LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc hình thành và phát triển Thị trường chứng khoán (TTCK) là một
bước phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường. Việt Nam với nền kinh tế
vận hành theo cơ chế Thị trường cũng đòi hỏi phải có TTCK để làm cầu nối
giữa một bên là các nhà đầu tư (bao gồm các tổ chức kinh tế - xã hội và dân
chúng) với bên kia là các doanh nghiệp cần vốn kinh doanh và Nhà nước cần
tiền để thỏa mãn các nhu cầu chung của đất nước. Đến nay, TTCK Việt Nam
đã trải qua hơn 7 năm đầu tiên trong lịch sử phát triển của mình. Bẩy năm qua
là bảy năm làm quen với hoạt động của TTCK, bảy năm vượt qua bao khó
khăn thăng trầm để từng bước phát triển thị trường. Bước đầu công chúng đầu
tư đã làm quen với phương thức đầu tư trên TTCK, các doanh nghiệp đã làm
quen với phương thức huy động vốn thông qua TTCK.
Nhưng để các hoạt động trên thị trường chứng khoán có thể diễn ra
suôn sẻ thì mọi hoạt động mua bán diễn ra trên TTCK tập trung đều phải
thông qua tổ chức tài chính trung gian đó là các Công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán (CTCK) là một tổ chức tài chính trung gian nhằm
thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán như cung cấp các dịch
vụ môi giới, tư vấn, bảo lãnh... cho các nhà đầu tư và các tổ chức.Bên cạnh
đó, công ty cũng thực hiện kinh doanh chứng khoán cho chính mình thông
qua hoạt động tự doanh. Hàng năm, hoạt động tự doanh chứng khoán đã
mang lại cho công ty những khoản lợi nhuận lớn song nó cũng tiềm ẩn những
rủi ro như các hoạt động kinh doanh khác. Nhận thức được tầm quan trọng
của hoạt động này nên em đã chọn đề tài:
“Phát triển hoạt động tự doanh tại công ty chứng khoán ngân hàng
thương mại cổ phần Nhà Hà Nội”.
1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài này em chỉ nghiên cứu hoạt động tự doanh tại công ty chứng
khoán Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Nhà Hà Nội có trụ sở tại
2C Vạn Phúc, Ba Đình, Hà Nội.
• Mô hình công ty chứng khoán đa năng :
Theo mô hình này, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức
một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ tài chính. Theo đó, các ngân hàng thương mại hoạt
động với tư các là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh
tiền tệ. Mô hình công ty chứng khoán này được thể hiện dưới hai hình thức:
3
Công ty chứng khoán đa năng một phần: Theo mô hình này, các
ngân hàng thương mại muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty
con hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với kinh doanh tiền tệ.
Công ty đa năng toàn phần: Các ngân hàng trực tiếp kinh doanh
chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch
vụ khác.
Mô hình này có ưu điểm là ngân hàng có thể đa dạng hoá, kết hợp
nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro do hoạt động kinh doanh
chung, khả năng chịu đựng các biến biến động của TTCK là cao. Mặt khác,
các ngân hàng tận dụng được thế mạnh về vốn để kinh doanh chứng khoán,
khách hàng có thể sử dụng được nhiều dịch vụ đa dạng và lâu năm của ngân
hàng.
Tuy nhiên, mô hình này cũng bộc lộ một số hạn chế như không phát
triển được thị trường cổ phiếu do các ngân hàng có xu hướng bảo thủ, thích
hoạt động tín dụng truyền thống hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái
phiếu. Mặt khác, theo mô hình này, các ngân hàng cũng rất dễ gây lũng đoạn
thị trường, và nếu có biến động trên TTCK sẽ ảnh hưởng mạnh đến hoạt động
kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, dễ dẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính
do không tách bạch giữa hai loại hình kinh doanh.
Do những hạn chế trên mà trước đây Mỹ và nhiều nước khác đã áp
dụng mô hình này, nhưng sau cuộc khủng hoảng năm 1933, đa số các nước đã
chuyển sang mô hình chuyên doanh chứng khoán, chỉ có Đức vẫn duy trì đến
ngày nay.
• Công ty kinh doanh trái phiế u là CTCK chuyên mua bán các loại trái
phiếu.
• CTCK không tập trung là các CTCK hoạt động chủ yếu trên thị
trường OTC và họ đóng vai trò là các nhà tạo lập thị trường.
