Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp và đề xuất các giải pháp ứng phó tại huyện quỳnh lưu, nghệ an - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ HỮU SƠN
TÊN ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỀ
XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ TẠI
HUYỆN QUỲNH LƯU, NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ HỮU SƠN
TÊN ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỀ
XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ TẠI
HUYỆN QUỲNH LƯU, NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Kim Đường
NGHỆ AN, 2010

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu là của riêng cá nhân tác giả; các số
liệu là trung thực, không sử dụng số liệu của các tác giả khác chưa được công bố;
các kết quả nghiên cứu của tác giả chưa từng được công bố.
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

b. Những thách thức và các hạn chế 36
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát triển châu Á
BĐKH Biến đổi khí hậu
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
ĐDSH Đa dạng sinh học
GEP Quỹ Môi trường Toàn cầu
HST Hệ sinh thái
LHQ Liên Hợp Quốc
NN và PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NTTS Nuôi trồng thủy sản
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia
PTBV Phát triển bền vững
RNM Rừng ngập mặn
TNMT Tài nguyên môi trường
UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
UNEP Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc
UNFCCC Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu
WB Ngân hàng Thế giới
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
1.2.2.1. Các xu hướng của Biến đổi khí hậu tại Việt Nam 17
1.2.3. Chính sách và hành động của chính phủ về Biến đổi khí hậu 31
1.2.3.1. Các chính sách và chương trình chủ yếu về Biến đổi khí hậu 31
1.2.3.2. Các đàm phán quốc tế của Việt Nam về biến đổi khí hậu 34
a. Những thành tựu 34
b. Những thách thức và các hạn chế 36
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH

tiết thay đổi, lũ lụt triền miên nên năng suất và sản lượng không ổn định, cuộc
sống sản xuất thiếu an toàn và thiếu bền vững. Mặt khác, ngoại trừ Thị xã và Thị
trấn có điều kiện về cơ sở hạ tầng khá phát triển; cơ sở hạ tầng của các xã còn lại
kém phát triển, đê điều và rừng ngập mặn tại đây bị xuống cấp khá nghiêm trọng.
Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng làm đời sống người dân ở đây
còn bấp bênh và khó phát triển. Tỷ lệ hộ nghèo, nhất là hộ nghèo ở các xã ven
6
biển còn khá cao, khả năng vượt nghèo thấp; đời sống sản xuất của các hộ nông
dân dễ bị ảnh hưởng, rủi ro và tổn thương lớn nhất khi có thiên tai, bão lũ.
Như vậy, Quỳnh Lưu là một huyện có mức độ tổn thương cao và nhạy cảm
đối với những tác động của BĐKH. Trước thực tế đó đòi hỏi phải có những
nghiên cứu, đánh giá các tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp
và trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường khả năng phòng ngừa,
giảm nhẹ, khắc phục và thích nghi với BĐKH cho huyện Quỳnh Lưu.
Cho đến nay đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về BĐKH ở Việt
Nam nói chung và Nghệ An nói riêng, nhưng hầu hết các giải pháp đưa ra đều
chưa được thực hiện đầy đủ hoặc rất khó để thực thi và vì thế các vấn đề về kinh
tế, xã hội, tài nguyên, môi trường càng trở nên bức xúc hơn. Mặt khác, BĐKH là
một vấn đề mới, các phương pháp luận về nghiên cứu đánh giá tác động do ảnh
hưởng của BĐKH ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam đang trong giai đoạn
nghiên cứu. Do vậy, việc tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tác động của
BĐKH đến sản xuất nông nghiệp và đề xuất các giải pháp ứng phó tại huyện
Quỳnh Lưu, Nghệ An” để thực hiện luận văn tốt nghiệp là hết sức cần thiết.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp. Trên cơ sở đó đề
xuất một số giải pháp ứng phó với BĐKH tại địa phương.
1.3. Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Các biểu hiện và tác động của BĐKH; các hoạt động sản xuất nông nghiệp
của người dân Huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An.

