BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
CHÂU HỮU TRỊ
ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ NUÔI TRỒNG
THUỶ SẢN-TRƯỜNG HỢP HUYỆN THẠNH PHÚ,
TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang - Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Những số liệu, dữ liệu
và kết quả đưa ra trong luận văn là trung thực. Nội dung luận văn chưa từng được công
bố bởi bất kỳ tác giả nào khác.
Tác giả Châu Hữu Trị ii
iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các bảng
vi
Danh mục các hình
vii
Danh mục các chữ viết tắt
viii
MỞ ĐẦU
1
1.3.1. Nước biển dâng
12
1.3.2. Xâm nhập mặn
14
1.3.3. Bão và lũ lụt
16
1.3.4. Đất đai bị mất
16
1.3.5. Sạc lở ven biển và ven sông
17
1.4. Sơ lược một số giải pháp thích ứng với tác động của biến đổi
khí hậu
18
1.4.1. Thích ứng với hiện tượng sạc lở
19
1.4.2. Thích ứng với bão
20
1.4.3. Thích ứng với xâm nhập mặn
22
1.5. Phân tích hiệu quả chi phí: xây dựng công thức
23
2.1. Thảo luận nhóm
31
2.1.1. Cuộc thảo luận nhóm thứ nhất
31
2.1.2. Cuộc thảo luận nhóm thứ nhất
31
2.1.3. Cuộc thảo luận nhóm thứ ba
32
2.2. Khảo sát hộ gia đình
32
2.2.1. Xây dựng bảng câu hỏi
32
2.2.2. Khảo sát thử nghiệm
32
2.2.3. Khảo sát hộ gia đình
33
2.3. Phân tích kinh tế của các chiến lược thích ứng
33
2.4. Đánh giá mức độ tổn thương
33
3.2.4. Tác động của sạc lở đất …………………………………
47
3.2.5. Các vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu
47
3.2.6. Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu …………
48
3.3. Chỉ số tổn thương hộ gia đình ………………………………….
49
v 3.4. Tác động của biến đổi khí hậu lên nông nghiệp và nuôi trồng
thuỷ sản huyện thạnh phú ……………………………………………
50
3.4.1. Tác động của bão lên nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
50
3.4.2. Tác động của nhiễm mặn lên nông nghiệp và nuôi trồng
thuỷ sản ………………………………………………….
52
3.4.3. Tác động của sạc lở đất lên nông nghiệp và nuôi trồng
thuỷ sản ………………………………………………….
54
3.5. Phân tích hiệu quả chi phí các dự án ứng phó biến đổi khí hậu
vi DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1:
Ví dụ về cách thức đo lường lợi ích…………………………………
27
Bảng 2:
Các biến được sử dụng trong mô hình………………………………
Bảng 12:
Phân kỳ đầu tư (tỷ đồng)
56
Bảng 13:
Chi phí hoạt động và bảo trì của hệ thống đê biển (tỷ đồng)
56
Bảng 14:
Chi phí đầu tư cho hệ thống thuỷ lợi (đồng)
57
Bảng 15:
Phân kỳ đầu tư hệ thống thuỷ lợi (đồng)
57
vii DANH MỤC CÁC HÌNH
48
Hình 9:
Phân phối của chỉ số tổn thương
50
viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBA: Cost Benefit Analysis
CCFSC: Central Committee for Flood and Storm Control
CCIR: Climate Change Information Resource
CCSP: Climate Change Science Program
CEA: Cost Effective Analysis
CER: Cost Effective Ratio
EPA: Environmental Protection Agency
IPCC: Intergovernmental Panel on Climate Change
ISPONRE: Institute of Strategy and Policy on Natural Resources and Environment
MHC: Marine Hydrometeorology Center
PVC: Present Value Cost
UNDP: United Nations Development Programme
UNFCCC: United Nation Framework Convention on Climate Change
USGS: United States Geological Survey 1
MỞ ĐẦU
2
đều là các nước đang phát triển nằm trong nhóm các quốc gia có thu nhập thấp hoặc
trung bình thấp; Việt Nam là nước bị ảnh hưởng nặng thứ tư trong mười quốc gia này.