5
1.1.3. Vai trò của công ty chứng khoán
Vai trò của CTCK được thể hiện qua các hoạt động của CTCK. Thông
qua các hoạt động này, CTCK đã thực sự tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự
phát triển của TTCK nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. CTCK đã trở
thành tác nhân quan trọng không thể thiếu trong quá trình phát triển của
TTCK.
• Đối với các tổ chức phát hành
Trên lý thuyết khi doanh nghiệp cần huy động vốn thông qua thị trường
chứng khoán thì họ có thể tự chào bán chứng khoán của mình đến các nhà đầu
tư. Tuy nhiên, trên thực tế, các tổ chức phát hành không thể làm tốt điều này
do họ không có một bộ máy chuyên nghiệp trong lĩnh vực này để thực hiện.
Do đó, họ cần một tổ chức chuyên nghiệp đứng ra để mua bán chứng khoán
cho họ. Mặt khác, một trong những nguyên tắc hoạt động cơ bản của TTCK
đó là nguyên tắc trung gian. Theo nguyên tắc này, các nhà phát hành và nhà
đầu tư không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các
trung gian mua bán. Vì vậy, các CTCK với cơ cấu tổ chức phù hợp, trình độ
chuyên môn, thành thạo nghiệp vụ sẽ thực hiện vai trò trung gian cho nhà đầu
tư và các chủ thể phát hành. Thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh
phát hành, các CTCK có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các tổ
chức phát hành.
• Đối với các nhà đầu tư
Trên TTCK, giá cả chứng khoán thường xuyên biến động cũng như
mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và
thời gian để tìm hiểu thông tin trước khi đưa ra các quyết định đầu tư.
CTCK lại có những đặc thù riêng. Do họ có trình độ chuyên môn cao
thực hiện tốt vai trò đó vì CTCK tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường.
Trên thị trường sơ cấp, do thực hiện các hoạt động bảo lãnh phát hành,
chứng khoán hoá, các CTCK không những huy động được một lượng vốn lớn
7
đưa vào sản xuất kinh doanh cho các tổ chức phát hành mà còn làm tăng tính
thanh khoản của các tài sản tài chính được đầu tư vì chứng khoán qua đợt
phát hành sẽ được mua bán trên thị trường thứ cấp. Điều này làm giảm tính
rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư chứng khoán.
Trên thị trường thứ cấp, do thực hiện các giao dịch mua bán, các CTCK
giúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại một
cách thuận tiện, nhanh chóng, ít tốn kém và ít thiệt hại nhất. Chính những
hoạt động này đã làm tăng tính thanh khoản của những tài sản tài chính.
• Đối với các cơ quan quản lý thị trường
Các CTCK có vai trò cung cấp thông tin về thị trường chứng khoán cho
các cơ quan quản lý thị trường. Thật vậy, các CTCK là thành viên hoạt động
thường xuyên, liên tục trên TTCK theo nguyên tắc trung gian và công khai.
Với ưu thế nắm rõ tính hình của các tổ chức phát hành cũng như các nhà đầu
tư thông qua hoạt động bảo lãnh phát hành, trung gian mua bán, CTCK là nơi
cung cấp các thông tin về các loại chứng khoán, các giao dịch, về tổ chức phát
hành, nhà đầu tư và các biến động của thị trường một cách cập nhật, chính
xác và tổng hợp nhất. Dựa vào nguồn thông tin này, cơ quan quản lý thị
trường có thể theo dõi, giám sát toàn cảnh hoạt động của TTCK để từ đó đưa
ra các quyết định, chính sách phù hợp, đúng đắn, kịp thời, đảm bảo cho hoạt
động của TTCK diễn ra một cách trật tự, an toàn và hiệu quả.
Như vậy, thông qua trung gian là các CTCK, các cơ quan quản lý nâng
cao được nâng cao năng lực quản lý để duy trì sự hoạt động lành mạnh của
một thị trường tự do nhất trong tất cả các thị trường.
1.1.4. Những hoạt động của công ty chứng khoán
1.1.4.1. Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động kinh doanh của CTCK trong đó
Tự doanh là hoạt động mà trong đó CTCK thực hiện mua và bán chứng
khoán cho chính mình. Chứng khoán ở đây có thể là chứng khoán niêm yết
hoặc chưa niêm yết. Ngoài ra, CTCK có thể tự doanh chứng khoán lô lẻ của
9
khách hàng, sau đó tập hợp lại thành lô chẵn để giao dịch trên thị trường
chứng khoán. Mục đích của CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh là nhằm
thu lợi hoặc đôi khi nhằm mục đích can thiệp điều tiết giá trên thị trường.
