Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân
Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau khi gia nhập vào tổ chức thương mại Thế Giới WTO, Việt Nam đã có
những bước tiến vượt bậc, các doanh nghiệp ngày càng trưởng thành hơn trong quá
trình hội nhập, liên kết tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nhanh chóng tiếp cận được
với công nghệ sản xuất hiện đại và tiên tiến trên thế giới. Cùng với chính sách
khuyến khích xuất khẩu và mở cửa nền kinh tế của nhà nước đã tạo điều kiện thuận
lợi cho hàng nông sản xuất khẩu phát triển.
Trong nhiều năm qua, bên cạnh những mặt hàng nông sản truyền thống như:
gạo, cà phê, tiêu… thì ngành chế biến xuất khẩu hạt điều cũng là một ngành có thế
mạnh của Việt Nam.Theo đánh giá thì vài năm gần đây Việt Nam là nước đứng đầu
thế giới về xuất khẩu nhân điều, việc xuất khẩu đã đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho
đất nước, giải quyết được việc làm cho hàng ngàn lao động, đồng thời đóng góp
không nhỏ vào ngân sách nhà nước. Bên cạnh những thuận lợi và cơ hội từ chính
sách mở cửa kinh tế mang lại thì các doanh nghiệp xuất khẩu hạt điều cũng gặp
không ít khó khăn: không còn sự bảo hộ từ nhà nước, đối mặt với sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt trên trường quốc tế. Chính vì thế các doanh nghiệp Việt Nam
muốn tồn tại và phát triển thì việc tìm “giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu nhân
điều” là vấn đề tất yếu.
Lafooco với lĩnh vực kinh doanh chính là chế biến nhân điều xuất khẩu. Một
công ty được đánh giá là làm ăn có hiệu quả và tạo được uy tín trên thị trường trong
nước và thế giới. Song, những thách thức và khó khăn chung của nền kinh tế cũng
đã ảnh hưởng đến không nhỏ đến hiệu quả xuất khẩu nhân điều tại công ty. Do đó
“Giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu nhân điều tại công ty CP chế biến hàng
xuất khẩu Long An Lafooco” là đề tài tôi chọn cho bài báo cáo tốt nghiệp của mình.
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân
Trang 2
nghiệm làm việc chuyên nghiệp, năng động của công ty.
Đồng thời được sự hỗ trợ từ phía công ty cũng như sự giúp đỡ từ GVHD đã
giúp em đưa ra được một số giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu nhân điều tại
công ty.
7. Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp
Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có các
phần sau :
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng hiệu quả xuất khẩu nhân điều tại công ty CP chế biến
hàng xuất khẩu Long An Lafooco.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu nhân điều tại công ty CP
chế biến hàng xuất khẩu Long An Lafooco.
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân
Trang 4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan về hoạt động xuất khẩu
1.1.1 Xuất khẩu là gì?
nên chuyên môn hóa một số mặt hàng có lợi thế và nhập khẩu các mặt hàng khác từ
nước ngoài mà sản xuất trong nước kém lợi thế hơn thì chắc chắn sẽ đem lại lợi
nhuận lớn hơn, điều này được thể hiện bằng lý thuyết sau: theo quan điểm về lợi thế
tuyệt đối của nhà kinh tế học Adam Smith, một quốc gia chỉ sản xuất các loại hàng
hóa, mà việc sản xuất này sử dụng tốt nhất, hiệu quả nhất các tài nguyên sẵn có của
quốc gia đó. Đây là một trong những giải thích đơn giản về lợi ích của thương mại
quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng. Nhưng trên thực tế việc tiến hành trao đổi
phải dưa trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi. Nếu trong trường hợp một quốc gia có
lợi và một quốc gia khác bị thiệt thì họ sẽ từ chối tham gia vào hợp đồng trao đổi
này.
1.1.3.2 Đối với nền kinh tế Việt Nam
Hoạt động xuất khẩu có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết đối với nước ta.
