Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Hằng
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài:
Trong nền kinh tế của mỗi quốc gia sản xuất ra sản phẩm hàng hóa là nhiệm vụ
quan trọng của ngành sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng ngày càng
tăng của xã hội.
Nền kinh tế nước ta từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của nhà nước đã thật sự khởi sắc, tăng trưởng liên tục trong nhiều năm. Trong đó, khu
vực công nghiệp đã góp một phần quan trọng vào sự tăng trưởng này. Tuy nhiên nền
kinh tế thị trường với những qui luật khắc nghiệt của nó đã tác động mạnh mẽ, quan
trọng đến sự tồn tại và phát triển của các Doanh nghiệp. Các Doanh nghiệp không ngừng
nâng cao năng lực sản xuất để tạo ra sản phẩm có chất lượng, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi
ngày càng cao của xã hội. Nhưng sản phẩm sản xuất ra phải được tiêu thụ, đảm bảo
Doanh nghiệp không bị ứ động vốn, tăng lợi nhuận để Doanh Nghiệp ngày càng phát
triển. Muốn được như vậy thì mỗi bản thân các Doanh Nghiệp phải có sự nổ lực, cố
gắng lớn, phải chú trọng đầu tư chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị, hoàn thiện bộ máy
quản lý, bộ máy sản xuất, tăng cường các biện pháp quản lý trong sản xuất và kinh
doanh nhằm làm cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đạt hiệu quả kinh tế cao.
Cũng như các Doanh Nghiệp khác, Công ty TNHH In Cát Thành trực thuộc NXB
Chính Trị Quốc Gia nay đã tự mình mở lối đi riêng cho sự nghiệp phát triển của mình đã
không ngừng nỗ lực để khẳng định tên tuổi của mình. Công ty này có nhiệm vụ và năng
lực chủ yếu là sản xuất các ấn phẩm như sách báo, tập san, nhãn mác, bao nhựa, màng
co… Do đó để tồn tại và phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường có rất nhiều đối thủ
cạnh tranh, Công ty Cát Thành đã đầu tư nhiều thiết bị máy móc hiện đại để đảm bảo về
mặt kỹ thuật. Tuy nhiên doanh thu hàng năm tăng chưa cao, vẫn còn hạn chế về khâu
tiêu thụ sản phẩm. Mà quá trình tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của hoạt động sản
xuất, là khâu giúp nâng cao doanh thu cho công ty, giúp công ty có thể tồn tại và phát
triển lâu dài.
SVTH: Lê Kim Huyền 1 Lớp 09HQT1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Hằng
Xuất phát từ thực tiễn trên, chính vì vậy em quyết định chọn đề tài : “Một số giải
chỉnh hơn.
SVTH: Lê Kim Huyền 3 Lớp 09HQT1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Hằng
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM
1.1 KHÁI NIỆM VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM:
SVTH: Lê Kim Huyền 4 Lớp 09HQT1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Hằng
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình giải quyết ba vấn đề
trung tâm cốt lõi trong hoạt động sản xuất kinh doanh đó là: Sản xuất và kinh doanh cái
gì? Sản xuất và kinh doanh như thế nào? Và cho ai? Cho nên việc tiêu thụ sản phẩm
hàng hóa cần được hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng:
Theo nghĩa rộng:
Tiêu thụ hàng hóa là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu bắt đầu từ việc
nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu doanh nghiệp cần thỏa mãn, xác định mặt hàng
kinh doanh và tổ chức sản xuất (DNSX) hoặc tổ chức cung ứng hàng hóa (DNTM) và
cuối cùng là việc thực hiện các nghiệp vụ bán hàng nhằm đạt mục tiêu cao nhất.
Do tiêu thụ hàng hóa là cả một quá trình gồm nhiều hoạt động khác nhau nhưng
có quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau cho nên để tổ chức tốt việc tiêu thụ hàng hóa
doanh nghiệp không những phải làm tốt mỗi khâu công việc mà còn phải phối hợp nhịp
nhàng giữa các khâu kế tiếp, giữa các bộ phận tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá
trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa trong doanh nghiệp. Phối hợp nhịp nhàng giữa các
khâu kế tiếp có nghĩa là các khâu trong quá trình tiêu thụ hàng hóa không thể đảo lộn
cho nhau mà phải thực hiện một cách tuần tự theo chu trình của nó. Doanh nghiệp không
thể tổ chức sản xuất rồi mới đi nghiên cứu thị trường, điều đó sẽ làm cho hàng hóa
không đáp được nhu cầu tiêu dùng, cũng có nghĩa không thể tiêu thụ được sản phẩm
hàng hóa và dẫn đến doanh nghiệp phá sản.
Theo nghĩa hẹp:
Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa được hiểu như là hoạt động bán hàng và việc
chuyển quyền sở hữu hàng hóa của doanh nghiệp cho khách hàng đồng thời thu tiền về.
SVTH: Lê Kim Huyền 6 Lớp 09HQT1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Hằng
hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường trôi chảy tránh được sự mất cân đối,
giữ được bình ổn trong xã hội.
1.3 Ý NGHĨA CỦA TIÊU THỤ SẢN PHẨM:
Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là hoạt động thực tiễn, sản phẩm được vận động từ
nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Đặc điểm lớn nhất của sản phẩm ở mỗi doanh nghiệp là
nó được sản xuất ra và đem đi bán nhằm thực hiện các mục tiêu hiệu quả đã định trước,
đó là:
Thứ nhất : Mục tiêu lợi nhuận.
Lợi nhuận là mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp
hạch toán kinh doanh. Nó là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh
∑ Lợi nhuận = ∑ Doanh thu - ∑ Chi phí
Vì vậy, tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp. Tiêu thụ sản
phẩm tốt thì thu nhiều lợi nhuận và ngược lại sản phẩm mà không tiêu thụ được hoặc
tiêu thụ được ít thì lợi nhuận sẽ thấp, hoặc có thể hòa vốn hoặc lỗ.
Thứ hai : Mục tiêu vị thế của doanh nghiệp.
Vị thế của doanh nghiệp biểu hiện phần trăm doanh số hoặc số lượng hàng hóa
được bán ra so với toàn bộ thị trường. Tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến vị
thế của doanh nghiệp trên thị trường. Tiêu thụ mạnh làm tăng vị thế của doanh nghiệp
trên thị trường.
Thứ ba : Đảm bảo tái sản xuất được liên tục.
Quá trình tái sản xuất bao gồm 4 khâu: Sản xuất – Phân phối – Trao đổi – Tiêu
dùng, nó diễn ra trôi chảy. Tiêu thụ sản phẩm nằm trong khâu phân phối và trao đổi. Nó
SVTH: Lê Kim Huyền 7 Lớp 09HQT1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Hằng
là một bộ phận hữu cơ trong quá trình tái sản xuất. Do đó, thị trường có ý nghĩa quan
trọng đảm bảo quá trình tái sản xuất được diễn ra liên tục, trôi chảy.
1.4 NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC TIÊU THỤ SẢN PHẨM:
sản phẩm hay dịch vụ. Mục tiêu của nghiên cứu thị trường là để có được những thông
tin cần thiết phục vụ cho quá trình xây dựng các kế hoạch về tiêu thụ sản phẩm. Các
thông tin này nhằm trả lời các câu hỏi: doanh nghiệp nên hướng vào thị trường nào?
Tiềm năng thị trường? Làm thế nào để nâng cao doanh số? Sản phẩm, dịch vụ như thế
nào? Giá cả bao nhiêu? Mạng lưới tiêu thụ nên được tố chức như thế nào?
Nghiên cứu thị trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì đây là cơ sở để xác định
khối lượng bán, giá bán, mạng lưới và hiệu quả của công tác tiêu thụ và các quyết định
khác trong tiêu thụ sản phẩm. Nghiên cứu thị trường còn giúp doanh nghiệp biết được xu
hướng, sự biến đổi nhu cầu của khách hàng, sự phản ứng của họ đối với sản phẩm của
doanh nghiệp, thấy được sự biến động của thu nhập và giá cả, từ đó có các biện pháp
điều chỉnh cho phù hợp. Đây là công tác đòi hỏi nhiều công sức và chi phí. Đối với
SVTH: Lê Kim Huyền 9 Lớp 09HQT1
Thị trường
Phân phối &
giáo tiếp
Giá,doanh số
Dịch vụ
Sản phẩm
Ngân quỹ
Quản lý hệ
thống phân phối
Quản lý dự trữ
và hoàn thiện
sản phẩm
Quản lý lực
lượng bán
Tổ chức bán
hàng và cung
cấp dịch vụ
Hàng
Tiêu thụ sản phẩm được thực hiện bằng nhiều hình thức (kênh) khác nhau, theo
đó sản phẩm vận động từ các doanh nghiệp sản xuất đến tay các hộ tiêu dùng cuối cùng.
Để hoạt động tiêu thụ có hiệu quả cần phải lựa chọn kênh tiêu thụ sản phẩm một cách
hợp lý trên cơ sở tính đến các yếu tố như đặc điểm sản phẩm, các điều kiện vận chuyển,
bảo quản, sử dụng …
Căn cứ vào mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với người tiêu dùng cuối cùng
tiêu thụ sản phẩm có thể được thực hiện qua kênh trực tiếp hoặc kênh gián tiếp.
Kênh tiêu thụ trực tiếp: là hình thức doanh nghiệp xuất bán thẳng sản phẩm của
mình cho người tiêu dùng cuối cùng không qua một khâu trung gian nào. Hình thức tiêu
thụ này có ưu điểm là giảm được chi phí lưu thông, thời gian sản phẩm tới tay người tiêu
dùng nhanh hơn, các doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng …
song nó cũng có nhược điểm là doanh nghiệp phải tiếp xúc trực tiếp với nhiều bạn hàng,
SVTH: Lê Kim Huyền 10 Lớp 09HQT1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Hằng
phải dành nhiều công sức, thời gian vào quá trình tiêu thụ, nhiều khi làm cho tốc độ chu
chuyển của vốn lưu động chậm hơn…
Kênh tiêu thụ gián tiếp: là hình thức mà doanh nghiệp xuất bán sản phẩm của
mình cho người tiêu dùng cuối cùng có qua khâu trung gian. Sự tham gia nhiều hay ít
của người trung gian trong quá trình tiêu thụ sẽ làm cho kênh tiêu thụ gián tiếp dài ngắn
khác nhau. Với hình thức tiêu thụ này, các doanh nghiệp có thể tiêu thụ được một khối
lượng lớn hàng hóa trong thời gian ngắn nhất, từ đó thu hồi vốn nhanh, tiết kiệm chi phí
bảo quản, giảm hao hụt… Tuy nhiên, hình thức tiêu thụ này làm cho thời gian lưu thông
hàng hóa dài hơn, tăng chi phí tiêu thụ và doanh nghiệp khó có thể kiểm soát được các
khâu trung gian…
Như vậy, mỗi hình thức tiêu thụ sản phẩm đều có ưu nhược điểm nhất định,
nhiệm vụ của phòng kinh doanh phải lựa chọn hợp lý các hình thức tiêu thụ sản phẩm
sao cho phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp.
1.4.4 Tổ chức hoạt động bán hàng:
Bán hàng là một trong những khâu cuối cùng của hoạt động kinh doanh. Hoạt
động bán hàng là hoạt động mang tính nghệ thuật, tác động đến tâm lý của người mua
Hoạt động PR có thể mang tính cá nhân, phải trả tiền và cũng có thể chịu sự kiểm
soát hay không của các nhà tài trợ.
Về cơ bản, những hoạt động quảng cáo hỗ trợ bán hàng trong khi những hoạt
động PR tạo ra những điều kiện và môi trường thuận lợi để bán hàng diễn ra.
Mục tiêu của quan hệ công chúng đều hướng theo hình ảnh của sản phẩm, công
ty hay ngành, cụ thể như:
- Đạt được những vị trí và thời điểm tốt trên các phương tiện cho các thông
cáo báo chí và diễn giả của công ty.
- Truyền thông những báo cáo về thành quả hoạt động của công ty.
SVTH: Lê Kim Huyền 12 Lớp 09HQT1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Hằng
- Đạt được vị trí cần thiết cho công ty khi nổ ra những cuộc tranh luận, bút
chiến.
- Kết hợp hoạt động xã hội với quảng cáo.
- Giành nhiều phương tiện tường thuật hơn cạnh tranh.
- Giữ vững tình cảm của công chúng.
- Vươn tới nhiều nhóm phương tiện.
- Xây dựng thiện cảm của công chúng với sản phẩm, công ty và với ngành.
1.4.5.3 Khuyến mãi:
Khuyến mãi là những khích lệ ngắn hạn để khuyến khích việc mua một sản phẩm
vật chất hay một dịch vụ.
Doanh nghiệp sử dụng khuyến mãi là công cụ để tạo ra phản ứng mua nhanh hơn
và mạnh hơn. Khuyến mãi có thể được sử dụng để sản phẩm được chú ý và nâng cao
mức bán đang sút giảm. Khuyến mãi có hiệu quả trong ngắn hạng, tuy nhiên không hiệu
quả khi xây dựng sự ưa thích nhãn hiệu lâu dài.
Mục tiêu của khuyến mãi thường hướng đến nhu cầu và tùy thuộc vào đối tượng
tác động là trung gian phân phối hay là người sử dụng.
1.4.5.4 Bán hàng cá nhân:
Bán hàng cá nhân là sự giao tiếp mặt đối mặt của nhân viên bán hàng với khách
hàng tiềm năng để trình bày, giới thiệu và bán sản phẩm.
Một thể chế chính trị, một hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, mở rộng và ổn
định sẽ làm cơ sở cho sự bảo đảm điều kiện thuận lợi và bình đẳng cho các doanh
nghiệp tham gia cạnh tranh lành mạnh, đạt hiệu quả cao cho doanh nghiệp và xã hội. Thể
SVTH: Lê Kim Huyền 14 Lớp 09HQT1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Hằng
hiện rõ nhất là các chính sách tài chính, những quan điểm trong lĩnh vực nhập khẩu, các
chương trình quốc gia, chế độ tiền lương, trợ cấp, phụ cấp cho người lao động … Các
nhân tố này đều ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
1.5.3 Về khoa học công nghệ:
Nhóm nhân tố khoa học công nghệ tác động một cách quyết định đến hai yếu tố
cơ bản nhất tạo nên khả năng cạnh tranh trên thị trường hay khả năng tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp, đó là hai yếu tố chất lượng và giá bán. Khoa học công nghệ hiện đại
áp dụng trong sản xuất kinh doanh góp phần làm tăng chất lượng hàng hóa và dịch vụ,
giảm tối đa chi phí sản xuất (tăng hiệu suất) dẫn tới giá thành sản phẩm giảm.
1.5.4 Về khách hàng:
Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định đến sự
thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Bởi vì khách hàng tạo nên thị trường, quy mô
của khách hàng tạo nên quy mô thị trường. Những biến động tâm lý khách hàng thể hiện
qua sự thay đổi sở thích, thị hiếu, thói quen làm cho số lượng sản phẩm được tiêu thụ
tăng lên hay giảm đi. Việc định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh hướng vào nhu
cầu của khách hàng sẽ đem lại kết quả khả quan cho doanh nghiệp tạo thói quen và tổ
chức các dịch vụ phục vụ khách hàng, đánh đúng vào tâm lý tiêu dùng là biện pháp hữu
hiệu nâng cao hiệu quả của hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Một nhân tố đặc biệt quan
trọng là mức thu nhập và khả năng thanh toán của khách hàng có tính quyết định đến
lượng hàng hóa tiêu thụ của doanh nghiệp. Khi thu nhập tăng thì nhu cầu tăng và khi thu
nhập giảm thì nhu cầu giảm, do vậy doanh nghiệp cần có những chính sách giá, chính
sách sản phẩm hợp lý.
1.5.5 Về đối thủ cạnh tranh:
Số lượng các doanh nghiệp trong ngành và các đối thủ ngang sức tác động rất lớn
đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có quy mô lớn, khả năng
THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI
CÔNG TY IN CÁT THÀNH
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY IN CÁT THÀNH:
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty:
• Tên giao dịch : Công Ty In CÁT THÀNH.
• Địa chỉ giao dịch : 25A khu B số 02 Lê Hồng Phong- Nha Trang.
• Mã tài khoản : 710D 00702
• Ngành nghề kinh doanh : In sách, tập san, nhãn mác, bao nhựa, màng co…
SVTH: Lê Kim Huyền 18 Lớp 09HQT1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Hằng
Công ty TNHH thương mại In và sản xuất Cát Thành (nguyên là Xưởng in Chi
nhánh Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia tại Nha trang) được thành lập theo giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh số: 3702000122 cấp ngày 28/02/2001 do Sở Kế Hoạch và Đầu
Tư Tỉnh Khánh Hòa cấp.
Trong năm đầu đi vào hoạt động Công ty đã phải đương đầu với 1 số khó khăn
nhất định về vốn và nguồn hàng in. Do trước đây thuộc chi nhánh NXBCTQG nên
Xưởng in có nhiệm vụ tổ chức Xuất bản, in ấn, và phát hành rộng rãi, kịp thời tất cả các
loại sách của NXBCTQG để làm tốt công tác tuyên truyền của Đảng và nhà nước, phục
vụ nhiệm vụ chính trị khu vực Miền Trung & Tây Nguyên. Vì vậy khi có quyết định
chấm dứt hoạt động của Xưởng in Chi Nhánh NXBCTQG chuyển sang Công ty TNHH,
Công ty In CÁT THÀNH đã mất hẳn nguồn hàng quan trọng này.
Nhưng với quyết tâm đổi mới, xây dựng Công ty, Ban Giám Đốc Công ty đã
không ngừng phấn đấu khai thác thị trường và nhận thấy các mặt hàng in bao bì nhựa, ny
lon, màng co ở tỉnh Khánh Hòa và khu vực Miền Trung là tương đối mới mẻ và chưa có
nhiều cạnh tranh trên thị trường. Do vậy tháng 06/2002 Ban Giám đốc công ty
đã quyết định đầu tư 1 máy in nhựa 4 màu chuyên in các loại bao bì nhựa, màng co.
Quyết định nhanh nhạy, kịp thời đã cứu vãn tình thế khó khăn về nguồn hàng cho
công ty nên năm vừa qua sản phẩm bao bì nhựa, màng co gần như là mặt hàng chủ lực
của Công ty kết hợp với sản phẩm truyền thống cao cấp in trên máy 04 màu. Nâng số
lao động từ 35 người ban đầu lên 102 người, với mức lương bình quân từ 1.000.000đ lên
vụ
P.Xưởng
Máy dao & thành phẩm
P.Xưởng
Máy dao & thành phẩm
P.Xưởng In
P.Xưởng In
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Hằng
Có chức năng giúp giám đốc quản lý về tổ chức nhân sự, lao động tiền lương,
hành chính, quản trị và các chế độ đối với người lao động, kế hoạch đào tạo, thi đua
khen thưởng.
Phòng Kế toán:
• Giúp giám đốc quản lý tình hình tài chính của công ty, thực hiện các chế
độ hoạch toán kế toán, thống kê đúng theo chế độ nhà nước quy định.
• Lập kế hoạch tài chính hàng năm.
• Cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các số liệu liên quan đến việc điều
hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
• Báo cáo định kỳ về kế hoạch sản xuất kinh doanh của các bộ phận lên
giám đốc.
• Thực hiện công tác báo cáo kế toán, thống kê theo định kỳ.
Phòng kỹ thuật Điều độ sản xuất:
• Có trách nhiệm quản lý kỹ thuật toàn bộ khâu sản xuất và điều hành tiến
độ sản xuất trong xưởng để làm cho hoạt động của xưởng nhịp nhàng, luôn hoàn thành
kế hoạch được giao.
• Lập kế hoạch và theo dõi quy trình sản xuất của toàn xưởng.
• Đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất.
• Chịu trách nhiệm giải quyết mọi vướng mắc trong suốt quá trình sản xuất.
• Lập sổ sách báo cáo với ban giám đốc về tình hình sản xuất trong ngày và
lập kế hoạch tác nghiệp cho ngày tới, tuần tới.
Phân xưởng máy in :
( Nguồn phòng Hành chính – Nhân sự)
SVTH: Lê Kim Huyền 22 Lớp 09HQT1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Hằng
Nhận xét:
Hiện nay, số lượng cán bộ nhân viên trong công ty là 102 người. Trong đó, trình
độ Đại học chiếm 4.9%, Cao đẳng chiếm 2.9% và Trung cấp chiếm 14,71%. Điều này
cho thấy chất lượng đội ngũ lao động trong công ty không cao. Đội ngũ cán bộ khoa học
kỹ thuật và quản lý có độ tuổi trung bình cao lại ít được cập nhật các thông tin mới. Tỷ
lệ cán bộ có trình độ đại học trở lên thấp. Với tình trạng đội ngũ lao động như vậy sẽ
khiến cho công ty gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu công nghệ sản xuất mới cũng
như vận dụng các phương thức kinh doanh mới.
Bên cạnh đó, lực lượng chiếm số đông nhất trong công ty là công nhân sản xuất.
Họ là những người trẻ, khỏe, nhiệt tình trong công việc. Điều này cũng phần nào tạo
điều kiện thuận lợi cho công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng ngoài việc được hưởng mức lương trung bình
hàng tháng, công ty còn thực hiện các chính sách về công đoàn, bảo hiểm xã hội, chế độ
khen thưởng cho các cán bộ công nhân viên. Điều này đã động viên khuyến khích người
lao động an tâm làm việc, toàn tâm, toàn lực và thực sự gắn bó với công ty, phát huy hết
khả năng và sức lực của mình để thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của công ty
phát triển.
2.1.3 Lĩnh vực hoạt động kinh doanh:
2.1.3.1 Mặt hàng sản xuất kinh doanh:
Thành phẩm của công ty In Cát Thành là những trang in ấn. Chủng loại thành
phẩm của công ty rất đa dạng, có thể đơn giản và phức tạp. Sản phẩm của công ty sản
xuất ra theo các yêu cầu của đơn đặt hàng. Công ty không tự sản xuất ra một loại sản
phẩm nào. Do đó, sản phẩm sản xuất ra đều được gắn liền với khách hàng cụ thể. Đây
chính là điểm nổi bật trong công tác sản xuất và tiêu thụ của công ty.
Mặt hàng sản xuất của công ty trong những năm qua gồm:
- Sách, báo, tạp chí, tập san …
SỐ LƯỢNG SẢN PHẨM TIÊU THỤ NĂM 2008 – 2010
Đơn vị tính: triệu trang khổ 13x19cm.
TÊN SẢN PHẨM Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 % TĂNG
2009 so
với 2008
2010 so
với 2009
Sách, Báo, Tạp chí,
Tập san
5.492,697 6.692,158 8.220,335 21,84% 22,84%
SVTH: Lê Kim Huyền 25 Lớp 09HQT1