Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất truyền tải và tiêu thu điện - Pdf 25

CƠ SỞ KINH TẾ NĂNG LƯỢNG

Lời mở đầu
Trong những năm gần đây rất nhiều nhà máy thủy điện rơi vào tình trạng
“treo máy” vào mùa khô. Năm 2010, Tây Nguyên ở giữa mùa mưa mà các hồ
thủy điện đều ở mực nước chết. Cơn lũ đầu tháng 10/2010 đã cuốn trôi nhà máy
thủy điện Hố Hô (Hà Tĩnh). Cũng thời gian đó, các nhà máy thủy điện miền
Bắc và miền Trung oằn mình chống chọi với lũ. Nguyên nhân là thay đổi lượng
mưa đã ảnh hưởng tới chu kỳ thủy văn và dòng chảy của sông. Trận sóng thần
lịch sử ngày 11/3/2011 đã xóa sổ nhà máy điện hạt nhân Fukushima số 1 của
Nhật Bản…Qua thực tế cũng như nhiều nghiên cứu của các nhà khoa khọc cho
thấy, biến đổi khí hậu đã và đang gây nhiều tác động đến ngành năng lượng ở cả
lĩnh vực cung ứng cũng như nhu cầu tiêu thụ. Biến đổi khí hậu là thách thức
nghiêm trọng nhất đối với toàn nhân loại, ảnh hưởng sâu sắc và làm biến đổi
toàn diện tới đời sống xã hội. Là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề
nhất, Việt Nam coi việc ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề có ý nghĩa sống
còn. Nước biển dâng và các thay đổi cực đoan của khí hậu như giông bão, mưa
lớn, thay đổi nhiệt độ thất thường đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống dân
cư sản suất, môi trường và cơ sở hạ tầng, trong đó có ngành điện. Vấn đề cốt lõi
là làm thế nào để bảo đảm được khả năng cung cấp năng lượng khi nhu cầu
năng lượng cũng như những rủi ro trong quá trình cung cấp đang ngày càng
tăng lên và làm thế nào để hạn chế được những tác hại đến môi trường do mức
tiêu thụ tăng gây nên. Chình vì vậy, việc điều tra, đánh giá tác động và đề xuất
các giải pháp ứng phó, hạn chế các tác động tiêu cực với biến đổi khí hậu cho
ngành điện là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Trong khuôn khổ bài viết
này, chúng tôi tập trung làm sáng tỏ tác động của biến đổi khí hậu đối với sản
xuất, truyền tải và tiêu thụ điện năng.
HÀ NÔI 11/2012 Page 1
CƠ SỞ KINH TẾ NĂNG LƯỢNG
Lời đầu tiên, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô Phạm Thu Hà –
giảng viên trực tiếp giảng dạy các kiến thức căn bản và trọng tâm nhất cũng như

Chương 3: Quan điểm và giải quyết 23
Chương 1: đặt vấn đề
1.Các khái niệm:
a. Biến đồi khí hậu trái đất:
Là sự thay đổi của khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, thạch quyển hiện
tại và trong tương lại bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo.
Theo Công ước chung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu đã định nghĩa:
HÀ NÔI 11/2012 Page 3
CƠ SỞ KINH TẾ NĂNG LƯỢNG
“Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là
những biến đổi môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng
kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và
được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe
và phúc lợi của con người”.
Nguyên nhân của biến đổi khí hậu: chủ yếu là do hoạt động của con
người nhphá rừng, chăn nuôi… làm cho hiệu ứng nhà kính mạnh lên về mức độ
gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu.
Biến đổi khí hậu biểu hiện qua nhiều hình thức, tuy nhiên thể hiện rõ rệt
ở sự nóng lên của Trái đất (tác động vừa có tính nguyên nhân, vừa có tính kết
quả), hiện tượng băng tan ở vùng cực, núi, sông…, sự dâng cao của nước biển
và các hiện tượng thời tiết cực đoan khó dự đoán cùng cường độ tăng và sự biến
động với biên độ lớn của các hiện tượng này.
Việt Nam là một nước có đường bờ biển dài và nằm trong vùng nhiệt đới
gió mùa, được xếp vào 1 trong 5 nước chịu tác động lớn nhất thế giới. Biểu hiện
của biến đổi khí hậu ở Việt Nam là hiện tượng nước biển dâng gây chiều cường
ở những tỉnh gần biển gần cửa sông ( tp HCM…), nhập mặn, ăn sâu của bờ
biển…; nhiệt độ có xu hướng tăng ảnh hưởng tới nông nghiệp và sinh hoạt của
người dân. Nhiều hiện tượng cực đoan khác của khí hậu như bão, lốc, lũ, lụt,
mưa to, sấm chớp, hàng năm đều có xu hướng mạnh hơn, gây thiệt hại lớn và
khó dự báo hơn.