Với một nền kinh tế đang phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật còn hạn chế, không
đồng bộ, dân số phát triển nhanh việc đẩy mạnh xuất khẩu để tạo thêm công ăn việc
làm, cải thiện đời sống, tăng thu ngoại tệ, thúc đẩy phát triển kinh tế là một chiến
lược lâu dài. Để thực hiện được chiến lược lâu dài đó, chúng ta phải nhận thức được
ý nghĩa của hàng hóa xuất khẩu, nó được thể hiện:
- Xuất khẩu tạo được nguồn vốn, ngoại tệ lớn, góp phần quan trọng trong
việc cải thiện cán cân thanh toán, tăng lượng dự trữ ngoại tệ, qua đó tăng khả năng
nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ phát triển kinh tế, phục vụ quá trình Công
nghiệp hóa - Hiện đại hóa.
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân
Trang 6
- Thông qua việc xuất khẩu những mặt hàng có thế mạnh chúng ta có thể
phát huy được lợi thế so sánh, sử dụng các lợi thế nguồn lực trao đổi thành tựu khoa
học công nghệ tiên tiến. Đây là yếu tố then chốt trong quá trình Công nghiệp hóa -
Hiện đại hóa đất nước, đồng thời phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hay
xuất khẩu có tính cạnh tranh ngày càng cao hơn.
- Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải
nghiệp, chẳng hạn như hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát triển hoạt động sản
xuất, marketing… cũng như sự phân phối và mở rộng trong việc cấp giấy phép.
1.1.4 Các hình thức xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá được thực hiện dưới nhiều hình thức khác
nhau, điều này căn cứ vào đặc điểm sở hữu hàng hoá trước khi xuất khẩu, căn cứ
vào nguồn hàng xuất khẩu... Hiện nay, các doanh nghiệp ngoại thương thường tiến
hành một số hình thức xuất khẩu sau:
1.1.4.1 Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu, trong đó người bán (người sản
xuất, người cung cấp) và người mua quan hệ trực tiếp với nhau (bằng cách gặp mặt,
qua thư từ, điện tín) để bàn bạc thỏa thuận về hàng hóa, giá cả và các điều kiện giao
dịch khác.
1.1.4.2 Xuất khẩu ủy thác
Hoạt động xuất khẩu uỷ thác là một hình thức dịch vụ thương mại, theo đó
doanh nghiệp ngoại thương đứng ra với vai trò là trung gian thực hiện việc xuất
khẩu hàng hoá cho các đơn vị có hàng hoá uỷ thác. Trong hình thức này, hàng hoá
trước khi kết thúc quá trình xuất khẩu vẫn thuộc sở hữu của đơn vị uỷ thác. Doanh
nghiệp ngoại thương chỉ có nhiệm vụ làm các thủ tục về xuất khẩu hàng hoá, kể cả
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân
Trang 8
việc vận chuyển hàng hoá và được hưởng một khoản tiền gọi là phí uỷ thác mà đơn
vị uỷ thác trả.
1.1.4.3 Hoạt động gia công xuất khẩu quốc tế
Gia công quốc tế đó là một hoạt động mà một bên - gọi là bên đặt hàng -
giao nguyên vật liệu, có khi cả máy móc, thiết bị và chuyên gia cho bên kia gọi là
bên nhận gia công . Để sản xuất ra một mặt hàng mới theo yêu cầu của bên đặt
hàng. Hàng hoá sau khi sản xuất xong được giao cho bên đặt gia công. Bên nhận gia
công được trả tiền công. Khi hoạt động gia công vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì
được gọi là gia công quốc tế.
Tạm nhập tái xuất được hiểu là việc mua hàng hoá của một nước để bán cho
một nước khác (nước thứ ba) trên cơ sở hợp đồng mua bán ngoại thương có làm các
thủ tục nhập khẩu rồi lại làm các thủ tục xuất khẩu không qua gia công chế biến.
