuống dƣới 5 thậm chí giảm còn pH =
3-4, đã gây sốc cho tôm sú nuôi ở Cà Mau, Trà Vinh.
Trong ao nuôi tôm pH biến đổi theo theo sự quang hợp của thực vật trong ngày.
Nƣớc hệ đệm kém thì thƣờng buổi sáng sớm khi mặt trời chƣa mọc độ pH là 6 và buổi
chiều là 9 hoặc cao hơn. Do đó trong ao nuôi tôm thƣờng xuyên giữ nƣớc có độ kiềm thấp
để cân bằng pH tăng cao khi quá trình quang hợp mạnh. Có một số trƣờng hợp độ kiềm cao,
độ cứng thấp độ pH tăng lên 10 khi quá trình quang hợp mạnh (theo Wu và Boyd, 1990).
Buổi chiều pH quá cao có thể gây chết ấu trùng tôm và động vật phù du. Thời tiết khô hạn,
nƣớc tầng mặt bốc hơi có thể pH cao (nƣớc kiềm) và không phù hợp cho nuôi tôm. Trong
ao nuôi tôm pH tốt nhất từ 7,5-8,5 và biến thiên trong ngày không quá 0,5 đơn vị.
Độ kiềm
Độ kiềm trong nƣớc chủ yếu là các ion HCO
3
-
(bicarbonate kiềm), CO
2
là do quá trình hô hấp của sinh vật và khuyếch tán từ không khí vào, số
11
CO
2
khuyếch tán từ không khí vào không đáng kể. Lƣợng CO
2
tăng hoặc giảm là
nguyên nhân làm cho pH thay đổi. Bicarbonate là hệ đệm chống lại thay đổi đột ngột
của pH. Nếu H
+
tăng, thì H
+
phản ứng với HCO
3
-
tạo thành CO
2
và nƣớc, trong khi đó
hằng số K không đổi do đó pH chỉ thay đổi nhẹ. Tăng OH
-
kết quả chỉ làm giảm H
+
bởi vì CO
2
và H
2
O phản ứng mạnh hơn với H
3
-
, OH
-
, SiO
4-
3
, PO
4
3-
, NH
3
và
các chất hữu cơ khác, tuy nhiên hàm lƣợng chủ yếu có trong nƣớc là CO
3
2-
, HCO
3
-
, OH
-
.
CO
2
trong nƣớc tự nhiên phản ứng với bicarbonate của đá và đất, nhƣ hai
khoáng kiềm là đá vôi (CaCO
3
) và dolomite CaMg(CO
3
)
Hai khoáng chất trên khi sử dụng đều tăng độ kiềm, nhƣ dolomite (2) cho lƣợng
bicarbonate tăng gấp đôi đá vôi.
Trong ao nuôi tôm có độ kiềm thấp, hệ đệm yếu pH sẽ dao động lớn trong ngày,
cho nên cần bổ xung dolomite để nâng cao độ kiềm làm cho hệ đệm mạnh sẽ điều
chỉnh ổn định pH trong ngày.
Ammoniac - NH
3
Ammoniac - NH
3
đƣợc tạo thành trong nƣớc do các chất thải của nhà máy hoá
chất, sự phân giải các chất hữu cơ trong nƣớc và sản phẩm trao đổi chất của sinh vật
nói chung, tôm nuôi trong ao nói riêng.
Sự tồn tại NH
3
và NH
4
+
trong nƣớc phụ thuộc vào nhiệt độ, độ pH và độ mặn
của nƣớc, NH
3
rất độc đối với tôm. Nƣớc càng mang tính axit (độ pH thấp), NH
3
càng
chuyển sang NH
4
+
ít độc, môi trƣờng càng kiềm NH
3
càng bền vững và gây độc cho
+ O
2
NO
3
-
Nếu môi trƣờng thiếu oxy thì quá trình chuyển hóa đạm chỉ đến nitrite (NO
2
)
khi động vật thủy sản hấp thu phản ứng với Hemoglobin tạo thành Methemoglobin:
Hb + NO
2
-
= Met-Hb
Phản ứng này sắt trong nhân hemoglobin của máu cá bị oxy hóa thành sắt, kết
quả methemoglobin mất khả năng vận chuyển oxy. Nitrite gây độc máu cá và chuyển
thành màu nâu. Ở giáp xác cấu tạo hemocyanin là Cu trong nhân thay sắt. Phản ứng
của nitrite với hemocyanin kém, nhƣng nitrite cũng có thể gây độc cho giáp xác. Nồng
độ gây chết 50% 96 h (LC50- 96h) ở tôm nƣớc ngọt từ 8,5-15,4 mg/l. Tôm càng xanh
chậm phát triển ở nồng độ nitrite 1,8-6,2 mg/l (theo Colt, 1981). Nƣớc lợ do có nồng
độ canxi và clo cao nên độc tố của nitrite giảm, ví dụ postlarvae tôm sú (P. monodon)
có LC50-24h là 204mg/l và LC50-96 là 45mg/l (Chen và Chin, 1988).
