i
LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ, truyền đạt kiến thức tận tình của các Thầy giáo, Cô giáo của Trường Đại học
Nha Trang cũng như một số trường Đại học khác.
Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo, Tiến sỹ Lê Kim Long, người hướng dẫn
khoa học rất tận tình và chu đáo trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp trong Xí nghiệp, Quý khách hàng,
Cán bộ Sở Công thương, đã nhiệt tình giúp đỡ, tư vấn và cung cấp tài liệu thông tin
hữu ích để tôi hoàn thành luận văn.
Xin chân thành gửi lời cảm đến các anh chị em trong lớp Cao học Quản trị kinh
doanh khóa 2009, Trường Đại học Nha Trang đã cùng tôi trau dồi kiến thức và kinh
nghiệm quí giá trong suốt thời gian học tập.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH
NGHIỆP 5
1.1 Lý thuyết về cạnh tranh 5
1.1.1 Cạnh tranh (Competition) 5
1.1.2 Năng lực cạnh tranh 5
1.1.3 Năng lực cốt lõi và Lợi thế cạnh tranh (Core competencies and Competitive
Advantages) 6
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh tranh của doanh nghiệp 7
1.2.1 Khái niệm 7
1.2.2 Môi trường vĩ mô 7
1.2.3 Môi trường vi mô 9
1.2.3.1 Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn 10
1.2.3.2 Đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành 11
1.2.3.3 Các sản phẩm thay thế 11
1.2.3.4 Áp lực từ khách hàng (người mua) 12
1.2.3.5 Áp lực từ phía nhà cung ứng 12
1.3 Các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 12
1.3.1 Trình độ quản lý điều hành 13
1.3.2 Nguồn nhân lực 13
1.3.3 Năng lực tài chính 14
1.3.4 Nguồn hàng và tồn trữ 14
1.3.5 Năng lực Marketing và dịch vụ bán hàng 15
1.3.6 Hệ thống thông tin 15
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 16
iv
1.5 Ma trận hình ảnh cạnh tranh-Competative Profile Matrix - CPM 18
1.6 Tổng lược các đề tài nghiên cứu liên quan 20
1.7 Kết luận chương 1 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA XÍ NGHIỆP
KINH DOANH XĂNG DẦU KIÊN GIANG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN
2.4.2 Các yếu tố thuộc môi trường vi mô 48
2.4.2.1 Áp lực từ phía khách hàng 48
2.4.2.2 Áp lực từ phía nhà cung cấp 50
2.4.2.3 Nguy cơ xâm nhập từ các đối thủ tiềm năng 51
2.4.2.4 Nguy cơ từ các sản phẩm thay thế 52
2.4.2.5 Áp lực cạnh tranh của các đối thủ hiện tại trong ngành 52
2.5 Thực trạng các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của Xí Nghiệp KDXD Kiên
Giang 53
2.5.1 Quy mô doanh nghiệp: 53
2.5.2 Yếu tố về uy tín-thương hiệu, chất lượng hàng hóa và sự chính xác trong đo
lường: 54
2.5.3 Nguồn nhân lực 55
2.5.4 Tình hình tài chính 57
2.5.5 Các yếu tố về marketing 62
2.5.5.1 Hàng hóa (Petroleum Products) 62
2.5.5.2 Giá (Price) 63
2.5.5.3 Hệ thống phân phối (Place) 63
2.5.5.4 Hoạt động chiêu thị (Promotion) 65
2.5.6 Khả năng quản lý điều hành 66
2.6 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Xí Nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh tại
khu vực Kiên Giang 67
2.6.1 Quy trình và phương pháp 67
2.6.1.1 Xây dựng khung đánh giá năng lực cạnh tranh của Xí Nghiệp 67
2.6.1.2 Xác định các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Xí Nghiệp tại thị trường
khu vực Kiên Giang 70
2.6.1.3 Lấy ý kiến chuyên gia và khách hàng về năng lực cạnh tranh của Xí
Nghiệp 70
2.6.2 Kết quả nghiên cứu. 71
2.6.2.1 Nhóm chỉ tiêu dành cho các chuyên gia bên trong: 71