Đối với những hàng hoá nhập nhẩu nhằm mục đích sử dụng trong nước
nhưng một thời gian sau, vì một lý do nào đó nó không được sử dụng nữa mà được
xuất ra nước ngoài thì không được coi là hàng hoá kinh doanh theo hình thức tạm
nhập tái xuất.
Thời gian hàng hoá kinh doanh theo hình thức tạm nhập tái xuất được lưu
chuyển ở Việt Nam là 60 ngày.
Chuyển khẩu hàng hóa
Chuyển khẩu hàng hoá là việc mua hàng của một nước (nước xuất khẩu) để
bán cho một nước khác (nước nhập khẩu) nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào
Việt Nam cũng như thủ tục xuất khẩu từ Việt Nam.
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân
Trang 10
Quá cảnh hàng hóa
Hàng hoá của một nước được gửi đi tới một nước thứ ba qua lãnh thổ Việt
Nam, có sự cho phép của Chính phủ Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam nếu có
đủ điều kiện như quy định của Nhà nước Việt Nam có thể được xem xét cho thực
hiện dịch vụ này để tăng thêm thu nhập.
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu
1.1.5.1 Các nhân tố bên ngoài
- Các yếu tố chính trị, pháp luật:
Sự khác biệt về yếu tố chính trị, pháp luật giữa Việt Nam với các quốc gia có
ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam với các quốc gia đó.
Sự khác biệt giữa hệ thống pháp luật Việt Nam với luật nước ngoài là một
nhân tố có thể gây nên sự rủi ro lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong quá
trình hoạt động của mình. Hệ thống luật nước ta chưa thật sự hoàn chỉnh và chặt
chẽ, còn nhiều thay đổi và quy định chồng chéo nhau gây ảnh hưởng không nhỏ đến
của con người sống đó. Chính vì vậy văn hóa là yếu tố chi phối lối sống nên các nhà
xuất khẩu luôn luôn phải quan tâm tìm hiểu yếu tố văn hóa ở các thị trường mà
mình tiến hành một hoạt động xuất khẩu.
- Yếu tố tự nhiên và công nghệ:
Ngày nay khoa học công nghệ tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội
và mang lại nhiều lợi ích, trong xuất khẩu cũng mang lại nhiều kết quả cao. Nhờ sự
phát triển của bưu chính viễn thông, các doanh nghiệp ngoại thương có thể đàm
phán với các bạn hàng qua điện thoại, fax, email… giảm bớt chi phí, rút ngắn thời
gian. Giúp các nhà kinh doanh nắm bắt thông tin chính xác, kịp thời. Yếu tố công
nghệ cũng tác động đến quá trình sản xuất, gia công, chế biến hàng hóa xuất khẩu.
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân
Trang 12
Khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và các nước sẽ ảnh hưởng đến chi phí vận
tải, tới thời gian thực hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp đồng do vậy nó ảnh
hưởng đến việc lựa chọn nguồn hàng, lựa chọn cho thị trường và mặt hàng xuất
khẩu.
Vị trí của các nước cũng ảnh hưởng đến việc lưạ chọn nguồn hàng, thị
trường tiêu thụ. Ví dụ: việc mua bán hàng hóa với các nước có cảng biển có chi phí
thấp hơn so với các nước không có cảng biển.
Thời gian thực hiện hợp đồng xuất khẩu có thể bị kéo dài do bị thiên tai như
bão, động đất…
- Cơ sở hạ tầng:
Các yếu tố hạ tầng phục vụ hoạt động xuất khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến
xuất khẩu, chẳng hạn như:
+ Hệ thống giao thông đặc biệt là hệ thống cảng biển: mức độ trang bị, kho hàng…
Hệ thống cảng biển nên hiện đại sẽ giảm bớt thời gian bốc dở, thủ tục giao nhận
cũng như đảm bảo an toàn cho hàng hóa xuất khẩu.