Theo khoản 1 điều 34 quy chế tổ chức và hoạt động CTCK số 27/2007/
NĐ-CP ngày 24/4/2007 quy định về hoạt động tự doanh của công ty chứng
khoán như sau: CTCK phải đảm bảo có đủ tiền và chứng khoán để thanh toán
các lệnh giao dịch của mình.
Hoạt động tự doanh hiện nay được xem là một trong những hoạt động
quan trọng nhất của CTCK tại Việt Nam trong việc nâng cao lợi nhuận. Tuy
nhiên, do hoạt động tự doanh và môi giới dễ nảy sinh xung đột lợi ích nên các
nước thường quy định các CTCK phải tổ chức thực hiện hai hoạt động ở hai
bộ phận riêng biệt nếu CTCK đó được thực hiện cả hai hoạt động và CTCK
phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của mình.
1.1.4.3. Hoạt động bảo lãnh và phát hành chứng khoán
Theo điều 6 Luật chứng khoán quy định “Bảo lãnh phát hành chứng
khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực
hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay
toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng
khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ
chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng”.
Theo nguyên tắc trung gian, trên TTCK yêu cầu các nhà đầu tư không
được mua chứng khoán trực tiếp từ các nhà phát hành mà mua chứng khoán
thông qua các nhà bảo lãnh. Điều này lý giải tại sao các tổ chức khi muốn
phát hành chứng khoán phải thông qua các tổ chức bảo lãnh phát hành như
ngân hàng đầu tư hoặc CTCK. Tổ chức bảo lãnh phát hành được hưởng phí
hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất định trên số tiền thu được từ đợt phát hành.
+ Không được có hành vi cung cấp thông tin sai sự thật để dụ dỗ hay
mời gọi khách hàng mua bán một loại chứng khoán nào đó
11
+ Bảo mật các thông tin nhận được từ người sử dụng dịch vụ tư vấn trừ
trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác
+ Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động tư vấn và bồi thường
thiệt hại cho người sử dụng đối với dịch vụ tư vấn khi vi phạm cam kết trong
hợp đồng tư vấn
Tuy nhiên, các nhà tư vấn thường đánh giá tình huống theo kiến thức,
kinh nghiệm và tư duy chủ quan của họ, do vậy việc đánh giá tình huống của
mỗi nhà tư vấn là khác nhau. Tính khách quan và chính xác của các bản phân
tích sẽ mang lại uy tín cho nhà tư vấn
1.1.4.5. Các hoạt động phụ trợ
Nhìn chung, các hoạt động hỗ trợ giao dịch nhằm mục đích tạo thuận
lợi cho các nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư không bỏ lỡ các cơ hội đầu tư, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn. Các hoạt động phụ trợ của CTCK bao gồm:
+ Hoạt động lưu ký chứng khoán:
Lưu ký chứng khoán là hoạt động nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao
chứng khoán cho khách hàng của Trung tâm lưu ký chứng khoán và giúp
khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoán.
Theo quy định chứng khoán của công ty đại chúng và các loại chứng
khoán khác niêm yết trên Sở giao dịch, Trung tâm giao dịch chứng khoán
phải được lưu ký tập trung tại Trung tâm lưu ký chứng khoán trước khi giao
dịch.
Việc lưu ký chứng khoán được thực hiện tại các thành viên lưu ký của
Trung tâm giao dịch chứng khoán. Các thành viên lưu ký bao gồm các công
ty chứng khoán và các ngân hàng thương mại đã được Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước cấp giấy phép hoạt động lưu ký và đã đăng ký làm thành viên lưu
ký của Trung tâm giao dịch chứng khoán. Khi thực hiện hoạt động lưu ký
chứng khoán, CTCK sẽ thu phí liên quan đến lưu ký chứng khoán như phí
tự doanh yêu cầu vốn điều lệ lớn thứ hai chỉ sau hoạt động bảo lãnh phát hành
13
là 165 tỷ đồng. Song hoạt động này có thể mang về những khoản lợi nhuận rất
lớn cho công ty.