Theo quan điểm của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), BĐKH là sự vận
động bên trong hệ thống khí hậu, do những thay đổi kết cấu hệ thống hoặc trong
mối quan hệ tương tác giữa các thành phần dưới tác động của ngoại lực hoặc do
hoạt động của con người.
Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc
dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập
kỷ hoặc dài hơn. Ví dụ, ấm lên hay lạnh đi. Sự biến đổi về trạng thái khí hậu đó
xảy ra do các quá trình tự nhiên hoặc do con người gây ra đối với các thành phần
khí quyển.
Biến đổi khí hậu mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng
hiện nay, là thách thức nghiêm trọng nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI.
BĐKH đã thực sự tác động đến mọi lĩnh vực, bao gồm tài nguyên thiên nhiên,
môi trường, kinh tế-xã hội và sức khỏe con người. Thiên tai, các hiện tượng thời
tiết cực đoan và các hiện tượng khí hậu cực đoan như là hệ quả của BĐKH hiện
đang hoành hành ngày càng nhiều và khốc liệt ở khắp mọi nơi trên thế giới.
BĐKH tác động trực tiếp tới các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và được coi là
thách thức lớn cho phát triển bền vững.
Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một thời điểm và một địa điểm nhất định
được xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa,
mây, . Khí hậu: Đã được Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) định nghĩa là trung
bình theo thời gian của thời tiết (thường là 30 năm)
Khả năng bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ mà một hệ thống
(tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng
thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH.
Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm
nhẹ ảnh hưởng của BĐKH.
9
Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người
đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị
tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng

2
, CH
4
,
N
2
O, HFCs, PFCs và SF
6
.
- CO
2
phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là
nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển. CO
2
cũng sinh
ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép.
- CH
4
sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ
thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than.
- N
2
O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp.
- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là
sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22.
- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm.
- SF
6
sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê.
1.1.2. Biểu hiện chính của BĐKH

nghiệp và tài nguyên nước ngọt.
Tài nguyên nước và sản xuất nông nghiệp cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Theo dự đoán, đến năm 2080, sẽ có thêm khoảng 1,8 tỷ người phải đối mặt với
sự khan hiếm nước, khoảng 600 triệu người sẽ phải đối mặt với nạn suy dinh
dưỡng do nguy cơ năng suất trong sản xuất nông nghiệp giảm.
Bên cạnh đó còn có khuynh hướng làm giảm chất lượng nước, sản lượng
sinh học và số lượng các loài động, thực vật trong các hệ sinh thái nước ngọt,
làm gia tăng bệnh tật, nhất là các bệnh mùa hè do vectơ truyền (IPCC, 1998).
Trong thời gian 20÷25 năm trở lại đây, có thêm khoảng 30 bệnh mới xuất hiện.
Tỷ lệ bệnh nhân, tỷ lệ tử vong của nhiều bệnh truyền nhiễm gia tăng, trong đó sẽ
12
có thêm khoảng 400 triệu người phải đối mặt với nguy cơ bị bệnh sốt rét (Al
Gore, 2006, Stern, 2007)[22].
Số lượng và tổn thất do thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan gây ra tăng
liên tục trong những thập kỷ vừa qua. Theo số liệu thống kê, thiệt hại về kinh tế do
thay đổi thời tiết và lũ lụt đã tăng gấp 10 lần trong vòng 50 năm qua. Số nạn nhân của
lũ lụt do ảnh hưởng của BĐKH trong 5 năm 1983-1987 là 31 triệu người, tăng lên đến
130 triệu người trong 5 năm của thập kỷ sau 1993-1997 (WWC, 2003; Hotz, 2006).
Riêng cơn bão Mitch (1999) đã làm chết 11.000 ở Trung Mỹ; cơn bão Katrina (2005)
đã làm chết hơn 1.800 người ở hai bang ven biển phía Nam của Hoa Kỳ và gây tổn
thất lên tới 300 tỷ USD.
Bão Katrina ở miền nam nước Mỹ năm 2005 gây thiệt hại 108 tỷ USD và
giết chết khoảng 1.200 người. Cơn bão có tên đầu tiên của năm 2008 tại khu
vực Bắc Ấn Độ Dương, bão Nargis tại đồng bằng châu thổ Irrawaddy,
Myanma đã làm hơn 60.000 người chết (dự đoán có thể lên tới 100.000
người), 1.400 người bị thương và 37.000 người mất tích. Gần đây, Siêu bão
Sandy đã quét qua bờ Đông nước Mỹ đem theo mưa lớn, gió to và nước biển
dâng cao có nơi tới 4 mét, tràn vào hệ thống tàu điện ngầm tại thành phố New
York, làm một trạm điện bị phát nổ, hỏa hoạn cũng đã thiêu rụi 50 căn ngôi
nhà. Từ 50 đến 60 triệu người dân Mỹ bị ảnh hưởng của bão, trong đó hơn 1