2.6.2.2 Nhóm các chỉ tiêu dành cho những khách hàng, đại lý 74
Bảng 2.6: Tình hình đại lý khu vực thị trường Đông Nam 2008-2012 37
Bảng 2.7: Sản lượng tiêu thụ theo mặt hàng giai đoạn 2008-2012 39
Bảng 2.8: Kết quả kinh doanh của Xí nghiệp, giai đoạn 2009 – 2012 41
Bảng 2.9: Hệ thống kho xăng dầu của Xí Nghiệp 53
Bảng 2.10: Tình hình nhân sự của Xí nghiệp đến 12/2012 56
Bảng 2.11: Tình hình tài chính của Xí Nghiệp 2010 -2012 57
Bảng 2.12: Một số chỉ tiêu thể hiện mức độ an toàn và hiệu quả sử dụng vốn của Xí
Nghiệp, giai đoạn 2010-2012 59
Bảng 2.13 Thống kê số lượng trạm xăng bán lẻ của Xí Nghiệp và đối thủ 64
Bảng 2.14: Lượng bán lẻ của các năm gần đây 64
Bảng 2.15: Các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành
xăng dầu thiết kế để lấy ý kiến của các chuyên gia. 68
Bảng 2.16: Các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh trong ngành xăng dầu và mức độ
quan trọng của chúng 69
Bảng 2.17 Các doanh nghiệp xăng dầu chiếm lĩnh thị trường 70
Bảng 2.18: Điểm số trung bình của các chuyên gia cho yếu tố khả năng đảm bảo
nguồn hàng 71
Bảng 2.19: Điểm số trung bình của các chuyên gia cho yếu tố khả năng nắm bắt thông
tin 72
Bảng 2.20: Điểm số trung bình của các chuyên gia cho yếu tố Khả năng quản lý-điều
hành 72
viii
Bảng 2.21: Điểm số trung bình của các chuyên gia cho yếu tố sức mạnh tài chính 72
Bảng 2.22: Điểm số trung bình của các chuyên gia cho yếu tố Phân bố kho chứa hợp
lý 73
Bảng 2.23: Điểm số trung bình của các chuyên gia cho yếu tố mạng lưới bán lẻ trực thuộc 73
Bảng 2.24: Điểm số trung bình của các chuyên gia cho yếu tố trình độ và chất lượng
nguồn nhân lực 73
Bảng 2.25: Điểm số trung bình của các chuyên gia cho yếu tố khả năng đảm bảo
nguồn 74
L: Lít
PCCC: Phòng cháy chữa cháy
PCI: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Provincal Competitive Index)
OPEC: Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (Organization of Petroleum
Exporting Countries)
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
UBDN: Ủy ban nhân dân
WTO : Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization).
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài:
Trong hai thập niên gần đây, nền kinh tế Việt Nam liên tục phát triển với GDP
hàng năm đều tăng trưởng khá cao. Chủ trương của Đảng và Chính phủ Việt Nam là
chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới một cách sâu rộng nhằm phát triển kinh tế
nước nhà với mục tiêu cơ bản là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo
nền tảng vững chắc để đưa nước ta trở thành nước cơ bản công nghiệp vào 2020. Kinh
tế xã hội phát triển làm cho nhu cầu năng lượng ngày càng lớn. Theo kinh nghiệm từ
các nước phát triển và các nền kinh tế mới nổi, sự phát triển của Việt Nam đang và sẽ
phụ thuộc rất lớn vào các nguồn cung ứng năng lượng (từ nhiên liệu hóa thạch, than,
khí thiên nhiên, nước, gió, mặt trời, ). Trong đó, nhu cầu năng lượng từ xăng dầu (sản
phẩm từ nhiên liệu hóa thạch) chiếm tỷ trọng lớn nhất. Xăng dầu đã và đang trở thành
nhu cầu thiết yếu, không thể thiếu trong đời sống kinh tế - xã hội của chúng ta.
Hơn nữa, xăng dầu đã và đang trở thành hàng hóa kinh doanh có sức hấp dẫn
rất mạnh nhưng mức độ cạnh tranh cũng không kém phần gay gắt, quyết liệt. Trước
đây, duy nhất Petrolimex được phép nhập khẩu và phân phối xăng dầu trên cả nước.