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi
khí hậu trên thế giới. Những thành quả đạt được trong việc đưa hàng triệu người thoát
khỏi cảnh đói nghèo đang bị đe doạ do sự tăng lên của thiên tai trong tương lai như
mưa bão, hạn hán, nhiệt độ tăng và nước biển dâng (OXFAM 2008). Theo Đánh giá
về Biến đổi khí hậu của Việt Nam (ISPONRE 2009), Việt Nam cũng đã chứng kiến
những thay đổi trong các thành tố của khí hậu cũng như hiện tượng thời tiết cực đoan
như bão, mưa lớn và hạn hán. Nhiệt động tăng lên 0,5-0,7
0
C trong vòng 50 năm qua
từ nam ra bắc, và tần số của các đợt không khí lạnh đã giảm đi 2,45 đợt trong 50 năm
qua. Các khu vực ven biển chịu tác động của các trận bão hình thành trên Biển Đông
với tần số trung bình là 7 trận bão mỗi năm. Số liệu ghi chép của chỉ ra rằng số lượng
các trận bão nhiệt đới cũng đã tăng lên 2,15 trận trong vòng 50 năm qua, và nước biển
dâng 20 cm cứ mỗi 50 năm. Nhiệt độ ở Việt Nam vào năm 2100, so với giai đoạn
1980-1999, sẽ có thể tăng lên vào khoảng 1,1-1,9
0
C đến 2,1-2,6
0
C; lượng mưa hàng
năm có thể tăng lên khoảng 1.6%-14.6%; và nước biển có thể dâng từ 11.5 cm-68 cm.
Trong số các tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng với tốc độ 0.5-0.6 cm một
năm là điều đáng lo ngại nhất, đặc biệt đối với khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Báo cáo này cũng đồng thời chỉ ra rằng biến đổi khí hậu sẽ tác động mạnh nhất
đến sản xuất nông nghiệp và nguồn nước. Lũ lụt và hạn hán có thể xảy ra thường
xuyên hơn do sự tăng lên của lượng mưa và sự giảm đi của số ngày mưa. Đồng bằng
sông Cửu Long và sông Hồng-những nơi sản xuất lúa gạo quan trọng-sẽ có thể bị tác
phó là điều hết sức cần thiết.
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre-là một trong ba
tỉnh ven biển chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu- với các mục tiêu như
sau:
1. Đánh giá mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu
2. Lượng giá tổn thất đối với nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản gây nên bởi các
hiện tượng xâm nhập mặn, bão và sạc lở đất
3. Phân tích hiệu quả chi phí hai dự án ứng phó biến đổi khí hậu đang được Uỷ
ban Nhân dân tỉnh Bến Tre cân nhắc thực hiện.
4
4. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được kết cấu thành bốn
chương.
Chương 1: Tổng quan lý thuyết
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Thảo luận và kết luận
Thời tiết, như chúng ta thường hay nói, là những gì đang xảy ra trong khí
quyển ở một nơi cụ thể và thời gian cụ thể. Thời tiết được đo bằng tốc độ gió, nhiệt độ,
độ ẩm, áp suất khí quyển, mây và lượng mưa. Ở hầu hết các nơi, luôn có sự thay đổi
trong thời tiết từ, ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác và mùa này
sang mùa khác
1
.
Khí hậu, theo nghĩa hẹp, thường được định nghĩa là "thời tiết trung bình", hoặc
cụ thể hơn, theo cách thống kê mô tả với giá trị trung bình và sự biến đổi của các đại
lượng trong khoảng thời gian một tháng, một năm hoặc hàng triệu năm. Các đại lượng
này thường là sự những yếu tố bề ngoài của thời tiết như nhiệt độ, lượng mưa và gió.
Khí hậu, theo nghĩa rộng lớn hơn, là trạng thái của “hệ thống khí hậu” bao gồm khí
quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, mặt đất và các phần nước bị đóng băng (IPCC 2001).