chọn tìm hiểu về đề tài:
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT, TRUYỀN TẢI
VÀ TIÊU THỤ ĐIỆN NĂNG
HÀ NÔI 11/2012 Page 5
CƠ SỞ KINH TẾ NĂNG LƯỢNG
Chương 2: Thực trạng
2.1. Khái quát về biến đổi khí hậu và ngành điện Việt Nam
2.1.1Thực trạng của biến đổi khí hậu.
Thực trạng của biến đổi khí hậu còn tệ hơn so với kịch bản xấu nhất mà
Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu Liên Hiệp Quốc (IPCC) đã dự
kiến, theo báo cáo năm 2007 IPCC về thực trạng biến đổi khí hậu.
Nhiệt độ trung bình thế giới tăng 0,74
o
C (0,074
o
C/10 năm), bắc
cực,alaska tăng 1,5
o
C trong 100 năm(1906 – 2005) với xu thế những năm gần
đây thì cường độ và mức độ tăng mạnh hơn trong 50 năm gần nhất là 0,13
o
C/10
năm(gấp hai lần xu thế trong 100 năm). 10 năm gần đây nhất nằm trong nhưng
năm nóng nhất trong số liệu quan trắc từ năm 1850 với đỉnh điểm là năm 2005
ngoài ra số liệu cập nhật còn có năm 2009 và 2010.
Băng tan:
• Bắc cực hiện nay chỉ còn 10% là lớp băng cũ và 90% còn lại là lớp
băng mới hình thành qua chu kì mùa nóng lạnh mỗi năm. Trong
lớp băng đá tại vùng lãnh nguyễn bắc cực có chứa 400 tỷ tấn khí
metan

kỉ này mực nước biển sẽ tăng hơn 1m so với hiện nay. nhiều quốc gia, diên tích
bị nhấn chìm trong nước biển.
Hạn hán kéo dài làm nhiều người chết ( làm thêm )
Hiên tượng cực đoan tăng về số lượng độ thường xuyên và cường độ,
các thảm họa khí hậu chưa từng có, thảm khốc và gây thiệt hại nặng nề trong 20
năm gần đây.
Môi trường là “một tấm đệm đàn hồi” khi ta gieo một hạt giống thì ta
nhận được một cây xanh
Sản xuất năng lượng, truyền tải, tiêu thụ năng lượng nói chung là điều gắn liền
tới tất cả hoạt động của bất kì nền kinh tế nào trên thế, nó phụ thuộc rất lớn vào
nhu câu, nó cần sự ổn định lâu dài nên công nghệ và đầu tư rất lớn vì thế nên
muốn chuyển đổi sang hình thức hoạt động giảm tác động tới môi trương không
phải là hành động đơn giản và đơn lẻ, để làm được điều này chúng ta cần thời
gian, vật lực dài và lớn. Hơn nữa nếu muốn giảm ảnh hưởng xấu của sự biến đổi
khí hậu có hiệu quả thì cần hành động của cả thế giới trong khoảng thời gian dài
và liên tục. do đó trước hết ngoài tích cực giảm ảnh hưởng xấu tới môi trường
thì vấn đề cấp thiết là phải tìm hiểu, hành động để giảm tác động của biến đổi
khí hậu tới sản xuất truyền tải và tiêu thụ điện.
HÀ NÔI 11/2012 Page 7
CƠ SỞ KINH TẾ NĂNG LƯỢNG
Năm 2004 Động đất mạnh nhất trong vòng 40 năm
(8,9 độ richter) ở dưới biển ngoài khơi Indonesia gây
ra "vạt" sóng thần lớn và rộng làm thiệt mạng gần
300.000 người ở nhiều nước Đông Nam Á và Nam Á.
HÀ NÔI 11/2012 Page 8
Năm 2005 nắng nóng kéo dài tại
úc làm 15.000 người chết
CƠ SỞ KINH TẾ NĂNG LƯỢNG
Năm 2007 Bão Sydr kèm lốc xoáy đổ bộ vào Bangladesh ngày 15/11 với sức
gió lên tới 250km/h, gây triều cường cao hơn 5m, cướp đi sinh mạng của trên