+ Hệ thống ngân hàng: sự phát triển của hệ thống ngân hàng cho phép các nhà kinh
doanh xuất khẩu thuận lợi trong việc thanh toán, huy động vốn. Ngoài ra ngân hàng
chức của bộ máy điều hành cũng như cách thức điều hành cuả các cấp lãnh đạo là
nhân tố quyết định tính hiệu quả của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có cơ cấu tổ
chức hợp lý các điều hành hoạt động kinh doanh sẽ quyết định đến tới hiệu quả kinh
doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
- Quy trình sản xuất chế biến:
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân
Trang 14
Đây là quá trình tạo ra sản phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản
phẩm, đến thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất khẩu của doanh
nghiệp.
Để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu
dùng ở các nước nhập khẩu đặc biệt là yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm ngày
càng cao, doanh nghiệp cần cải thiện thường xuyên quy trình sản xuất sản phẩm
ngày càng hiện đại hơn, cho công suất cao hơn, tiết kiệm hơn.
- Hoạt động Marketing:
Trong giai đoạn hội nhập ngày nay, để có thể cạnh tranh với sản phẩm của các
doanh nghiệp khác trên thị trường quốc tế, doanh nghiệp cần thực hiện tốt các hoạt
động marketing của mình để xây dựng thương hiệu vững mạnh, tạo lòng tin với
người tiêu dùng trong lẫn ngoài nước. Nếu thực hiện tốt các hoạt động marketing,
hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp sẽ mang lại hiệu quả hơn, khẳng định vị trí
của mình trên thị trường.
1.2 Tổng quan về ngành điều
1.2.1 Đôi nét về ngành điều
Là quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, thổ nhưỡng và khí hậu của
Việt Nam rất phù hợp cho sự phát triển của cây điều.
Thấy được giá trị kinh tế của cây điều, ngay từ những năm 1980, Đảng và
Nhà nước đã bước đầu có sự quan tâm đến cây điều, đặc biệt là công nghệ chế biến
điều xuất khẩu – tại Hội nghị ngoại thương tổ chức tại tỉnh Sông Bé (cũ) vào năm
1982, cố Thủ tướng Phạm Hùng đã chỉ đạo cho ngành ngoại thương phải tổ chức
Trang 16
Việt Nam là một trong những nước có diện tích và sản lượng điều đứng hàng
thứ hai trên thế giới sau Ấn Độ, là nước xuất khẩu hạt điều nhân hàng đầu thế giới
trong nhiều năm qua. Bình Phước là tỉnh có diện tích điều lớn nhất cả nước. Bình
Phước được biết đến với năng suất và chất lượng hàng đầu. Hiện tại ngành điều
Việt Nam – ngành điều Bình Phước đang phát triển ngày càng hội nhập sâu rộng và
có vị thế quan trọng trong ngành điều thế giới.
1.2.2 Ngành điều trên Thế Giới nói chung
Cây điều sinh trưởng và phát triển tốt ở những quốc gia thuộc khu vực cận
xích đạo – nơi có nhiệt độ và độ ẩm cao. Hiện có 32 quốc gia trồng điều trên thế
giới. Ấn Độ là nước có diện tích cây điều lớn nhất thế giới và dẫn đầu thế giới về
sản lượng điều thô và nhân điều chế biến. Được biết tổng sản lượng điều thô toàn
thế giới tại thời điểm từ 1,575 - 1,600 ngàn tấn, bao gồm Ấn Độ 400 - 500 ngàn tấn,
chiếm 25 đến 30% tổng sản lượng. Tiếp theo là Brazin, Việt Nam, các nước châu
Phi như Bờ Biển Ngà, Tanzania, Guinea Bissau, Benin, Nigeria, Mozambique,
Senegal và Kenya – những quốc gia sản xuất điều nổi tiếng; mỗi năm các nước
Châu Phi cũng đóng góp khoảng 500 ngàn tấn điều thô vào tổng sản lượng điều thế
giới.