Khí hậu khác nhau giữa các khu vực trên thế giới bởi vì mỗi khu vực có các yếu tố địa
lý khác nhau như độ cao so với mực nước biển, lượng ánh sáng mặt trời nhận được
Thời tiết của chúng ta luôn luôn thay đổi và bây giờ các nhà khoa học cũng
phát hiện ra rằng khí hậu cũng không “đứng yên”. Tuy nhiên, trong khi những thay
đổi trong thời tiết có thể xảy ra đột ngột và dễ nhận ra thì những thay đổi trong khí
hậu thì khó nhận ra vì nó phải mất một thời gian dài để “hiện hình”. Thời tiết cụ thể
mà chúng ta trải qua có thể khác nhau một chút năm này so với năm tiếp theo, một vài
mùa hè nóng hơn, hoặc một vài mùa đông lạnh hơn, những thứ đó có thể khiến chúng
ta kết luận rằng khí hậu thay đổi. Mặc khác, vì chúng ta nhận ra những thay đổi đó và
truyền hình cũng như báo chí đôi khi đề cập đến biến đổi khí hậu trong cùng một câu 1
http://www.nasa.gov/mission_pages/noaa-n/climate/climate_weather.html
6
chuyện khi họ nói về những hiện tượng thời tiết bất thường nên đã khiến cho chúng ta
bầu khí quyển của chúng ta gia tăng nhanh chóng, chủ yếu là do việc đốt các nhiên
liệu hóa thạch thải ra lượng khí carbonic vào khí quyển (UNFCCC 2007). Mặc dù một
số lượng khí carbon dioxide thải ra được hấp thụ vào đại dương hoặc cây xanh, trong
ngắn hạn, khoảng một nửa lượng khí này vẫn còn trong bầu khí quyển. Hoạt động 2
http://www.epa.gov/climatechange/science/pastcc.html
3
http://www.eo.ucar.edu/basics/cc_1.html
4
http://www.cgrer.uiowa.edu/people/carmichael/atmos_course/ATMOS_PROJ_99/bilskemp/background.html
7
công nghiệp cũng đã phát ra nhiều khí nhà kính vào khí quyển. Do đó, trong 100 năm
qua nhiệt độ địa cầu đã tăng nhanh hơn so với những ghi chép trong lịch sử. Các nhà
khoa học cho rằng việc nóng lên mỗi lúc một nhanh của bầu khí quyển là do số lượng
ngày càng tăng của các loại khí gây hiệu ứng nhà kính mà những khí này giữ nhiệt
ngày một nhiều hơn. Các cụm từ "nóng lên toàn cầu" đề cập đến thực tế rằng nếu
carbonic và/hoặc các loại khí nhà kính khác được thêm vào bầu khí quyển, nhiệt độ
của trái đất sẽ tăng lên, giả định những yếu tố khác không thay đổi.
Với những lý luận ở trên, có thể rút ra kết luận rằng biến đổi khí hậu đang diễn
ra chủ yếu là do hoạt động của con người-những hoạt động này thải ra khí hiệu ứng
nhà kính ngày càng nhiều, đặc biệt là thải carbonic vào khí quyển. Vậy thì biến đổi
khí hậu là gì? Theo IPCC (2007a), biến đổi khí hậu đề cập đến một sự thay đổi trong
trạng thái của khí hậu mà có thể được xác định bởi những thay đổi trong giá trị trung
bình và /hoặc sự biến động của các thuộc tính của nó. Biến đổi khí hậu diễn biến
chậm chạp trong một khoảng thời gian dài, thường là hàng thập kỷ hoặc lâu hơn. Biến
đổi khí hậu có thể là do quá trình tự nhiên bên trong, hoặc do các tác động bên ngoài,
hoặc do thay đổi liên tục của khí quyển hoặc việc sử dụng đất mà những thay đổi này
1.2. NGUYÊN NHÂN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Khí hậu trên trái đất đã luôn thay đổi trong suốt lịch sử của nhân loại chứ
không phải chỉ trong những thập kỷ gần đây. Tuy vậy, điều mà các nhà khoa học lo
lắng là chính những hoạt động của con người mới là thứ thúc đẩy những biến đổi
trong khí hậu diễn ra trong thế kỷ qua. Dù vậy, hoạt động của con người cũng không
phải là nhân tố duy nhất có tác động đến các kiểu khí hậu. Thật vậy, các nhà khoa học
đã phân loại nguyên nhân gây nên biến đổi khí hậu thành hai nhóm: nguyên nhân tự
nhiên và nguyên nhân do con người.
