Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời và đi vào hoạt động từ năm 2000.
Trải qua hơn 7 năm đi vào hoạt động, với bao thăng trầm thử thách, thị trường
chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Quy mô thị trường
ngày một mở rộng thể hiện ở sự gia tăng số lượng các công ty niêm yết, tỷ lệ vốn
hoá thị trường, sự gia tăng số tài khoản của các nhà đầu tư. Cùng với sự phát
triển của thị trường, số lượng CTCK ra đời cũng ngày một nhiều hơn. Cho đến
nay đã có khoảng gần 70 CTCK được cấp phép thành lập và đi vào hoạt động.
Sự cạnh tranh giữa các CTCK đang ngày càng trở nên quyết liệt hơn đặc biệt
trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế hiện
nay. Chính vì vậy, để tồn tại và phát triển thì các CTCK không còn cách nào
khác là phải tự mình nâng cao năng lực cạnh tranh bằng việc đa dạng hoá, nâng
cao chất lượng sản phẩm dịch vụ phục vu khách hàng.
CTCK Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội (HBBS) ra đời và đi vào
hoạt động từ tháng 4 năm 2006. Qua quá trình thực tập tại HBBS em nhận thấy,
sau 2 năm đi vào hoạt động, công ty cũng đã đạt được một số thành tựu nhất
định, tuy nhiên so với các CTCK khác, năng lực cạnh tranh của công ty vẫn còn
nhiều hạn chế, vì vậy em chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công
ty chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1
Chuyên đề được hoàn thiện với ba mục tiêu như sau:
Thứ nhất, hệ thống các vấn đề lý thuyết về công ty chứng khoán và năng
lực cạnh tranh của công ty chứng khoán
Thứ hai, phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của CTCK HBBS, qua
đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ ảnh hưởng tới năng lực
cạnh tranh của công ty.
Thứ ba, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công
ty chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần nhà Hà Nội
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

yếu là các CTCK.
Theo giáo trình Thị trường chứng khoán do PGS.TS Nguyễn Văn
Nam và PGS.TS Vương Trọng Nghĩa chủ biên của trường Đại học Kinh tế
quốc dân “Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện
các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán”
Theo Luật Chứng Khoán 2006, CTCK được tổ chức dưới hình thức
công ty TNHH hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp
Như vậy có thể hiểu CTCK là một tổ chức kinh doanh chứng khoán có
tư cách pháp nhân, có vốn riêng và thực hiện các nghiệp vụ trên TTCK
1.1.1.2. Đặc điểm
Là một chủ thể kinh doanh, CTCK cũng có những đặc điểm tương
đồng với tổ chức và hoạt động của các công ty khác nói chung. Nhưng đồng
4
thời, do hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán nên cũng có những đặc điểm
khác biệt hơn so với các loại hình kinh doanh khác.
- Phần lớn tài sản là tài sản tài chính
Tài sản của các CTCK phần lớn đều là tài sản tài chính. Ngoài một
phần rất nhỏ để đầu tư vào cơ sở vật chất, phần lớn tài sản còn lại của CTCK
là chứng khoán. Những chứng khoán này hình thành chủ yếu từ hoạt động tự
doanh và bảo lãnh phát hành. Nét đặc trưng của các loại tài sản tài chính này
là giá trị của chúng thường xuyên biếtn động trên thị trường. Sự biến động
này tất yếu tạo ra những rủi ro tiềm tàng trong hoạt động của các CTCK. Để
giảm thiểu rủi ro này, các chứng khoán trong tài sản của CTCK phải có tính
thanh khoản rất cao.