Sulfide hydro - H
2
S
H
2
S đƣợc sinh ra do phân huỷ các chất hữu cơ có chứa lƣu huỳnh do vi sinh
vật, đặc biệt trong điều kiện yếm khí (thiếu oxy). Khí độc H
2
S ảnh hƣởng đến sức
Thông số
Giới hạn thích hợp
Yêu cầu
Nhiệt độ
28 - 32
0
C
Biến động hàng ngày < 3
0
C
pH
7,0 - 8,3
Biến động hàng ngày < 0,5
Độ mặn
15 - 25‰
Biến động hàng ngày < 5‰
Oxy hòa tan
5 – 9ppm (mg/l)
≥ 5ppm (mg/l)
Độ kiềm
> 100ppm (mg CaCO
3
/l)
Tạo thành hệ đệm và ổn định pH
Độ trong
30 - 40cm
Phụ thuộc tảo phát triển và ô nhiễm nƣớc
NH
3
3
NO
2
mg/l
< 0,35
4
pH
6 ÷ 9
5
Nhiệt độ
o
C
18 ÷ 33
6
Độ muối
‰
5 ÷ 35
7
Ôxy hoà tan (DO)
mg/l
≥ 3,0
8
Độ trong
Cm
20 ÷ 50
9
Kiềm
mg/l
cấp và mô đun 3 cấp.
+ Mô đun 1 cấp gồm 2 ao B7, B9 (800m
2
), nuôi một giai đoạn từ thả tôm post
cho đến thu hoạch.
Trong mô đun 1 cấp chỉ có một vụ nuôi từ ngày 7/4/2010.
+ Mô đun 2 cấp gồm 3 ao: ao cấp 1 (A5- 400 m
2
), 2 ao cấp 2 (B6, B8- 800 m
2
).
Một chu kỳ nuôi của mô đun 2 cấp sẽ phân ra 2 giai đoạn khác nhau:
Giai đoạn 1: Nuôi 40 ngày trong ao cấp 1, sau đó chuyển sang ao cấp 2.
Giai đoạn 2: nuôi 80 ngày tiếp theo đến khi thu hoạch.
Trong mô đun 2 cấp có 2 vụ nuôi, vụ 1 từ ngày 7/4/2010 và vụ 2 từ ngày
10/7/2010.
+ Mô đun 3 cấp gồm 3 ao: ao cấp 1 (A1- 400 m
2
), ao cấp 2 (A2- 800 m
2
), và ao cấp 3
(A3- 1.600 m
2
). Một chu kỳ nuôi của mô đun 3 cấp sẽ phân ra 3 giai đoạn khác nhau:
Giai đoạn 1: Nuôi 40 ngày trong ao cấp 1, sau đó chuyển sang ao cấp 2.
Giai đoạn 2 : Nuôi 40 ngày trong ao cấp 2, sau đó chuyển sang ao cấp 3.
Giai đoạn 3: nuôi 40 ngày tiếp theo đến khi thu hoạch.
Trong mô đun 3 cấp có 2 vụ nuôi, vụ 1 từ ngày 14/4/2010 và vụ 2 từ ngày
4/6/2010.
Trực tiếp dùng dụng cụ đo các yếu tô môi trƣờng ao nuôi hoặc thu mẫu nƣớc đƣa
về phòng thí nghiệm để phân tích.
- Nhiệt độ (T
o
C) : Đo ngày 2 lần vào lúc 6h và 14h bằng nhiệt kế rƣợu độ chính
xác 1
o
C
- pH nƣớc : Đo ngày 2 lần vào lúc 6h và 14h bằng pH test (so màu chuẩn)
- Oxy hòa tan (mgO
2
/L) : Đo ngày 2 lần vào lúc 6h và 14h bằng test so màu
- Độ trong (cm) : Đo ngày 1 lần vào lúc 14h bằng đĩa secchi và thƣớc mét
- Mực nƣớc(cm) : Đo 1 lần/tuần vào lúc 6h bằng thƣớc mét cắm ở ao, độ chính
xác 1 cm
- Độ mặn (‰) : Đo 1 lần/tuần vào lúc 6h bằng khúc xạ kế
- Độ kiềm (mgCaCO
3
/L) : Xác định 1 lần/tuần, dùng bộ alkalinity test, công
thức: số mgCaCO
3
/L = số giọt thuốc chuẩn × 17.9.
- Ammonia tổng số,
NO
2
: Xác định 1 lần/tuần bằng test so màu
- H
2
S: Xác định 1 lần/tuần theo phƣơng pháp Methylene blue
C
(32,2
0
C), nhiệt độ trong ngày đêm biến thiên
trung bình không quá 3
0
C (29,3/32,2).
Trong tuần đầu thả tôm nhiệt độ còn thấp dao động từ 24,5
0
C – 26,86
0
C. Đây là
đặc điểm của khí hậu miền bắc đầu tháng 4 thời tiết vẫn còn hơi lạnh. Vì vậy trong
thời gian đầu thả tôm cần duy trì mực nƣớc ao cao khoảng 1- 1,2 m để ổn định nhiệt
độ nƣớc ao nuôi, tốt nhất nên thả tôm khi nhiệt độ miền Bắc đã lên cao trên 25
0
C,
thƣờng là sau thanh minh.
Từ tuần thứ 6 tới tuần thứ 17, nhiệt độ tăng khá cao vào buổi chiều, cao nhất là
35.5
0
C và có xu hƣớng tiếp tục tăng vào các tuần tiếp theo. Nhiệt độ này không thích
hợp với hoạt động sống của tôm, đây là khó khăn trong các ao nuôi tôm ở miền Bắc,
vào giữa mùa hè nhiệt độ có thể lên đến 37
0
C, Để khắc phục điều này ao nuôi tôm nên
có độ sâu ngập nƣớc đạt 1,2 m trở lên.
Ngày