1.2.1. Nguyên nhân tự nhiên
a. Sự nứt gãy của lục địa
Trái đất của chúng ta ngày nay bao gồm bảy lục địa là Châu Úc, Bắc Mỹ, Nam
Mỹ, Châu Á, Châu Phi, Châu Âu và Nam Cực. Tuy nhiên, hàng triệu năm trước đây,
bảy lục địa này cùng nhau tạo nên một mảng đất lớn (big landmass) được bao bọc bởi
một đại dương lớn. Dần dần mảng đất lớn này nứt gãy và tạo thành bảy lục địa được
chia cắt bởi các đại dương. Quá trình này được gọi là sự nứt gãy của lục địa.
Sau khi nứt gãy, các đặc tính vật lý, vị trí của mảng đất lớn cũng như vị trí của
các vùng nước đã thay đổi, tử đó tác động đến khí hậu. Thêm vào đó, dòng chảy đại
dương và gió-những thứ có ảnh hưởng đến khí hậu-cũng bị thay đổi bởi sự chia cắt
của mảng đất lớn. Các nhà khoa học tin rằng sự nứt gãy của lục địa vẫn tiếp tục cho
đến ngày nay. Mảng đất Ấn Độ đang dần dần trôi về mảng đất Châu Á, làm cho dãy
Himalaya nhích cao lên 1mm mỗi năm (Shrivastava 2007)
6
http://www.gcrio.org/gwcc/part1.html
9
c. Đại dương
Đại dương là một thành tố quan trọng của hệ thống khí hậu. Khoảng 71% diện
tích của trái đất được bao phủ bởi các đại dương. Chúng có một vai trò quan trọng
trong việc hấp thụ bức xạ của mặt trời. Các dòng chảy đại dương cũng có khả năng di
chuyển một lượng lớn nhiệt lượng vòng quanh trái đất giống như những gì mà khí
quyển có thể làm được (Shrivastava 2007). Chính vì vậy, đại dương giúp làm giảm
quá trình thay đổi nhiệt độ trong khí quyển nhờ vào khả năng hấp thụ và phân phối
năng lượng mặt trời một cách hiệu quả thông qua các dòng chảy.
d. Mây
Bằng việc phản xạ ánh sáng mặt trời, mây cung cấp bóng râm để làm mát trái
đất. Mặt khác, mây của có khả năng giữ các loại khí nhà kính và giữ nhiệt lại bên 7
http://vulcan.wr.usgs.gov/Outreach/AboutVolcanoes/do_volcanoes_affect_weather.html
10
trong khí quyển bằng cách làm phản xạ nhiệt lượng trở lại trái đất. Chính vì vậy, tác
động thật sự của mây lên khí hậu vẫn là bí ẩn đối với các nhà khoa học.
Tuy nhiên, nhờ vào các dữ liệu mới từ vệ tinh và các công nghệ khác, đã có
một số manh mối giúp giải câu đố này. Trong bài báo “The Effect of Clouds on
Climate: a Key Mystery for Reseachers”, Lemonick (2010) đã nói rằng “tất cả chứng
cứ cho đến lúc này đều mang tính đề xuất (suggestive) chứ chưa chắc chắn rằng mây
có tác động làm thúc đẩy sư ấm lên. Tuy nhiên, các nhà khoa học về khí hậu nhận
thấy rằng đề xuất này đang ngày trở nên đúng hơn. Và các nhà nghiên cứu-những
người vẫn còn chưa chắc chắn về tác động của mây lên khí hậu-cho rằng ngay cả khi
mây có hiệu ứng làm mát thì điều đó vẫn là không đủ để “hãm phanh” sự ấm lên do
con người gây ra.