Ở Ấn Độ cây điều được trồng rộng rãi ở các bang Maharashra, Andhra
Pradesh, Orissa, Kerala,Tamil Nadu, Karnataka, Goa và West Bengal. Ngoài những
bang trồng điều truyền thống này, cây điều hiện còn được trồng ở các bang khác của
Ấn Độ như Gujarat và Assam - nơi mà diện tích cây điều có sự đột phá thời gian
gần đây.
Chế biến là một trong những khâu quan trọng của chuỗi giá trị hạt điều. Mỗi
quốc gia đều có những cách chế biến và công đoạn chế biến điều riêng. Trong khi ở
Braxin cơ giới hóa chế biến điều thì Ấn Độ vẫn phụ thuộc nhiều vào lao động thủ
công, thậm chí ở Ấn Độ, mỗi vùng khác nhau có phương pháp chế biến khác nhau.
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân
Trang 17
Năm 2010 là năm đầu tiên kim ngạch xuất khẩu hạt điều của Việt Nam chạm
mốc 1 tỷ USD. Con số này đã giúp Việt Nam tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu thế giới
trong năm thứ tư về xuất khẩu mặt hàng này.
Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn ước tính lượng điều xuất khẩu cả
năm 2010 đạt khoảng 196 nghìn tấn, kim ngạch thu về là 1,14 tỷ USD, tăng 10,8%
về lượng và 34,8% về giá trị so với cùng kỳ. Giá xuất khẩu bình quân 11 tháng đạt
5.737 USD/tấn tăng 21,5 % so với cùng kỳ năm 2009. Hiện nay, Mỹ vẫn tiếp tục
giữ vị trí đầu bảng về tiêu thụ điều của Việt Nam, chiếm tỷ trọng 32,6% về giá trị.
Bộ NN&PTNT vừa đưa ra dự báo về tình hình xuất khẩu của ngành điều
trong năm 2011. Theo đó, trong năm 2011, lượng điều xuất khẩu của Việt Nam có
thể sẽ đạt 163.000 tấn, với giá trị kim ngạch ở mức 1,32 tỷ USD, giảm 17,6% về
lượng nhưng tăng 16% về giá trị so với năm 2010.Cũng theo Bộ NN&PTNT, trong
năm 2011, xuất khẩu điều tiếp tục được giá, theo tính toán, giá xuất khẩu nhân điều
cả năm 2011 dự báo sẽ ở mức 8.098 USD/tấn, tăng 22,6% so với cùng kỳ năm
2010.
Được biết, 7 tháng năm 2011 Việt Nam xuất khẩu 84.000 tấn điều, trị giá
656 triệu USD. Giá xuất khẩu bình quân đạt 7.631 USD/tấn, tăng 43,9% so cùng kỳ
năm trước.
Hiện nay Việt Nam đang là nước xuất khẩu nhân điều số 1 thế giới. Song để
giữ được vị trí này là điều rất khó, bởi lẽ diện tích trồng điều của Việt Nam đang
ngày càng giảm dần.
Theo Bộ NN&PTNT trong thời gian qua diện tích và năng suất và sản lượng
điều của Việt Nam đều giảm. Sản lượng điều trong nước đã từng chiếm từ 70 - 80%
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân
Trang 19
công suất chế biến của toàn ngành giai đoạn 2005 - 2008 thì năm 2009 chỉ đạt 49%
tổng công suất, năm 2010 đạt 39% và năm 2011 ước đạt 33% công suất chế biến.