Hiện nay, hàng loạt doanh nghiệp ra đời đã làm cho thị trường xăng dầu cạnh tranh
khá sôi động, từ đó mang lại cho người tiêu dùng nhiều quyền lợi hơn về giá cả, chất
Nghiệp Kinh Doanh Xăng Dầu Kiên Giang trong phân phối xăng dầu trên địa bàn
tỉnh Kiên Giang” để làm luận văn thạc sĩ ngành quản trị kinh doanh của mình tại
Trường Đại Học Nha Trang nhằm có thể áp dụng các kiến thức đã học vào công việc
thực tiễn.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một chủ đề nghiên cứu truyền thống
trong ngành quản trị kinh doanh. Một số nghiên cứu tiêu biểu trước đây như “Nâng
cao năng lực cạnh tranh của Công ty Xăng dầu Phú Khánh-Petrolimex Khanhhoa”,
Luận văn thạc sĩ của Trần Văn Lễ (2010); “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công
ty Cổ Phần Bánh Kẹo Quảng Ngãi-Biscafun”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Trọng
Minh Thái (2012);…Dù vậy, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về chủ đề này được
thực hiện ở Xí Nghiệp Kinh Doanh Xăng Dầu Kiên Giang.
2-Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là Năng lực cạnh tranh của Xí Nghiệp Kinh Doanh Xăng Dầu
Kiên Giang
- Phạm vi nghiên cứu: được thực hiện trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, số liệu dùng cho
đánh giá thực trạng thu thập cho giai đoạn 2010-2012.
3
3- Mục tiêu nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.
- Đánh giá năng lực cạnh tranh của Xí Nghiệp Kinh Doanh Xăng Dầu Kiên Giang so
với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp tại địa bàn tỉnh Kiên Giang.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Xí Nghiệp Kinh
Doanh Xăng Dầu Kiên Giang.
4- Phương pháp nghiên cứu:
4.1. Dữ liệu
- Đối với thông tin thứ cấp: thông tin và dữ liệu được trích ra từ những báo về hoạt
động kinh doanh, báo cáo quyết toán hàng năm của Xí Nghiệp, của Công ty mẹ.
- Đối với thông tin sơ cấp: Dùng phương pháp điều tra khách hàng và lấy ý kiến của
Đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Xí Nghiệp Kinh Doanh Xăng Dầu
Kiên Giang trong phân phối xăng dầu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” góp phần
hoàn thiện và hệ thống hoá các cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu.
5.2 Những đóng góp về mặt thực tiễn
Đề ra được một số giải pháp cụ thể giúp Xí Nghiệp áp dụng vào hoạt động kinh
doanh thực tế của mình để nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó có thể đứng vững và
từng bước khôi phục và mở rộng thị phần trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc
liệt tại thị trường xăng dầu tỉnh Kiên Giang.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chương 2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của Xí Nghiệp Kinh Doanh Xăng
Dầu Kiên Giang trong phân phối xăng dầu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
Chương 3. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
cho Xí Nghiệp Kinh Doanh Xăng Dầu Kiên Giang 5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP.
1.1 Lý thuyết về cạnh tranh
Cạnh tranh là sản phẩm của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh vừa là động lực cho sự
phát triển và cũng vừa là yếu tố gây ra những hệ lụy tiêu cực khác như đình đốn, phá
sản, thất nghiệp…Cho nên muốn tồn tại và phát triển thì phải thành công trong cạnh
tranh. Muốn vậy thì phải không ngừng cải thiện năng lực canh tranh. Có nhiều cấp để
đề cập đến năng lực cạnh tranh như năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm hay dịch vụ…Trong khuôn
khổ luận năn này, tác giả chỉ nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nào là thực lực bên trong doanh nghiệp
đó. Năng lực cạnh tranh là những yếu tố nội hàm của doanh nghiệp và chúng không
chỉ được thể hiện qua các nguồn lực như nhân lực, tài lực, vật lực và tổ chức quản trị
trong một doanh nghiệp mà cần phải được đánh giá, so sánh với các đối thủ thủ cạnh
tranh trực tiếp trong cùng một ngành trên cùng một thị trường. Trên cơ sở các so sánh,
đánh giá đó, doanh nghiệp sẽ thấy được lợi thế cạnh tranh của mình là những điểm
mạnh hơn đối thủ hoặc đối thủ không có. Trong cạnh tranh nhất định sẽ có “kẻ thắng,
người thua”. Tuy nhiên, để chiến thắng trên thương trường, doanh nghiệp không phải
tìm mọi cách tiêu diệt, triệt tiêu đối thủ để chiếm lấy khách hàng hay thị phần mà là
phải nhận ra được và cố gắng phát huy những lợi thế cạnh tranh của mình nhằm thỏa
mãn tốt hơn, đem lại những quyền lợi và dịch vụ tốt hơn cho khách hàng hiện có cũng
như hấp dẫn được khách hàng của đối tác cạnh tranh.