Theo Quy chế tổ chức và hoạt động của các CTCK, được Bộ Tài chính
ban hành theo quyết định số 27/2007/QĐ-BTC, các CTCK phải đảm bảo có
đủ tiền và chứng khoán để thanh toán các lệnh giao dịch của chính mình. Khi
tiến hành hoạt động tự doanh, CTCK không được:
- Đầu tư vào cổ phiếu của công ty có sở hữu trên 50% vốn
điều lệ của CTCK.
- Đầu tư quá 20% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một
tổ chức niêm yết.
- Đầu tư quá 15% số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ
chức không niêm yết.
Hoạt động tự doanh được thực hiện trên thị trường tập trung như Sở
giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán hay có thể ở trên
thị trường OTC. Trên thị trường giao dịch tập trung, lệnh giao dịch của các
CTCK đưa vào hệ thống và được thực hiện như lệnh của khách hàng. Trên thị
trường phi tập trung, CTCK có thể thực hiện giao dịch trực tiếp với đối tác
hoặc thông qua hệ thống mạng thông tin. Ở một số nước, hoạt động tự doanh
của CTCK còn được thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường. Trong
hoạt động này, với vai trò là nhà tạo lập thị trường, CTCK nắm giữ một số
lượng nhất định của một số loại chứng khoán và thực hiện giao dịch với
khách hàng nhằm hưởng phí và chênh lệch giá.
1.2.1.2. Đặc điểm của hoạt động tự doanh
CTCK là một định chế tài chính trung gian, thực hiện các nghiệp vụ
trên TTCK. Do đó, hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán của các
CTCK thực hiện có những đặc điểm khác biệt so với các chủ thể kinh doanh
khác trên thị trường.
Hoạt động tự doanh của CTCK mang tính chuyên nghiệp cao. Tính
Đối với CTCK
15
+ Mang lại lợi nhuận cho CTCK
Đây là một vai trò quan trọng của hoạt động tự doanh đối với CTCK.
Thông qua tài khoản của họ, các CTCK thực hiện việc mua bán chứng khoán
nhằm thu lợi cho chính mình.Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chứng khoán
thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi nhuận của CTCK. Trong các hoạt
động còn lại của CTCK hầu như là cung cấp các dịch vụ từ đó nhận phí hoặc
hoa hồng từ khách hàng, chỉ riêng hoạt động tự doanh là sử dụng nguồn vốn
của công ty để kinh doanh và tạo ra lợi nhuận.
+ Hỗ trợ các hoạt động khác của công ty phát triển
Trên TTCK, mỗi CTCK có một thế mạnh khác nhau, tuy nhiên rất khó
có một công ty nào có thể phát triển tốt được các mảng dịch vụ mà mảng tự
doanh lại của công ty lại không đạt kết quả cao. Do đó, một CTCK có hoạt
động tự doanh phát triển thường thúc đẩy các hoạt động nghiệp vụ phát triển.
Bên cạnh đó, nó còn là một hình thức quảng cáo tốt cho tính chuyên nghiệp
và khả năng phân tích của công ty.
Đối với TTCK
+ Tăng quy mô vốn trên thị trường
Tuỳ thuộc vào quy mô và chiến lược đầu tư mà mỗi CTCK có một hạn
mức đầu tư và kinh doanh chứng khoán khác nhau. Tuy nhiên, lượng vốn mà
các CTCK đổ vào thị trường là con số không nhỏ so với các nhà đầu tư riêng
lẻ. Điều đó giúp tăng quy mô giao dịch và nâng cao giá trị vốn hoá trên
TTCK.
+ Nâng cao chất lượng đầu tư trên thị trường
CTCK là tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực chứng khoán, đầu tư
theo quy trình và phân tích có bài bản. Do đó, trên thị trường càng nhiều
CTCK thực hiện hoạt động tự doanh thì lối đầu tư theo số đông sẽ dần được
thay thế bởi một cách thức đầu tư có sự phân tích và chuyên nghiệp hơn. Có
như vậy thị trường mới có thể phát triển bền vững và ổn định được.