Diện tích trồng điều cũng giảm mạnh, năm 2010 chỉ còn 372.000 ha, giảm
20.696 ha so với năm 2009 và nếu so với năm 2006 thì diện tích còn giảm nhiều
Mục tiêu phát triển ngành Điều bền vững, giữ vững vị trí số một thế giới về
xuất khẩu Điều, đảm bảo có sức cạnh tranh cao. Cụ thể:
TT
Mục tiêu cụ thể ĐVT Giai đoạn 2011-2020
Đến 2015 Đến 2020
1 Diện tích Điều 1.000 ha 315-350 300-330
2 Năng suất Điều bình quân
chung
Kg/ha 1.000 1.200-1.400
3 Sản lượng hạt Điều thô 1.000 tấn 300 350
4 Sản lượng Điều chế biến 1.000 tấn 800 900
5 Tỷ trọng nhân Điều chế biến
sâu
% 10 20
6 Trình độ cơ giới hóa trong khâu
chế biến Điều
% 70 90
7 Kim ngạch xuất khẩu (kể cả sản
phẩm chế biến sâu và dầu vỏ
hạt Điều
Triệu
USD
1.200 1.500
8 Đào tạo lao động (nông dân
trồng Điều, công nhân chế biến
Điều-tỷ lệ 50/50)
1.000 lao
động
1.500 2.000
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân
khoản nợ đến hạn, nó chỉ ra phạm vi, qui mô mà các yêu cầu của các chủ nợ được
trang trải bằng những tài sản lưu động có thể chuyển đổi thành tiền trong thời kỳ
phù hợp với thời hạn trả nợ.
Công thức: Ý nghĩa: tỷ số này cho biết trung bình một đồng nợ ngắn hạn của công ty sẽ
có bao nhiêu đồng tài sản lưu động sẵn sàng chi trả.
1.3.1.1.2 Khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán nhanh được hiểu là khả năng doanh nghiệp dùng tiền
hoặc tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để trả nợ ngay khi đến hạn và quá
hạn.
Ngoài tỷ số thanh toán hiện thời và vốn lưu động người ta còn có nhiều
phương pháp thử nghiệm tính chất thích hợp trong vị trí hiện tại của một doanh
nghiệp. Những tài sản nào là những tài sản quay vòng nhanh. Đó là những tài sản
mà có thể nhanh chóng đưa đến ngân hàng khi cần, chúng là những tài sản có thể
nhanh chóng chuyển đổi thành tiền mặt. Nó không bao gồm hàng tồn kho, bởi vì
người ta cần phải có thời gian bán chúng và có khả năng mất giá cao, nghĩa là nó có
khả năng thanh toán kém nhất.
Tỷ số thanh toán
hiện thời
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Ngân
Trang 23
Do đó tài sản quay vòng nhanh là phần còn lại của tài sản lưu động sau khi
trữ cho hàng tồn kho.
Công thức:
Ý nghĩa: tỷ số nợ cho thấy, tương ứng với mỗi 100 đồng vốn do chủ doanh
nghiệp cung cấp, chủ nợ cung cấp sẽ có bao nhiêu đồng tài trợ.
1.3.1.2.2 Khả năng thanh toán lãi vay
Lãi nợ vay hàng năm là một khoản chi phí cố định và chúng ta muốn biết
công ty sẳn sàng trả tiền lãi đến mức nào. Cụ thể hơn, chúng ta muốn biết rằng liệu
vốn đi vay có thể được sử dụng tốt đến mức có thể đem lại những khoản lợi nhuận
bao nhiêu và có đủ để bù đắp lại các chi phí về tiền lãi hay không.
Tỷ số này được dùng để đo lường mức độ mà lợi nhuận phát sinh do việc sử
dụng vốn để đảm bảo khả năng trả lãi vay như thế nào.
Công thức: Ý nghĩa: hệ số cho biết một đồng lãi vay được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng
lợi nhuận trước thuế và lãi vay.
1.3.1.3 Các tỷ số về hoạt động
1.3.1.3.1 Vòng quay tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp nghĩa là
trong một năm tài sản của doanh nghiệp quay được bao nhiêu lần.
Công thức:
Hệ số thanh toán
lãi vay
Tổng lợi nhuận trước thuế + lãi vay
Chi phí lãi vay
Vòng quay tài
sản
thụ
Lợi tức sau thuế
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng
tài sản cố định
Doanh thu thuần
Tài sản cố định