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng ác liệt như hiện nay, không ai có thể
làm thỏa mãn hết tất cả nhu cầu của khách hàng bởi vì doanh nghiệp nào cũng có
những ưu điểm và nhược điểm. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chính
là sử dụng một cách hiệu quả nhất, hợp lý nhất các nguồn lực hữu hạn của mình (nhân
lực, vật lực, tài lực, cách quản trị, điều hành) trong điều kiện thị trường thực tế để tự
mình đứng vững, tồn tại và phát triển trong tương lai.
1.1.3 Năng lực cốt lõi và Lợi thế cạnh tranh (Core competencies and Competitive
Advantages)
Năng lực cốt lõi và lợi thế cạnh tranh ngày càng trở nên các khái niệm quan
trọng trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Xác định rõ một số khái niệm:
- Khả năng (capability): có được một tập hợp nguồn lực để thực hiện một cách
Môi trường vĩ mô của doanh nghiệp là nơi doanh nghiệp phải bắt đầu tìm kiếm
những cơ hội và sự đe dọa có thể xuất hiện. Nó bao gồm tất cả các yếu tố, lực lượng có
ảnh hưởng đến hoạt động và kết quả thực hiện của doanh nghiệp (Wikipedia)
Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp biết được mình đang trực
diện với những gì. Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh doanh
nhưng không theo một cách nhất định, thường bao gồm yếu tố: (1) các yếu tố kinh tế;
8
(2) yếu tố chính phủ và chính trị; (3) yếu tố nhân khẩu; (4) yếu tố văn hóa – xã hội; (5)
yếu tố tự nhiên; và (6) yếu tố công nghệ [3].
(1) Các yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế của môi trường vĩ mô luôn luôn ảnh hưởng vô cùng lớn đến
các doanh nghiệp, như lãi suất ngân hàng, giai đoạn của chu kỳ kinh tế, tài trợ, những
xu hướng thu nhập quốc dân, tỷ lệ lạm phát, lãi suất, những sự kiểm soát lương
bổng/giá cả, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá
hối đoái, những chính sách thuế…mỗi yếu tố này có thể là một cơ hội hoặc là rủi ro
đối với doanh nghiệp [3].
Vì thế, doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi, đánh giá, phân tích môi
trường kinh tế để nhận ra những tác động của nó đối với chính doanh nghiệp mình.
Trong đó, phải chú trọng đến năm yếu tố: tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất, tỷ
giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát, thuế quan.
(2) Yếu tố chính trị và chính phủ
Ngày này, yếu tố chính trị và pháp luật đóng vai trò ngày càng lớn đối với kế hoạch và
hoạt động của các doanh nghiệp như luật, các văn bản dưới luật, văn bản pháp quy, các
công cụ chính sách của chính phủ, nhà nước v.v. Trên tinh thần, mọi người được
phép làm những gì pháp luật không cấm nên doanh nghiệp cần chú ý xu hướng tác
động của chính sách và pháp luật đối với kế hoạch cũng như chiến lược kinh doanh
của mình.