Với mức tăng nhiệt độ 1,5÷2,5
0
C dự kiến có những biến đổi phổ biến về cấu
trúc và chức năng của các loài di trú sinh thái các đới địa lý cùng với những hậu
quả tiêu cực khác.
Quá trình a xít hóa đại dương chắc chắn tác động tiêu cực đến tổ chức và
cấu trúc của các rặng san hô.
c) Một số tác động khác
14
- Nồng độ CO
2
trong khí quyển tăng lên dẫn đến độ a xít hóa của đại dương
tăng lên. Độ pH trung bình của nước biển gần mặt giảm đi 0,1 đơn vị kể từ thời
kỳ tiền công nghiệp.
- Nhiệt độ tăng ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nông-lâm nghiệp ở các vĩ
độ cao và các vấn đề chăm sóc y tế châu Âu.
- Nước biển dâng tác động đến vùng đất ngập nước, rừng ngập mặn và gây
ra ngập lụt bờ biển trên một số khu vực.
1.1.3.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực
a) Tác động đến sản xuất lương thực
- Năng suất một số cây lương thực dự kiến tăng nhẹ trên các vĩ độ cao, vĩ độ
trung bình với nhiệt độ tăng 1÷3
0
C
- Trên các vĩ độ thấp, đặc biệt các khu vực nhiệt đới gió mùa, với nhiệt độ
tăng 1÷2
0
C, năng suất lương thực dự kiến giảm đi.
b) Tác động đến đới bờ biển
- Đới bờ biển chịu nhiều rủi ro hơn các đới khác do nạn xói lở. Hiệu ứng

những vùng lụt lội gia tăng vào thập kỷ 2080. Chắc chắn sự gia tăng về tần số
và mức độ nghiêm trọng của lũ lụt cũng như hạn hán sẽ tác động tiêu cực đến
sự phát triển bền vững.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tình trạng Biến đổi khí hậu toàn cầu, xu hướng trong thời gian
qua và tình hình hiện nay
Nhiệt độ trung bình của Trái đất hiện nay đã tăng 0,74
o
C, mực nước biển tăng
khoảng 20 cm so với năm 1850, cao nhất trong khoảng 10.000 năm qua. Thiên tai,
các hiện tượng thời tiết cực đoan và các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ,
hạn hán… đang xảy ra với cường độ, tần suất, độ bất thường và độ khốc liệt ngày
càng gia tăng[9].
16
Hình 1.4. BĐKH tác động tới mọi vùng, miền trên phạm vi toàn cầu
(Nguồn: Trương Quang Học (chủ biên), 2012. Việt nam, thiên nhiên,
môi trường và phát triển bền vững)
1.2.2. Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
1.2.2.1. Các xu hướng của Biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Các số liệu khoa học đã cho thấy rằng Việt Nam là quốc gia đặc biệt dễ bị tổn
thương bởi các ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH (UN Vietnam, 2009). Để ứng phó
một cách phù hợp với những ảnh hưởng đó, điều quan trọng là phải hiểu được tình
hình BĐKH tại Việt Nam trong một quãng thời gian dài, từ quá khứ đến hiện tại và
tương lai.
BĐKH ngày càng hiện hữu rõ nét tại Việt Nam. Biến đổi khí hậu, mà
biểu hiện của nó là sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng, là một trong những
thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21. Sự tăng lên của nhiệt độ trung
bình, lượng mưa, mực nước biển và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang
ngày càng rõ rệt tại Việt Nam.
Nhiệt độ đã liên tục tăng lên. Trong quãng thời gian 1900÷2000, mỗi thập