11
Ngoài ra, dân số thế giới đang tăng dần lên. Tất cả những yếu tố này góp phần làm
tăng lên sự tích tụ của khí nhà kính, đặc biệt là CO
2
, trong khí quyển.
CO
2
là một loại khí nhà kính quan trọng trong khí quyển. Carbon, một loại vật
chất cấu tạo nên sự sống, được thải ra dưới dạng CO
2
khi nhiên liệu hoá thạch được
đốt cháy. Ngoài việc được thải ra từ sự đốt cháy của nhiên liệu hoá thạch, CO
2
còn
được thải ra từ các hệ sinh thái đã bị thay đổi hoặc từ các thảm thực vật bị đốt cháy
hoặc tiêu diệt. Sự tăng lên các các hoạt động nông nghiệp, sự phát triển của đô thị, và
sự tăng lên về nhu cầu nhiên liệu, xây dựng và giấy đã thúc đẩy sự phá rừng. Hiện nay,
những thay đổi trong việc sử dụng đất đã “đóng góp” ¼ lượng khí CO
2
thải vào khí
quyển (CCIR 2005). Theo lời của vị đồng chủ tịch của Dự án Carbon Toàn cầu-tiến sĩ
Mike Raupach- “từ năm 2000-2005 tốc độ phát thải khí carbonic là trên 2,5% một
năm, trong khi vào những năm 1990 thì tốc độ chỉ là dưới 1% một năm”
8
. Khoảng ½
lượng khí CO
2
mà chúng ta thải ra có thể được hấp thụ bởi rừng và đại dương. Tuy
nhiên khả năng này của tự nhiên đang được “khai thác triệt để” khi mà lượng CO
8
http://www.csiro.au/Organisation-Structure/Divisions/Marine Atmospheric-Research/Increase-in-carbon-
dioxide-emissions-accelerating.aspx
9
http://www.ghgonline.org/nitrousagri.htm
12
Tóm lại, thông qua nhiều hoạt động khác nhau, con người đã thải ra ngày càng
nhiều khí nhà kính vào khí quyển. Từ đó làm thay đổi sự cân bằng năng lượng của trái
đất và dẫn đến những thay đổi trong khí hậu toàn cầu.
1.3. HỆ QUẢ CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Theo kịch bản phát thải của IPCC (2000), kể từ năm 1850 nhiệt độ trung bình
toàn cầu đã tăng 0.74
o
C và sẽ là 1
o
C vào năm 2040 nếu không đưa ra các giải pháp để
giảm lượng khí thải CO
2
và các khí nhà kính khác. Vào năm 2100 nhiệt độ sẽ tăng
khoảng 1,5
o
C. Ngay cả khi sự phát thải nhà kính hiện nay đột nhiên dừng lại, nhiệt độ
trái đất vẫn sẽ tăng ít nhất là 0,5
o
C trước khi ổn định vào năm 2050. Báo cáo tổng hợp
IPCC (2007) nói rằng sự tăng nhiệt độ là phổ biến trên toàn thế giới và nhiều hơn tại
tăng độ mặn của sông, vịnh, và mạch nước ngầm. Một số trong những hiệu ứng này
có thể bị làm phức tạp thêm bởi các hiệu ứng khác của biến khí hậu. Ngoài ra, các
biện pháp mà mọi người làm để bảo vệ tài sản cá nhân khỏi sự gia tăng mực nước
biển có thể có tác động xấu đến môi trường (US EPA)
12
.
Ở các nước đang phát triển, hàng trăm triệu người có thể phải chuyển chỗ ở do
nước biển dâng trong thế kỷ này, và thiệt hại kinh tế đi kèm thiệt hại sẽ nghiêm trọng
đối với nhiều nước đang phát triển. Đặc biệt, ở một số nước như Việt Nam, Ai Cập,
và Bahamas, hậu quả của mực nước biển dâng là thảm họa. Đối với nhiều nước khác,
kể cả một vài trong số các nước lớn nhất (ví dụ, Trung Quốc), tác động cũng có thể là
rất lớn (Dasgupta et al, 2007).
Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam rất dễ bị tổn thương do nước biển dâng.
Trải dài từ Vịnh Thái Lan ở phía nam đến biên giới Campuchia ở phía tây, Đồng bằng
sông Cửu Long là một trong những khu vực đông dân cư nhất của Việt Nam với hơn
17 triệu người ở 16 tỉnh. Sản xuất hơn một nửa lúa của đất nước, và 90% lượng gạo
xuất khẩu của đồng bằng này biến Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai
thế giới trong thế giới. Khu vực này chiếm phần lớn sản lượng cá và trái cây của quốc
gia, phần nhiều hiện được xuất khẩu sang Trung Quốc (OXFAM 2008). Theo kịch
bản nước biển dâng ở Việt Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường 2009), vào cuối thế kỷ
21, nước biển có thể dâng vào khoảng 65 cm đến 1 m. Kết quả là, khu vực đồng bằng
sông Cửu Long có thể bị ngập từ 5,100 km
2
(13%) đến 15.116 km
2
(33,3%). Điều này
sẽ đặt ra một mối đe dọa đối với nông dân, xuất khẩu nông nghiệp đặc biệt là gạo của
quốc gia và có thể đối với an ninh lương thực quốc gia (Chaudhry P. & G.
Ruysschaert 2007).
Từ các dữ liệu Ngân hàng Thế giới, tại Việt Nam khoảng 5,3% diện tích đất,
tiếp tăng tốc độ bốc hơi và ảnh hưởng đến sự nạp nước ngọt vào các tầng chứa nước
ven biển (Spatafora 2008).
Tăng dân số toàn cầu cũng tác động đến xâm nhập bởi vì gia tăng dân số dẫn
đến nhu cầu ngày càng tăng đối với nước ngọt mà thứ này lại được lấy từ dưới lòng
đất. Việc khai thác quá mức, có thể dẫn đến đảo ngược của các dòng chảy ngầm từ
biển về phía nội địa, gây nên sự xâm nhập mặn (Abd-Elhamid và Javadi năm 2009).
Nước biển dâng được cho là làm nhanh thêm tốc độ xâm nhập mặn, vì vậy làm
giảm nguồn nước ngầm ngọt. Ông Ibaraki, phó giáo sư về khoa học trái đất tại Đại
học Ohio, nói rằng: "Hầu hết mọi người có thể nhận thức của thiệt hại mà nước biển
dâng có thể gây nên trên mặt đất, nhưng không nhận thức được thiệt hại mà nước biển
dâng có thể gây ra dưới lòng đất. Biến đổi khí hậu đã được giảm bớt nguồn tài nguyên
nước ngọt bằng những thay đổi trong chế độ mưa và sự tan chảy của băng"
14
.
Nước mặn xâm nhập là một vấn đề lớn ở các vùng ven biển nơi mà người dân
dựa vào nước ngầm là nguồn nước ngọt chính của họ cho mục đích sinh hoạt, công
nghiệp và nông nghiệp. Xâm nhập mặn đe dọa sức khỏe và sự sống của nhiều người
dân sống trong các khu vực này bằng cách làm cho nguồn nước không thích hợp để
dùng cho người. 14
http://researchnews.osu.edu/archive/saltwatr.htm
15
Nguồn cung cấp nước phía nam Florida đang trở nên ngày càng bị đe dọa bởi
nước mặn từ đại dương, làm cho các nguồn nước trở nên không uống được. Cho đến
nay, sáu trong tám giếng mà Hallandale Beach tại Florida sử dụng vào đã bị đóng cửa
như do tác động của sự xâm nhập mặn. Để có được nước ngọt, thành phố đã phải lấy
một nửa lượng nước từ các giếng phía tây Broward County và hiện đang hy vọng để
15
http://www.homelandsecuritynewswire.com/saltwater-intrusion-threatens-south-florida-s-water-supplies
16
http://www.louisianaseafoodnews.com/2011/12/09/salt-water-intrusion-threatens-crawfish-farmers/
17
http://epa.gov/climatechange/effects/coastal/index.html