o
C và 0,4 - 0,5
o
C.
Bảng 1: So sánh nhiệt độ trang bình năm (°C)
các thập kỷ 1991 - 2000 và 1931 – 1940
Thập kỷ Hà Nội Đà Nắng TP. Hồ Chí Minh
1931- 1940
23,3 25,4 26,9
1991 - 2000
24,1 25,8 27,6
Chênh lệch
0,8 0,4 0,7
2007
3
0,8 0,4 0,7
Nhiệt độ trung bình tháng 1 và tháng 7 ở 3 nơi nói trên cũng có xu thế
tương tự, tăng 0,5-1,1
o
C đối với tháng 1 và 0,5-0,8
o
C đối với tháng 7.
Bảng 2: So sánh nhiệt độ trung bình tháng 1 và tháng 7 (
o
C)
các thập kỷ 1991 - 2000 và 1931 - 1940.
Thập kỷ Hà Nội Đà Nẵng TP. Hồ Chí Minh
I VII I VII I VII
1931 -
1940

2000. Năm 2007, có 4 cơn bão đổ bộ và ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta ít hơn
trung bình nhiều năm 3 cơn.
Bảng 3: Số cơn bão hoạt động trên Biển Đông và số bão ảnh hưởng
đến Việt Nam trong 4 thập kỷ qua (1961 - 2000)
Thập kỷ Bão Biển Đông Bảo ảnh hưởng đến Việt Nam
1961 - 1970 114 74
1971 - 1980 113 76
1981 - 1990 109 77
1991 - 2000 103 68
Tuy nhiên, số cơn bão mạnh có chiều hướng gia tăng. Mùa hoạt động của
bão kéo dài hơn về cuối năm và số bão ảnh hưởng đến các tỉnh phía Nam nhiều
hơn
Không khí lạnh - Tần số hoạt động của không khí lạnh ở Bắc Bộ có xu thế
giảm rõ rệt trong 3 thập kỷ qua, từ 288 đợt trong thập kỷ 1971 -1980, 287 đợt
HÀ NÔI 11/2012 Page 11
CƠ SỞ KINH TẾ NĂNG LƯỢNG
trong thập kỷ 1981 - 1990, xuống còn 249 đợt trong thập kỷ 1991 - 2000.
Số ngày mưa phùn giảm đi rõ rệt. Ví dụ: ở Hà nội, trung bình mỗi năm có
29,7 ngày mưa phùn trong thập kỷ 1961 - 1970, giảm xuống còn 14,5 ngày/năm
trong thập kỷ 1991 - 2000.
2.1.2thực trạng sản xuất, truyền tải, tiêu thụ điện.
Sản xuất điên trên thế giới hiện nay
Sản lượng điện sản xuất mỗi năm: 15.850.000 GWh (ước tính năm 2003),
14.850.000 GWh (ước tính năm 2001).
- nhiệt điện:
Tổng sản lượng nhiệt điện vào năm 2009 đạt 13,4
nghìn tỷ kWh.
+ thủy điện:
HÀ NÔI 11/2012 Page 12
CƠ SỞ KINH TẾ NĂNG LƯỢNG