Trạm đo Tân Sơn Nhất
Hình 1.5. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm giai đoạn 1930÷2000
(Viện CLCSMT, 2009)
Hình 1.6. Mực nước biển tăng khoảng 20 cm trong vòng 50 năm qua
(Bộ TNMT, 2009)
19
Hình thái bão đang thay đổi và bão với cường độ lớn đang xuất hiện ngày
càng nhiều ở Việt Nam. Số lượng các cơn bão đổ bộ vào Việt Nam đã tăng lên
trong khoảng những năm 1950 và những năm 1980 song lại giảm đáng kể trong các
năm thập niên 90 của thế kỷ trước (UNDP, 2007). Tháng có nhiều bão nhất đã
chuyển dịch từ tháng 8 vào những năm 1950 đến tháng 11 vào những năm 1990.
Đường đi của bão đã dịch chuyển dần xuống phía nam và rất nhiều cơn bão có
đường đi bất thường (Bộ TNMT, 2003)[2],[25].
Áp thấp nhiệt đới đã, đang và sẽ xuất hiện thường xuyên hơn, với cường
độ mạnh hơn tại Việt Nam. Người ta dự toán rằng bão và áp thấp nhiệt đới với tốc
độ gió lớn sẽ xuất hiện nhiều hơn và kéo dài thời gian lâu hơn. Các cơn bão tần suất
30 năm mới xảy ra một lần thì nay có thể sẽ xuất hiện với tần suất nhanh hơn,
khoảng 10 năm một lần (Văn phòng Chính phủ và Bộ TNMT, 2009).
Một số nghiên cứu đã chứng minh mực nước biển dâng lên tại Việt
Nam. Mực nước biển đã dâng lên khoảng 20cm trong giai đoạn 1958÷2007 (Bộ
TNMT, 2009) và đang đang lên với tốc độ khoảng 3mm mỗi năm trong giai đoạn
1993÷2008. Điều này phù hợp với xu hướng chung trên toàn cầu. Xói lở bờ biển
cũng đã xảy ra, ví dụ như tại Huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau đã bị xói lở 600 ha
đất, có nơi lở mất dải đất dài tới 200m (UNDP, 2007)[25].
Kịch bản biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Năm 2011, kịch bản BĐKH và nước biển dâng tại Việt Nam được ban hành
lần thứ 2 ( Bộ TN & MT, 2011)[5].
Nhiệt độ trung bình năm (dT vào 2100 so với 1980÷1999)
Kịch bản phát thải trung bình: Nhiệt độ tăng từ 1,9÷3,1
0

nước, với mức tăng khoảng từ dưới 1 đến gần 3%. Ở một vài nơi thuộc ven biển
Trung Bộ có lượng mưa năm tăng gần 10%.
Lượng mưa ngày lớn nhất ở Bắc Bộ có thể tăng khoảng 50% so với thời kỳ
1980-1999 và khoảng 20% ở Bắc Trung Bộ. Ngược lại, lượng mưa ngày lớn nhất
giảm ở khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, với mức giảm vào
khoảng 10÷30%. Tuy nhiên, ở các khu vực khác nhau lại có thể xuất hiện lượng
mưa ngày dị thường với lượng mưa gấp đôi so với kỷ lục hiện nay.
Mực nước biển dâng (dR vào 2100 so với 1980÷1999)
Kịch bản phát thải thấp: Mực nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà
Mau đến Kiên Giang (54÷72 cm); Thấp nhất ở khu vực Móng Cái (42÷57 cm).
Trung bình toàn Việt Nam: 49÷64 cm.
Kịch bản phát thải trung bình: Mực nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ
Cà Mau đến Kiên Giang (62÷82 cm); Thấp nhất ở khu vực Móng Cái (49÷64
cm). Trung bình toàn Việt Nam: 57÷73 cm.
Kịch bản phát thải cao: Mực nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau
đến Kiên Giang (85-105 cm); Thấp nhất ở khu vực Móng Cái (66÷85 cm). Trung
bình toàn Việt Nam: 78÷95 cm.
1.2.2.2. Tác động và hậu quả của BĐKH tại Việt Nam
Cũng giống như bức tranh chung trên toàn cầu, ở Việt Nam, trong khoảng
50 năm qua, nhiệt độ trung bình hàng năm tăng khoảng 0,5
o
C, mực nước biển đã
dâng khoảng 20 cm. Hiện tượng El-Nino, La-Nina ngày càng tác động mạnh mẽ
đến Việt Nam. BĐKH thực sự đã làm cho các thiên tai, các hiện tượng thời tiết
cực đoan, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt (Bộ TNMT, 2003)[2].
21
a. Đánh giá chung
Việt Nam, theo dự đoán, là một trong số ít nước sẽ phải chịu hậu quả tác
động nặng nề nhất của BĐKH.
Mực nước biển dâng (dR vào 2100 so với 1980÷1999)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status