(3) Yếu tố xã hôi
Yếu tố xã hội trong môi trường vĩ mô liên quan đến dân số, cấu trúc tuổi, phân
bố địa lý, tốc độ tăng dân số nhóm tuổi (25-40 hay 50), hành vi của phụ nữ tham gia
nữ đi làm tăng lên khiến cho nhu cầu xe hơi nhỏ tại Mỹ gia tăng mà các hãng xe Mỹ
không kịp nhận ra. Mặc dù cách lý giải như trên chỉ đúng trong thời điểm nào đó
nhưng doanh nghiệp cần phải nhận định và đánh giá đúng các yếu tố thuộc mội trường
vĩ mô để có chiến lược thành công. [3]
1.2.3 Môi trường vi mô
Các yếu tố thuộc môi trường vi mô tồn tại trong ngành và là các yếu tố ngoại
cảnh đối với doanh nghiệp. Chúng quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh của
doanh nghiệp trong ngành đó. Có năm yếu tố cơ bản là đối thủ cạnh tranh, khách hàng,
nhà cung cấp, các đối thủ tiềm ẩn và sản phẩm (hàng hóa) thay thế. Mối quan hệ giữa
năm yếu tố này là sự thật mà các doanh nghiệp phải chấp nhận. Phân tích đánh giá kỹ
từng yếu tố này sẽ giúp doanh nghiệp nhận ra được những mặt mạnh và mặt yếu liên
quan đến các cơ hội cũng như nguy cơ mà ngành kinh doanh đang đương đầu.
10
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổng quát môi trường vi mô
Sơ đồ hình 1.1 Những yếu tố quyết định cạnh tranh trong ngành [9]
Đây còn gọi là Mô hình Năm Tác Lực hay Năm Lực Lượng) của Nhà kinh tế
Các đối thủ trong
ngành
11
(3) Sự đòi hỏi có nguồn tài chính lớn và chi phí chuyển đổi cao;
(4) Khả năng hạn chế trong việc xâm nhập các kênh tiêu thụ vững vàng và ưu
thế giá thành mà đối thủ không thể tạo ra được.
1.2.3.2 Đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành
Doanh nghiệp luôn phải đối diện với các đối thủ hiện tại trong ngành. Đây là
một áp lực cạnh tranh thường xuyên và đe dọa trực tiếp. Áp lực này càng lớn thì nguy
cơ tụt hạng trên thị trường càng rõ. Các doanh nghiệp cũng phải nhận ra rằng sự cạnh
tranh không ổn định, ví dụ như những ngành trưởng thành thường có tỷ lệ tăng trưởng
thấp. Doanh nghiệp phải phân tích mỗi đối thủ cạnh tranh trực tiếp để biết được càng
nhiều càng tốt những hành động và đáp ứng khả dĩ của họ. Phải xác định cho được
những mặt mạnh và mặt yếu của đối thủ, mục đích tương lai và chiến lược hiện tại của
họ là gì?
Cường độ cạnh tranh thường biến đổi theo thời gian và phụ thuộc một số nhân
tố tương tác nhau. Các nhân tố sẽ được đánh giá một cách độc lập và được tích hợp
vào một viễn cảnh tổng thể gồm [8]:
(1) Mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp
(2) Chi phí cố định hay tồn kho cao.
(3) Ngành tăng trưởng chậm
(4) Thiếu sự khác biệt hóa hoặc chi phí chuyển đổi thấp
(5) Có khả năng tăng dần công suất
(6) Sự đa dạng của các doanh nghiệp cạnh tranh
(7) Rào cản rút lui.
1.2.3.3 Các sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm sản xuất bởi các doanh nghiệp trong một
ngành khác cũng thỏa mãn nhu cầu tương tự của khách hàng. Các doanh nghiệp trong
nguồn đầu vào như nguyên-nhiên vật liệu, nhân lực, vốn tài chính…Các nhà cung ứng
có thể gây áp lực rất mạnh đối với hoạt doanh nghiệp cho nên không thể bỏ qua việc
nghiên cứu hiểu biết về họ trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Các áp lực
thường thấy là đe dọa tăng giá hoặc giảm chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung ứng, thay
đổi thời hạn các khoản vay, lãi suất cho vay, định giá thấp gí trị cổ phiếu của doanh
nghiệp đi vay. Ngoài ra còn có áp lực trong cung ứng nhân lực do tính chất đặc thù của
mối quan hệ giữa những nghiệp đoàn (cung ứng lao động) và doanh nghiệp (sử dụng
lao động).
1.3 Các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Như đã trình bày ở phần khái niệm, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được
cấu thành từ các yếu tố bên trong của doanh nghiệp bao gồm: Trình độ quản lý điều
13
hành, nguồn nhân lực, năng lực tài chính, năng lực marketing, nguồn hàng, hệ thống
phân phối, hệ thống thông tin.