+ Đầu cơ chứng khoán
17
Khi nhắc đến từ “đầu cơ”, hầu như mọi người đều nghĩ ngay đến những
hoạt động bất hợp pháp, lừa dối, hay chí ít cũng mang hơi hám tham lam, chê
trách. Ngay cả giới quản lý cũng thích đưa ra những ý kiến theo hướng đổ lỗi
cho dân đầu cơ khi giải thích một số hiện tượng không kiểm soát được giá cả
trong thời gian qua. Đầu cơ có nhiều mức độ. Nếu xem xét nó như một hoạt
động kinh tế thuần túy, nó chỉ là sự cân nhắc giữa rủi ro và lợi nhuận, người
đầu cơ là người chấp nhận rủi ro cao hơn để trông chờ lợi nhuận lớn hơn. Ở
đây yếu tố chấp nhận rủi ro và nguồn lực tài chính đóng vai trò quan trọng.
Giả sử giá không lên như nhà đầu cơ dự đoán, anh ta sẽ phải chịu lỗ nặng, kể
cả mất cơ hội dùng tiền vào hoạt động kinh doanh khác nhưng họ lại được
nhận những khoản lợi nhuận khổng lồ nếu dự tính của nhà đầu tư chính xác.
Cơ sở đầu tư của họ là: Tại một thời điểm trong tương lai giá cổ phiếu sẽ tăng
so với giá hiện tại. Do đó, nhà đầu cơ sẽ mua chứng khoán nhưng không bán
mà tích trữ ngày càng nhiều và bán ra khi chứng khoán tăng lên cao nhằm gây
ra cơn sốt giá chứng khoán và nhà đầu cơ sẽ kiếm được một khoản lợi nhuận
lớn.
+ Đầu tư phòng vệ:
Khi tham gia vào TTCK, để bảo vệ mình trước những biến động bất
thường của thị trường, các CTCK cũng như nhà đầu tư có thể sử dụng các
công cụ phòng vệ để tự bảo vệ mình. Các công cụ đó có là: các hợp đồng
tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn... Các công cụ này sẽ góp
phần bảo vệ nhà đầu tư trước những biến động theo hướng không thuận lợi
của giá chứng khoán.
+ Hoạt động đầu tư giảm giá
Đầu tư giảm giá là hoạt động khi nhà đầu tư dự tính giá chứng khoán
có thể xuốn thấp, do đó, nhà đầu tư sẽ vay chứng khoán sau đó bán đi ( hoạt
động này gọi là bán khống) và đến thời điểm hoàn trả chứng khoán thì thực
hiện mua chứng khoán vào với giá thị trường (thường là giá thấp hơn giá đã
đầu tư thực hiện giao dịch đông đảo.
19
1.2.1.5. Mô hình tổ chức hoạt động tự doanh chứng khoán
Hoạt động tự doanh chứng khoán được thực hiện dưới hai mô hình tổ
chức sau:
+ Mô hình hai cấp
Đây là mô hình trong đó trưởng phòng đầu tư hay trưởng phòng tự
doanh sẽ là người trực tiếp điều hành hoạt động đầu tư, quyết định danh mục
đầu tư và các chính sách đầu tư. Hoạt động tự doanh của công ty được chia
thành hoạt động tự doanh về cổ phiếu trên thị trường niêm yết và chưa niêm
yết, tự doanh trái phiếu, nghiệp vụ repo chứng khoán. Mỗi mảng đó sẽ do một
nhóm các cán bộ tự doanh phụ trách dưới sự quản lý chung của trưởng phòng
tự doanh. Từng nhóm sẽ phải có trách nhiệm phân tích, nghiên cứu và đề
xuất ra các phương án đầu tư. Các phương án sẽ được trưởng phòng xem xét,
đưa ra ý kiến và quyết định có thực hiện hay không. Giám đốc của Công ty là
người quản lý chung và thẩm định kết quả đầu tư của phòng tự doanh. Ngoài
ra, khi thực hiện hoạt động đầu tư còn chịu sự giám sát của Ban kiểm soát
nhằm bảo đảm an toàn cho hoạt động của công ty.
Đặc điểm của mô hình này là gọn nhẹ, nâng cao tính độc lập và trách
nhiệm của các cán bộ tự doanh trong hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng
khoán. Tuy nhiên, với mô hình này, tính chủ quan của trưởng phòng đầu tư
ảnh hưởng rất nhiều đến các quyết định cũng như hiệu quả đầu tư, vì vậy đòi
hỏi một cơ chế giám sát chặt chẽ của CTCK.