hình thành trên các con đập làm ngập chìm các khu rừng nhiệt đới cũng đồng
nghĩa với việc làm mất đi những bể chứa CO2 hữu hiệu. Hay làm tăng phát thải
CO2 vào khí quyển.
• Việc xây dựng các nhà máy thủy điện tác động gián tiếp đến biến đổi khí
hậu
Xây dựng các nhà máy thủy điện-nguồn cung cấp lượng điện năng lớn nhất
nước ta hiện nay làm mất đi một phần lớn diện tích rừng đầu nguồn và nhiều
dòng sông bị chia cắt, biến đổi dòng chảy. Tiếp dẫn số liệu từ bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn ngày 31-10-2012 cho biết “Từ năm 2006 đến nay, thủy
điện đã lấy gần 20.000 ha rừng trên cả nước, trong đó có trên 7.500ha rừng đặc
dụng và rừng phòng hộ”. Các công trình như Thầu Dầu, Khe Mơ, Hố Hô, Kẻ
Gỗ, làm thay đỏi dòng chảy tự nhiên của nhiều dòng sông, mất rừng đầu
nguồn, làm giảm đa dạng sinh học và tăng lũ quét. Việc làm thay đổi lưu lượng
nước còn tạo ra hình thái xói lở, bồi đắp ử hạ lưu, ảnh hưởng đến sự ổn định bờ
sông và hệ sinh thái hai bên bờ sông.
HÀ NÔI 11/2012 Page 16
CƠ SỞ KINH TẾ NĂNG LƯỢNG
b. Truyền tải
Ở Việt Nam, đường dây truyền tải chủ yếu ở trên không, chưa có đủ điều kiện
để xây dựng hệ thống đường dây trong lòng đất. Sự tăng lên mạnh mẽ của dân
số cùng tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng mạnh mẽ đẩy nhanh
nhu cầu sử dụng điện làm cho hệ thống đường dây tải điện ngày càng tăng
nhanh, dày đặc, hạn chế tầm nhìn. Nhiệt độ đường dây do điện năng tỏa ra môi
trường là một trong những nguyên nhân làm tăng nhiệt độ trong không khí.
c. Tiêu thụ
Điện năng không tạo ra khí phát thải như các nhiên liệu hóa thạch khác như
xăng dầu,…tuy nhiên, việc tiêu thụ điện năng cho các công cụ điện một phần
làm ảnh hưởng tới môi trường. Đặc biệt như việc sử dụng điều hòa nhiệt độ
trong mùa hè ngày càng tăng.Điều hòa nhiệt độ làm không khí trong phòng
được duy trì ổn định về nhiệt độ, độ ẩm, độ sạch, và thay đổi thành phần không

chảy tăng, về lý thuyết khả năng phát điện sẽ tăng, tuy nhiên thực tế ở nhiều nhà
máy do hạn chế về dung lượng hồ chứa và công suất phát điện, nên đã hạn chế
khả năng phát điện. Ngược lại, dòng chảy giảm về mùa cạn tác động lớn đến
giảm phát điện
Để đánh giá tác động của thay đổi dòng chảy đến khả năng phát điện, 3 nhà máy
Tuyên Quang, Hủa Na và Trị An ởba khu vực Bắc, Trung và Nam có đầy đủ các
thông số thiết kế, số liệu về thuỷ văn và bốc hơi của các năm được lựa chọn cho
tính toán, đánh giá. Kết quả tính toán cho thấy, đến 2030, sản lượng điện trung
bình hàng năm của thủy điện Tuyên Quang và Hủa Na tăng lên 0,56% và 0,21%
so với năm 2009, tuy nhiên, đối với thủy điện TrịAn, sản lượng điện trung bình
hàng năm bịgiảm xuống 1,13% do tác động của biến đổi khí hậu
Đối với các nguồn năng lượng điện sạch trong tương lai:
Các nguồn năng lượng sạch đang là mục tiêu trong tương lai cho ngành
điện vì mục tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên các dạng điện năng như điện
gió, điện mặt trời cũng chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu. Các thay đổi
về tốc độ và chiều hướng gió cũng như mây che phủ và vùng xoáy của khí
quyển có thể tác động tới sản lượng của các dự án điện bằng sức gió (phong
điện) và điện mặt trời.
• Lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính ngày càng cao, đòi hỏi cần
thay đổi phương thức sản xuất điện năng từ nhà máy nhiệt điện sang nhà
máy thủy điện và sử dụng năng lượng tái tạo trong phát điện để giảm
lượng khí phát thải.
Khi nhiệt điện ảnh hưởng nặng nề đến biến đổi khí hậu. Vấn đề này đặt ra
yêu cầu sản xuất điện trong tương lai bằng các nguồn năng lượng sạch. Song
song với vấn đề đó là vấn đề kinh tế đặt ra trong việc xây dựng các nhà máy
điện, các trạm điện sử dụng năng lượng mới, khi việc xây dựng các công trình
này với công nghệ hiện tại, cần một số vốn đầu tư lớn.
HÀ NÔI 11/2012 Page 18
CƠ SỞ KINH TẾ NĂNG LƯỢNG
• Biến đổi khí hậu có thể khiến một số dự án điện năng đã được lên kế