- Sản phẩm dễ bị bắt chước
Sản phẩm của các CTCK là các sản phẩm dịch vụ tài chính. Đặc điểm
của loại hình sản phẩm đặc biệt này là không có hình thái vật chất, mức độ
kết tinh chất xám cao, rất khó tạo ra sản phẩm mới song lại dễ dàng bị bắt
chước. Vì vậy để tồn tại và phát triển, các CTCK phải không ngừng cải tiến
dịch vụ, liên tục tạo ra các sản phẩm mới cũng như học hỏi đối thủ cạnh tranh

ty chứng khoán tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi
đến người cần sử dụng nguồn vốn đó một cách nhanh chóng và hiệu quả.
- Cung cấp cơ chế giá cả cho chứng khoán: TTCK là nơi gặp gỡ giữa
những người cần vốn và người có vốn nhàn rỗi để đầu tư vào chứng khoán.
Hai chủ thể này gặp nhâu trên TTCK thông qua hệ thống khớp lệnh hoặc
khớp giá để xác định giá giao dịch. Các CTCK đã giúp người bán gặp được
người mua một cách nhanh chón và hiệu quả, tiết kiệm được thời gian cũng
như chi phí cho cả 2 bên
6
- Cung cấp cơ chế chuyển ra tiền mặt cho nhà đầu tư, tạo ra tính thanh
khoản cho các chứng khoán
- Các CTCK thông qua hoạt động tự doanh hoặc vai trò của nhà tạo lập
thị trờng (market maker) gớp phần điều tiết và bình ổn thị trường.
1.1.2.2. Vai trò của công ty chứng khoán
- Đối với các tổ chức phát hành
Mục tiêu khi tham gia vào TTCK của các tổ chức phát hành là huy
động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Một trong những
nguyên tắc hoạt động của TTCK là nguyên tắc trung gian. Nguyên tắc này
yêu cầu nhà đầu tư và nhà phát hành không được mua bán trực tiếp chứng
khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán. Các CTCK sẽ thực hiện vai
trò trung gian cho cả nhà phát hành và nhà đầu tư thông qua hoạt động bảo
lãnh phát hành, và như vậy CTCK đã tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các
nhà phát hành
Bên cạnh đó, các CTCK cung cấp cho doanh nghiệp các giải pháp tổng
hợp về tài chính công ty, cơ cấu lại doanh nghiệp, lập và đánh giá dự án, quản
lý tài sản và định hướng đầu tư.
- Đối với các nhà đầu tư
Đối với hàng hoá thông thường, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng
chi phí cho người mua và người bán nhứng đối với TTCK, sự biến động
thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho

cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua bán trên thị trường, thông tin về
các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin về các nhà đầu tư…
8
Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và
chống các hiện tượng thao túng và lũng đoạn thị trường.
1.1.3. Các hoạt động nghiệp vụ của công ty chứng khoán
1.1.3.1 Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong
đó một CTCK đại diên cho khách hàng tiến hành gío dịch thông qua cơ chế
giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách
hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
Hoạt động môi giới là một trong những hoạt động quan trọng nhất của
công ty chứng khoán. Với chức năng trung gian kết nối người bán và người
mua, cung cấp những thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư, hoạt động môi
giới đã mang lại khoản phí không nhỏ cho CTCK. Tuy nhiên nhân viên môi
giới không được xúi dục mua, bán chứng khoán để hưởng hoa hồng mà phải
đưa ra những lời khuyên chân thành hạn chế rủi ro thấp nhất cho khách hàng.
Vì vậy nghề moi giới đòi hỏi những phẩm chất đạo đức và mẫn cán trong
công việc. Ngoài ra, nhân viên môi giới là người tiếp xúc với khách hàng
nhiều nhất và là bộ mặt của công ty. Khách hàng lựa chọn CTCK để tham gia
thị trường một phần là do hoạt động môi giới tại công ty đó như thế nào.
Chính vì vậy một nhà môi giới chuyên nghiệp cần có những yếu tố và kỹ
năng như: kỹ năng truyền đạt thông tin, kỹ nang tìm kiếm khách hàng, kỹ
năng khai thác thông tin. Các kỹ năng này giúp người môi giới định vị được
khách hàng và truyền đạt được những thông tin cần thiết tới khách hàng.
1.1.3.2. Hoạt động tự doanh chứng khoán
Tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua
bán các chứng khoán cho chính mình
9
Hoạt động tư doanh của CTCK có thể được thực hiện trên các thị

- Tách biệt quản lý: công ty chứng khoán phải tách biệt giữa hoạt động
môi giới và hoạt động tự doanh nhằm tránh các xung đột lợi ích giữa công ty
và khách hàng. sự tách biệt này bao gồm cả về yếu tố con người, quy trình
nghiệp vụ, vốn và tài sản của khách hàng, của công ty.
- Ưu tiên khách hàng: nghĩa là lệnh giao dịch của khách hàng phải
được xử lý trước lệnh tư doanh của công ty. Nguyên tắc này đảm bảo sự công
bằng cho khách hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán. Do CTCK có
tính đặc thủ về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trường nên
các CTCK có thể sẽ dự đoán trước diễn biến của thị trường và sẽ mua bán
tranh của khách hàng nếu không có nguyên tắc trên.
- Bình ổn thị trường: do tính đặc thù của TTCK, đặc biệt là các TTCK
mới nổi, bao gồm chủ yếu là các nhf đầu tư cá nhân, nhỏ lẻ thì tính chuyên
nghiệp tronghoạt đồng đầu tư không cao. Điều này rất dễ dẫn đến những biến
động bất thường trên thị trương. Bên cạnh hoạt động cảu các quỹ đầu tư
chứng khoán, các CTCK với khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn của
mình có thể thông qua hoạt động tự doanh góp phần rất lớn trong việc điều
tiết cung cầu, bình ổn giá cả của các loại chứng khoán trên thị trương. Thông
thường, chức năng bình ổn giá cả khôn phải là một quy định bắt buộc trong
hệh thống pháp luật của các nước, tuy nhiên đây thương là nguyên tắc nghề
nghiệp do các hiệp hội chứng khoán đặt ra trên thị trường và các CTCK phải
tuân thủ theo trong quá trình hoạt động
11
Bên cạnh đó, các CTCK còn phải tuân thủ một số quy định khác như các
giới hạn về đầu tư, lĩnh vực đầu tư v.v. nhằm đảm bảo một độ an toàn nhất
định cho các CTCK trong quá trình hoạt động, tránh những sự đổ vỡ gây thiệt
hại chung cho cả thị trường.
1.1.3.3. Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng bảo lãnh giúp cho tổ
chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức
việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn

Ký hợp đồng bảo lãnh
Nộp HS xin phép p/hành
Thăm dò thị trường
Giấy phép phát hành Chứng
Công bố việc phát hành
Phân phát bản cáo bạch
Phân phát phiếu đăng kí mua chứng khoán
Nhận tiền đặt cọc
Phân phối cổ phiếu trên cơ sở
Lưu ký chứng khoánBình ổn thị trường Thanh toán
Công Ty Chứng
Khoán
13
1.1.3.4. Hoạt động tư vấn đầu tư
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc CTCK thông qua hoạt động phân
tích để đưa ra các lời khuyên, phânt ích các tình huống và có thể thực hiện
một số công biệc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài
chính cho khách hàng. Đây là hoạt động khó và phức tạp đòi hỏi CTCK phải
có kỹ năng và am hiểu thị trường cũng như trách nhiệm, tính trung thực cao
đối với những dịch vụ mà mình cung cấp cho khách hàng
Để hiểu rõ về hoạt động tư vấn chứng khoán, chung ta có thể phân loại
hoạt động này theo một số tiêu chí sau:
* Theo hình thức của hoạt động tư vấn: có thể gồm
- Tư vấn trực tiếp: khách hàng có thể gặp trực tiếp nhà tư vấn hoặc sử
dụng các phương tiện liên lạc như điện thoại, fax… để hỏi ý kiến
- Tư vấn gián tiếp: là cách người tư vấn xuất bản các ấn phẩm hay đưa
thông tin lên các phương tiện truyền thông như Internet để khách hàng nào
cũng có thể tiếp cận được nếu muốn
* Theo mức độ uỷ quyền của hoạt động tư vấn
- Tư vấn gợi ý: Ở mức độ này, ngườì tư vấn chỉ có quyền nêu ý kiến

hàng vay chứng khoán để thực hiện giao dịch bán khống (short sale) hoặc cho
khách hàng vay tiền để khách hàng thực hiện mua ký quỹ. Ở Việt Nam hiện
nay, các CTCK không được thực hiện hoạt động tín dụng, do đó, các CTCK
không được trực tiếp thực hiện dịch vụ này. Vì vậy, CTCK đứng ra làm trung
gian giúp khách hàng tiếp cận và vay vốn của ngân hang, đồng thời CTCK
giup ngân hàng phong toả các chứng khoán làm tài sản thế chấp cho các
khoản vay.
15
1.1.4. Mô hình, tổ chức của công ty chứng khoán
1.1.4.1 Mô hình của công ty chứng khoán
Là một định chế tài chính đặc biệt, hoạt động của các CTCK rất đa
dạng và phức tạp nên việc xác định mô hình kinh doanh của nó cũng có
những điểm không giốn nhau giữa các nước. Mô hình kinh doanh của các
CTCK tại mỗi quốc gia phải phụ thuộc vào đặc điểm của hệ thống tài chính
và sự cân nhắc lợi hại của những người làm công tác quản lý nhà nước. Tuy
nhiên, có thể khái quát thành 2 mô hình cơ bản
a. Mô hình đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ
Theo mô hình này, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức
một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh
doanh tiền tệ, bảo hiểm. Mô hình này chia làm hai loại
- Mô hình đa năng một phần: các ngân hàng muốn kinh doanh chứng
khoán phải lập công ty con, hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với hoạt
động kinh doanh tiền tệ. CTCK chỉ hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và
các lĩnh vực khác theo quy định, nó khôn hoạt đong trong lĩnh vực kinh
doanh tiền tệ như ngân hàng mẹ.
- Mô hình đa năng hoàn toàn: các ngân hàng được trực tiếp kinh doanh
chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ.
Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực
kinh doanh, giảm bớt rủi ro kinh doanh nhờ đa dạng hoá lĩnh vực đầu tư. Khả
năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động của thị trường tài chính

vốn.
Cơ cấu tổ chức của CTCK phụ thuộc vào loại hình ngiệp vụ chứng
khoán mà công ty thực hiện cũng như quy mô hoạt động kinh doanh chứng
17
khoán của công ty đó. Tuye nhiên, chúng đều có đặc điểm chung là hệ thống
các phòng ban chức năng được chia làm 2 khối khác nhau là khối nghiệp vụ
(front office) và khối phụ trợ (back office)
- Khối nghiệp vụ: là khối thực hiện các giao dịch mua bán kinh doanh
chứng khoán, nói chung là có liên hệ với khách hàng. Khối này đem lại thu
nhập cho công ty bằng cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tạo ra các sản
phẩm phù hợp với nhu cầu đó. Tương ứng với từng nghiệp vụ cụ thể, công ty
có thể tổ chức thành từng bộ phận phòng ban nhất định. Vì vậy khối này có
thể gồm các phòng sau
+ Phòng môi giới
+ Phòng tự doanh
+ Phòng bảo lãnh phát hành
+ Phòng tư vấn tài chính và đầu tư
+ Phòng ký quỹ
- Khối phụ trợ: là khối không trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ khinh
doanh nhưng nó không thể thiếu được trong vận hành của CTCK vì hoạt động
của nó mang tính chất trợ giúp cho khối nghiệp vụ. Khối này bao gồm
+ Phòng nghiên cứu, phát triển
+ Phòng phân tích và thông tin thị trường
+ Phòng công nghệ tin học
+ Phòng kế toán, thanh toán và kiểm soát nội bộ
+ Phòng kế hoạch công ty
+ Phòng phát triển sản phẩm mới
+ Phòng ngân quỹ, ký quỹ
+ Phòng pháp chế
+ Phòng hành chính tổng hợp

việc nâng cao năng lực cạnh tranh là yếu tố sống còn đối với các CTCK.
Năng lực cạnh tranh của CTCK là thể hiện thực lực và lợi thế của công
ty so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của
khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Để đánh giá năng lực cạnh tranh
của một CTCK cần phải xác định các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ
những lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả
định tính và định lượng.
1.2.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty
chứng khoán
1.2.2.1. Các chỉ tiêu định tính
Khi xem xét, đánh giá năng lực cạnh tranh của mọi doanh nghiệp nói
chung và công ty chứng khoán nói riêng, các chỉ tiêu định tính đóng một vai
trò rất quan trọng. Đặc biệt, những ngành kinh doanh đòi hỏi hàm lượng chất
xám cao như các CTCK thì chỉ tiêu này lại càng quan trọng. Những chỉ tiêu
định tính bao gồm
a. Nguồn nhân lực
Một đội ngũ cán bộ nhân viên có năng lực, có chuyên môn giỏi sẽ là tài
sản vô hình nói lên tiềm năng sức mạnh của CTCK đó, nói lên năng lực cạnh
tranh của CTCK đó. Nó được đánh giá thông qua trình độ học vấn, kinh
nghiệm trong kinh doanh của các cán bộ khinh doanh và cán bộ lãnh đạo của
CTCK.
b. Mức độ chuyên nghiệp
Chỉ tiêu này nhằm đánh giá sự bài bản trong hoạt động kinh doanh của
các CTCK. Khi đánh giá chỉ tiêu này cần xét tới các yếu tố như CTCK đã xây
dựng được chiến lược kinh doanh chưa, chiến lược đó có rõ ràng và khả thi
20
không; bộ máy hoạt động kinh doanh được tổ chức như thế nào, các aquy
trình cho từng nghiệp vụ cụ thể có được xây dựng đầy đủ không
c. Mức độ đa dạng hoá trong sản phẩm dịch vụ
Đa dạng ở đây được hiểu là sự phát triển đầy đủ các sản phẩm dịch vụ

năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ mà CTCK cung cấp cho khách
hàng để từ đó gia tăng lợi nhuận sau thuế cho doanh nghiệp. Chỉ có những
CTCK có năng lực cạnh tranh cao thì mới có ROA, ROE cao
Ngoài ra còn các chỉ tiêu khác cũng phản ánh khả năng sinh lợi như:
doanh thu từ lãi/tài sản, doanh thu ngoài lãi/tài sản
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán: Chỉ khi có khả năng
thanh toán tốt thì CTCK mơi có khả năng nâng cao uy tín của mình, tạo được
lòng tin ở khách hàng cũng như đối tác của mình trong giao dịch kinh doanh.
Từ đó có thể thấy chứng mình được năng lực tài chính của công ty lúc nào
cũng được đảm bảo, công ty luôn có đủ khả năng để cạnh tranh trên thị
trường và thanh toán cho khách hàng đầy đủ, kịp thời. Nhóm chỉ tiêu này gồm
Khả năng thanh toán hiện hành = tài sản lưu động/ nợ ngắn hạn
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành nói lên khả năng thanh toán ngắn
hạn của doanh nghiệp. Nếu tỉ số này lớn thì khả năng thanh toán nợ cao và
ngược lại
Vì nợ ngắn hạn được thanh toán bới tài sản lưu động mà tài sản lưu động lại
gồm những khoản khó chuyển ra tiền như hàng tồn kho nên chỉ tiêu khả năng
thanh toán hiện hành chưa phản ánh hết được khả năng thanh toán của doanh
nghiệp. Vì vậy, một cách chính xác hơn, chúng ta dùng chỉ tiêu khả năng
thanh toán nhanh.
22
Khả năng thanh toán nhanh = (Tài sản lưu động – Hàng tồn kho)/Nợ
ngắn hạn
+ Nhóm chỉ tiêu về khả năng cân đối vốn
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh sự tự chủ và ổn định tài chính của công ty
chứng khoán. Thông qua chỉ tiêu nay chúng ta biêt được tình hình cơ cấu nguồn
vốn của công ty như thế nào từ đó xem xét chính sách vay nợ của công ty. Nếu
công ty có cơ cấu và sử dụng hợp lý các nguồn vay nợ sẽ tạo ra cho công ty
những lợi thế cạnh tranh cho công ty: khi công ty muốn vay thêm nợ các chủ nợ
nhìn vào cơ cấu nguồn vốn của công ty họ sẽ thể hiện mức độ tin tưởng vào sự

nhưng vẫn có ảnh hưởng nhất định tới nhau nên cơ cấu tổ chức của CTCK
phải đáp ứng được yêu cầu cơ bản là chuyên môn hoá ở mức độ cao, mỗi bộ
phận chỉ chuyên trách thực hiện một hoạt động cụ thể và phải làm sao cho các
bộ phận chuyên môn phối hợp nhịp nhàng với nhau. Nếu không được sắp xếp
hợp lý bởi một chiến lược rõ ràng và một định hướng ưu tiên có cơ sở, mọi
hoạt động của CTCK có thể trở nên hỗn loạn trước những biến động bất ngờ
của thị trường.
c. Đội ngũ nhân viên
Nguồn nhân lực là nguồn lực không thể thiếu của bất kỳ quốc gia nào,
đặc biệt trong lĩnh vức chứng khoán, nơi mà công việc đòi hỏi phải có hàm
lượng chất xám cao, có tinh thần trách nhiệm cao, khả năng truyền đạt phân
tích thông tin nhanh chóng thì điều đó càng quan trọng. Một đội ngũ nhân
viên có năng lực, chuyên môn giỏi sẽ làm gia tăng sự tin tưởng của khách
hàng vào công ty để từ đó sẽ tin tưởng gửi gắm nới công ty những quyết định
sáng suốt và hiệu quả, tức là gia tăng năng lực cạnh tranh của công ty
d. Tiềm lực tài chính:
Khả năng tài chính luôn là yếu tố hàng đầu trong mọi hoạt động của
CTCK đặc biệt là với hoạt động tự doanh và bảo lãnh phát hành đòi hỏi công
24
ty phải có một lượng vốn rất lớn.theo Luật Chứng khoán2007. Với quy mô
nguồn vốn lớn, sẽ cho phép công ty triển khai được nhiều dịch vụ để phục vụ
khách hàng. Nguồn vốn nhỏ sẽ làm giảm sút khả năng cạnh tranh của công ty
so với các công ty khác. Bên cạnh quy mô nguồn vốn tự có thì tình hình tài
chính của công ty có vai trò rất quan trọng. Tình hình tài chính mạnh thì công
ty mới có khả năng mở rộng kinh doanh, đa dạng hoá sản phẩm, ngược lại thì
khả năng mở rộng tìm kiếm khách hàng sẽ giảm sút, không thực hiện được
các chiến lược đã để ra dẫn đến làm giảm sút niềm tin và uy tín của công ty,
ảnh hưởng tới tình hình kinh doanh và khả năng cạnh tranh của công ty
Mặt khác, trong trường hợp tạo lập thị trường, CTCK cũng cần nắm
giữ một số lượng chứng khoán đủ lớn cũng như lượng tiền mặt dồi dào để sẵn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status