Sơ đồ 1.2.1: Mô hình tự doanh hai cấp
Phòng đầu tư (tự doanh) Ban kiểm soát
TD cổ phiếu
niêm yết (SGD)
TD cổ phiếu
chưa niêm yết
Tự doanh trái
Ban kiểm soát
21
Hội đồng đầu tư
1.3. Phát triển hoạt động tự doanh của CTCK
1.3.1. Khái niệm
Phát triển hoạt động tự doanh của CTCK là việc tạo điều kiện để hoạt
động tự doanh của công ty tăng cả về mặt chất lượng và số lượng.
Tăng về mặt chất lượng là việc đưa ra những danh mục đầu tư hợp lý
thông qua những phân tích có căn cứ khoa học thông qua đó giúp công ty đạt
được mục tiêu của mình trong hoạt động tự doanh.
Tăng về số lượng ở đây bao gồm sự tăng về quy mô vốn của hoạt động
tự doanh, doanh thu do đó lợi nhuận thu về của hoạt động tự doanh sẽ tăng
theo.
1.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của hoạt động tự doanh
Về mặt định tính
• Mức độ chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa trong hoạt động đầu tư
• Khả năng linh hoạt trong hoạt động
• Mức độ đa dạng hóa trong hoạt động
Về mặt định lượng
• Quy mô của hoạt động tự doanh bao gồm:
Vốn đầu tư cho hoạt động tự doanh
Doanh số mua, bán chứng khoán
Thu lãi từ hoạt dộng tự doanh
• Sự phát triển về quy mô được thể hiện ở mức độ tăng trưởng
• Số lượng chứng khoán trong danh mục
• Phương thức đầu tư
Với mỗi phương án đầu tư khác nhau, các tiêu chí và thứ tự ưu tiên mà
HBBS sử dụng là khác nhau. Tuy nhiên, dù dựa trên tập hợp các tiêu chí nào
thì tín an toàn luôn được HBBS quan tâm nhất.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tự doanh của CTCK
23
+ Quy trình tự doanh:
Quy trình tự doanh là một quy trình trong đó có phân bổ trách nhiệm,
công việc, quyền hạn và lợi ích của từng cán bộ thực hiện kinh doanh, đầu tư
chứng khoán và những đối tượng khác có liên quan, đồng thời quy định chính
sách giám sát kiểm tra hoạt động đầu tư của công ty. Quy trình tự doanh có
ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động đầu tư của CTCK. Thật vậy, nếu
quy trình tự doanh không chặt chẽ, logic, bị trùng lắp thì rất dễ dẫn tới sự lãng
phí nguồn nhân lực, thời gian và tiền bạc. Đặc biệt trong quy trình tự doanh
không quy định rõ ràng những loại cổ phiếu thuộc thẩm quyền giao dịch của
cán bộ tự doanh nào thì có thể sẽ dẫn đến việc một người thực hiện mua
chứng khoán và người kia lại mua chứng khoán, và gây khó khắn trong công
tác kiểm soát rủi ro. Do đó, khi công ty xây dựng được một quy trình đầu tư
chứng khoán chặt chẽ, khoa học thì từng cán bộ tự doanh cũng như các cấp ra
quyết định mới nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình, từ đó mới có
thể nâng cao được hiệu quả của hoạt động tự doanh.
Quy trình phân tích thuộc quy trình tự doanh là một yếu tố rất quan
trọng ảnh hưởng đến hoạt động tự doanh chứng khoán của CTCK. Đây là các
bước được sắp xếp một cách logic giúp các cán bộ tự doanh đưa ra quyết định
đầu tư, mua hoặc bán loại cổ phiếu nào đó một cách thích hợp nhất. Nếu
không có quy trình phân tích cụ thể mà chỉ dựa vào ý chủ quan của cán bộ tự
doanh thì hoạt động kinh doanh sẽ kém hiệu quả, nghiêm trọng hơn có thể
gây ra những tổn thất cho CTCK
+ Yếu tố nhân lực
Đây là một nhân tố không thể thiếu và được coi là có vấn đề có ý nghĩa
sống còn của các CTCK nói chung và hoạt động tự doanh nói riêng. Đối với
mảng tự doanh của CTCK, yếu tố nhân lực được nói đến ở đây bao gồm khả
năng, trình độ chuyên môn của các nhân viên thực hiện tự doanh và cơ cấu tổ
chức hoạt động, phân bổ công việc tại phòng tự doanh của CTCK. Người cán
bộ tự doanh không chỉ có những kiến thức về tài chính, có khả năng phân tích
25