Trời có thể làm thay đổi điện trở của dây dẫn. Mực nước biển dâng cao cũng
được dự báo có khả năng đe dọa đến các nhà máy ven biển. Biến đổi khí hậu có
thể dẫn tới nhiều mô hình thời tiết khắc nghiệt làm tăng chi phí sửa chữa hư
hỏng hệ thống … Mưa và độ ẩm cao kéo dài ảnh hưởng đến tuổi thọ dây dẫn,
làm tăng mức độ hư hỏng hạ tầng năng lượng,. Biến đổi khí hậu có thể dẫn tới
nhiều mô hình thời tiết khắc nghiệt làm tăng chi phí sửa chữa hư hỏng hệ thống.
HÀ NÔI 11/2012 Page 19
CƠ SỞ KINH TẾ NĂNG LƯỢNG
Tất cả những ảnh hưởng này có thể làm sai lệch những tính toán thiết kế cung
cấp điện và làm tăng chi phí cho quá trình phân phối và truyền tải điện năng và
chi phí bảo trì cho hạ tầng năng lượng.
Khi nhiêt độ môi trường tăng sẽ làm ảnh hưởng đến nhiệt độ tỏa ra môi trường
của dây dẫn. Khi nhiệt độ môi trường thay đổi từ 30-40
o
C thì tổn thất đường dây
tăng khoảng 1% đối với mỗi
o
C tăng lên do biến đổi khí hậu.
c. Tiêu thụ
Chuyên gia C.Rodgers phân tích, khi nhiệt độ nóng hơn, đặc biệt là trong
các đợt nóng, sẽ làm tăng nhu cầu về điều hòa không khí; còn mực nước thấp
hơn, sẽ làm tăng nhu cầu năng lượng cho việc bơm nước ngầm. Việc tăng bơm
nước sẽ làm tăng tính dễ tổn thương do thiếu nước và dẫn đến việc lún đất. Quá
trình khử mặn được coi như là một cách ứng phó với sự thiếu hụt nước ngầm
hoặc nước bề mặt trong khu vực, nhưng quá trình này đòi hỏi một lượng lớn
năng lượng.
Biến đổi khí hậu làm nền nhiệt trên trái đất tăng nhanh đặc biệt là vào
mùa nóng, các thiết bị làm mát như tủ lạnh, điều hòa càng được sử dụng nhiều
hơn làm tăng nhu cầu sử dụng điện.
Nền nhiệt tăng, mùa đông ấm hơn tuy nhiên biến đổi khí hậu gây ra nhiều

hoạch nguồn thủy năng do cơ quan nước ngoài thực hiện. Việt Nam đánh giá
tổng quan ngành thủy lợi Việt Nam, do WB – ADB – UNDP - FAO phối hợp
với viện qui hoạch thủy lợi Việt Nam thực hiện năm 1996; qui hoạch thủy điện
tích năng Việt Nam do Jica thực hiện.Tất cả các qui hoạch thủy năng do cơ quan
nước ngoài thực hiện, đều sử dụng các tài liệu cơ bản và các nghiên cứu của tư
vấn Việt Nam đã làm.
Với sự thẩm tra rất cẩn thận của các cơ quan trong nước, đồng thời được
rà soát lại bởi các cơ quan tư vấn nước ngoài, nên chất lượng công tác qui hoạch
nguồn thủy năng được đảm bảo. Hơn nữa, được sự chỉ đạo của cơ quan Bộ Điện
lực, Bộ Năng lượng và EVN, các qui hoạch thủy năng các lưu vực sông, thường
được triển khai một số dự án ở mức sâu hơn, báo cáo tiền khả thi hay khả thi,
nên tài liệu cơ bản là đáng tin cậy, chất lượng dự án đạt yêu cầu. Chính vì vậy,
các dự án điện đảm bảo được chất lượng hơn.
* Đa số các công trình điện vừa và nhỏ do tư nhân hoặc các công ty cổ phần
là chủ đầu tư dẫn đến chủ đầu tư chỉ chú ý đến lợi ích phát điện, hoàn toàn
không chú ý môi trường trong khi điều này được dự báo sẽ ảnh hưởng tới
thiết kế, hoạt động và sự sống còn của các nhà máy điện( đặc biệt là thủy
điện).
Thực tế cho thấy, việc tận thu rừng trong lòng hồ, khu vực công trình
cũng luôn kéo theo sự lợi dung để khai tác, tàn phá rừng đầu nguồn các lưu vực
sông. Hâu quả là làm mất dần “bình phong” điều tiết lũ tự nhiên trên lưu vực,
gián tiếp làm gia tăng lũ, đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ mất bền vững
của công trình (giảm tuối thọ và tăng các chi phí khác của vận hành hồ chứa
theo quy định). Việc phân tích các tác động tiêu cực của khí hậu đối với ngành
điện và ngược lại từ những kinh nghiệm quốc tế không có nghĩa là phản đối
việc phát triển nguồn năng lượng điện của Việt Nam khi mà trong giai đoạn
HÀ NÔI 11/2012 Page 21
CƠ SỞ KINH TẾ NĂNG LƯỢNG
hiện nay, nhu cầu điện sinh hoạt và ản xuất ở nước ta còn chưa đáp ứng đủ, mà
nguồn năng lượng thay thế chưa sẵn sàng.

quan, công sở,… quy định sử dụng điện hợp lý hơn trong các tòa nhà ở và tòa
nhà thương mại.
- Sử dụng nồi hơi, động cơ, lò nung sử dụng năng lượng - hiệu quả hơn, cải tiến
hoạt động quản lý năng lượng, thực hiện kiểm toán năng lượng trong hoạt động
công nghiệp.
HÀ NÔI 11/2012 Page 23
CƠ SỞ KINH TẾ NĂNG LƯỢNG
- Thu hồi nhiệt dư, chuyển đổi nhiên liệu, tái chế và thay - thế nguyên liệu trong
các ngành sử dụng nhiều năng lượng (sắt, thép, xi măng, giấy, hóa chất,…).
- Sử dụng phương tiện có hiệu quả nhiên liệu cao hơn, - chuyển đổi sử dụng
nhiên liệu sạch hơn trong ngành giao thông, sử dụng động cơ điện trong giao
thông đường bộ,…
b. Các giải pháp ứng phó
· Trong ngắn hạn
Đây là những biện pháp mang tính “tạm thời” không có tính chiến lược
tuy nhiên vẫn cải thiện các tác động xấu của BĐKH tới ngành điện:
- Lắp đặt các trạm quan trắc, xây dựng hệ thống cảnh báo, thực hiện công tác
đánh giá tác động, kết hợp các mô hình năng lượng và mô hình tác động ngành
với các thông tin khí hậu chi tiết hóa thông qua việc mô hình hóa đánh giá tích
hợp. - Điều chỉnh thiết kế hạ tầng để chịu đựng được các điều kiện thay đổi,
chẳng hạn như tăng cường sức chịu gió hoặc tăng cường đất đắp nền nhằm bảo
vệ các hệ thống phát dẫn điện. - Tăng lượng nước cấp và điều chỉnh hay thiết kế
lại các quá trình làm mát bằng không khí để đối phó với việc tăng nhiệt độ
không khí và nước.
- Cải thiện việc quản lý lưu vực sông để điều tiết chu kỳ thủy văn và giảm tải
trầm tích, từ đó duy trì các mức sản xuất thủy điện.
· Trong dài hạn
Để giải quyết triệt để và tận gốc các tác động xấu do biến đổi khí hậu
mang lại cần phải có các chiến lược dài hơi hơn, các biện pháp chủ động và dài
hạn.

kiệm được 3,4% tổng năng lượng tiêu thụ cả nước trong giai đoạn này.
Tuy nhiên, tiềm năng tiết kiệm năng lượng và đi liền với nó là tiềm năng giảm
nhẹ tác động môi trường của Việt Nam vẫn còn rất lớn, đòi hỏi nỗ lực và hành
động quyết liệt hơn trong thời gian tới.
HÀ NÔI 11/2012 Page 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status