1.3.1 Trình độ quản lý điều hành
Trình độ quản lý điều hành được coi là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp nói chung cũng như năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng. Nó
được thể hiện qua các khía cạnh sau:
- Kiến thức chuyên môn và kinh nghiệp của đội ngũ cán bộ quản lý: người quản
lý cần phải có kiến thức chuyên môn qua trường lớp đồng thời cần phải có càng nhiều
kinh nghiệm hoạt động thực tiễn càng tốt. Ngoài ra, họ phải thường xuyên trao dồi
phát triển thêm kiến thức qua sách báo, tích lũy kinh nghiệm về khả năng giao tiếp,
nắm vững các khía cạnh pháp lý liên quan đến lĩnh vực của mình, am hiểu về tình hình
chính trị xã hội, và có khả năng dự đoán tình hình tương lai.
- Khả năng tổ chức-quản lý bộ máy và nhân lực của doanh nghiệp: bộ máy tổ
chức và con người luôn vận động theo kế hoạch đề ra và luôn chịu sự tác động chi
phối bởi các mối quan hệ bên trong cũng các yếu tố như ngoài. Mỗi con người đều có
đặc điểm sinh học và tâm lý khác nhau, quan niệm, trình độ, kinh nghiệm khác nhau,
quyền lợi và nghĩa vụ khác nhau. Vì vậy, công tác quản trị đòi hỏi phải luôn luôn cải
tiến cơ cấu tổ chức bộ máy và nhân sự của doanh nghiệp, phân định rõ ràng chức năng,
chức tín dụng, qua quy mô vốn tự có, khả năng huy động, sử dụng và quản lý vốn có
hiệu quả trong doanh nghiệp v.v. Trước hết, năng lực tài chính gắn với tiền vốn, là
một yếu tố đầu vào rất quan trọng của doanh nghiệp. Do đó, nếu sử dụng tiền vốn có
hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí tiền vay rất lớn, từ đó làm giảm chi phí
chung, giảm giá thành sản phẩm tăng sức cạnh tranh.
Như vậy, năng lực tài chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp. Vì
vậy, để nâng cao năng lực tài chính, doanh nghiệp phải quay tiền vốn thật nhanh, sử
dụng đúng mục đích, đúng quy định, kiểm soát chặt chẽ, tránh thất thoát, tích lũy và
tăng vốn tự có, giữ mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức tín dụng để huy động tiền kịp
thời cho mọi hoạt động của doanh nghiệp.
1.3.4 Nguồn hàng và tồn trữ
Xăng dầu hiện nay chỉ được sản xuất nội địa khoảng 30% từ Nhà máy lọc dầu
Dung Quất (Quảng Ngãi), phần còn lại đều phải nhập khẩu bởi các công ty có đủ điều
kiện về cơ sở vật chất theo quy định tại Nghị định 84 của chính phủ. Nguồn hàng hiện
nay là yếu tố quan trọng hàng đầu, đặc biệt là khi thị trường xăng dầu thế giới biến
động mạnh, giá tăng cao liên tục. Do đó công tác tạo nguồn đòi hỏi phải có kế hoạch
tốt: thời gian, số lượng, chất lượng, nguồn gốc, giá cả, chủng loại, điều kiện thanh
toán, phương thức vận tải, hệ thống kho bãi, trang thiết bị, an toàn PCCC, bảo vệ môi
trường, kiểm tra theo dõi tồn kho…
15
Quản lý nguồn hàng với tư cách là tổ chức quản lý sử dụng các yếu tố đầu vào
và cung ứng đầu ra nên mục tiêu chủ yếu là thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng
Mục tiêu này được thể hiện qua các mặt cụ thể sau:
(1) Bảo đảm chất lượng hàng hóa và dịch vụ tốt nhất cho khách hàng;
(2) Chi phí bỏ ra là thấp nhất để tăng sức cạnh tranh;
(3) Rút ngắn thời gian tồn kho;
(4) Xây dựng hệ thống kho bãi tồn chứa hợp lý để bảo đảm chất lượng, số
lượng, chủng loại, rút ngắn khoảng cách, thời gian nhận và giao hàng hóa.
1.3.5 Năng lực Marketing và dịch vụ bán hàng
Năng lực Marketing của doanh nghiệp là khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường,